TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH Bản án số: 79/2024/HS-PT Ngày: 29 - 10 - 2024 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc - |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Viết Hải
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Xuân Diệu và bà Từ Thị Hải Dương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 10 năm 2024, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình mở phiên toà xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 112/2024/TLPT-HS ngày 03 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Lê Văn V, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 68/2024/HS-ST ngày 29/8/2024 của Toà án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.
Bị cáo có kháng cáo:
Lê Văn V, sinh ngày 27/12/1990 tại B, Quảng Bình; nơi cư trú: tổ dân phố H, thị trấn P, huyện B, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Quý L và bà Nguyễn Thị Đ; có vợ Lê Đoàn Anh T và 01 người con, sinh năm 2019; tiền án: không; tiền sự: có 01 tiền sự, ngày 21/12/2023 bị Công an xã T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”; về nhân thân: Năm 2012, bị Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình xử phạt 07 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, chấp hành án xong ngày 30/5/2023; bị cáo bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q từ ngày 08/5/2024 cho đến nay, có mặt.
Trong vụ án còn có bị hại Công ty Cổ phần 412 thuộc Tổng Công ty C, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Hoàng Thị T1 nhưng không có kháng cáo, án sơ thẩm không bị kháng nghị nên Toà án không triệu tập tham gia phiên toà phúc thẩm.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ ngày 30/3/2024, Lê Văn V điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 73F1-403.82 đi theo tuyến đường H từ P - Đ. Khi đến địa phận tổ dân phố H, thị trấn N, huyện B thấy khu vực đang thi công tuyến cao tốc của Công ty Cổ phần D (thuộc tổng Công ty C) đang trong giờ nghĩ trưa không có người trông coi. V đi vào lấy trộm 23 thanh thép, loại thép vằn phi 25, trọng lượng 100kg (mỗi thanh thép có chiều dài từ 01 mét đến 1,4 mét trên các thanh có ghi các số liệu về quy cách kỹ thuật CB4-d25) và 100 cóc nối thép loại D25-32, trọng lượng 59kg để lên xe mô tô chở về bán cho chị Hoàng Thị T1, với giá 1.200.000 đồng. Số tiền này V đã tiêu xài cá nhân hết.
Tại bản Kết luận định giá số: 13/KL-HĐĐGTS ngày 12/4/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện B kết luận: 23 thanh thép có giá trị 1.580.000 đồng; 100 cóc nối thép có giá trị 2.000.000 đồng. Tổng trị giá tài sản V chiếm đoạt là 3.580.000 đồng (Ba triệu năm trăm tám mươi nghìn đồng).
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ và trả lại cho Công ty Cổ phần D, 23 thanh thép, loại thép vằn phi 25, trọng lượng 100kg (mỗi thanh thép có chiều dài từ 01 mét đến 1,4 mét), 100 cóc nối thép loại D25-32, trọng lượng 59kg. Tiếp tục tạm giữ 01 xe môtô AIR BLADE, BKS 73F1-403.82.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Công ty Cổ phần D đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Hoàng Thị T1 đã nhận bồi thường, số tiền 1.200.000 đồng nên không ai có yêu cầu gì thêm.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 68/2024/HS-ST ngày 29/8/2024 của Toà án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình đã quyết định. Tuyên bố bị cáo Lê Văn V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; các điểm b, h, s khoản 1 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử phạt bị cáo Lê Văn V 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tính từ ngày tạm giam ngày 08/5/2024.
Ngoài ra bản án còn tuyên xử lý vật chứng, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm, tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo.
Ngày 04/9/2024, bị cáo Lê Văn V kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm
Bị cáo Lê Văn V thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố và Bản án sơ thẩm đã quyết định. Bị cáo giữ nguyên kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt, vì cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo mức hình phạt như vậy là quá cao, nên mong Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm về với gia đình và hòa nhập cộng đồng. Bị cáo bổ sung kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trả lại xe mô tô AIR BLADE, BKS 73F1-403.82 cho bị cáo để sau khi bị cáo chấp hành hình phạt xong có phương tiện đi lại phục vụ cuộc sống hàng ngày của bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình phát biểu quan điểm: Về tố tụng: những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 09 tháng tù là phù hợp và tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của bị cáo. Tại phiên tòa bị cáo không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ mới có ý nghĩa cho việc xem xét giảm nhẹ hình phạt, nên không có căn cứ xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đối với xe mô tô AIR BLADE, BKS 73F1-403.82 đây là xe mô tô của bị cáo, bị cáo đã sử dụng làm phương tiện phạm tội, nên Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu sung công quỹ Nhà nước là có căn cứ. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Văn V, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 68/2024/HS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình về phần hình phạt và xử lý vật chứng xe mô tô AIR BLADE, BKS 73F1-403.82 đối với bị cáo. Kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo và kháng cáo bổ sung tại phiên tòa của bị cáo Lê Văn V làm trong hạn luật định, đảm bảo về người kháng cáo, thời hạn, hình thức, nội dung kháng cáo theo quy định tại các Điều 331, 332, 333, 342 Bộ luật tố tụng hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét nội dung kháng cáo của bị cáo theo trình tự, thủ tục phúc thẩm.
Xét các hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm đều hợp pháp. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo xác định trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử vụ án tại cấp sơ thẩm, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng tại cấp sơ thẩm.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, đúng như Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, tang vật bị thu giữ cũng như các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập tại hồ sơ vụ án được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa. Vì vậy, Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ ngày 30/3/2024, bị cáo Lê Văn V điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 73F1-403.82 của mình đi theo tuyến đường H từ P - Đ. Khi đến địa phận tổ dân phố H, thị trấn N, huyện B thấy khu vực đang thi công tuyến cao tốc của Công ty Cổ phần D (thuộc tổng Công ty C) đang trong giờ nghĩ trưa không có người trông coi. Bị cáo lợi dụng sự sơ hở của Công ty Cổ phần D trong việc quản lý, trông coi tài sản đã lén lút lấy trộm 23 thanh thép, loại thép vằn phi 25, trọng lượng 100kg, giá trị 1.580.000 đồng và 100 cóc nối thép loại D25-32, trọng lượng 59kg, giá trị 2.000.000 đồng. Tổng trị giá tài sản bị cáo chiếm đoạt là 3.580.000 đồng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của Công ty Cổ phần D được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội. Vì vậy, Hội đồng xét xử sơ thẩm đã tuyên bố bị cáo Lê Văn V phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử sơ thẩm đã xem xét bị cáo là người có tiền sự, ngày 21/12/2023 bị Công an xã T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” và có nhân thân xấu, năm 2012 bị Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình xử phạt 07 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; đã tác động với gia đình để bồi thường cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, nên đã căn cứ các điểm b, h, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, để xử phạt bị cáo mức hình phạt 09 (chín) tháng tù là có căn cứ, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm xử mức hình phạt đối với bị cáo 09 tháng tù là cao, nhưng trong quá trình xét xử phúc thẩm và tại phiên tòa bị cáo không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ mới có ý nghĩa cho việc xem xét giảm nhẹ hình phạt, nên không có căn cứ xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.
Đối với kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trả lại xe mô tô AIR BLADE, BKS 73F1-403.82 cho bị cáo thấy: xe mô tô AIR BLADE, BKS 73F1-403.82 là thuộc quyền sở hữu của bị cáo, nhưng bị cáo đã sử dụng làm phương tiện chở tài sản trộm cắp và đưa tài sản trộm cắp đi tiêu thụ, cấp sơ thẩm đã tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước là có căn cứ, phù hợp với quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, nên không có căn cứ để trả lại cho bị cáo.
Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Văn V. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 68/2024/HS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình về phần hình phạt và xử lý vật chứng.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[5] Về án phí: Kháng cáo của bị cáo không được Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận, nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 173; các điểm b, h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Tuyên xử:
- Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Văn V. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 68/2024/HS-ST ngày 29/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.
- Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 xe mô tô màu đen, nhãn hiệu AIR BLADE gắn BKS 73F1-403.82 (có đặc điểm như mô tả tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/7/2024 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bố Trạch).
- Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Lê Văn V phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.
- Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Xử phạt bị cáo Lê Văn V 09 (Chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 08/5/2024.
Tiếp tục tạm giam bị cáo Lê Văn V theo Quyết định tạm giam số 177/2024/HSPT-QĐTG ngày 07/10/2024 của Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình để đảm bảo thi hành án.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA đã ký Dương Viết Hải |
Bản án số 79/2024/HS-PT ngày 29/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH về trộm cắp tài sản (hình sự phúc thẩm)
- Số bản án: 79/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự phúc thẩm)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 29/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo
