Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CAO LÃNH

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 79/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 19-7-2024

V/v: Tranh chấp xin ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Trường Chinh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phạm Phước Tâm.
  2. Bà Võ Thị Điệp.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Lợi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

Ngày 19 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cao Lãnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 137/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp xin ly hôn, nuôi con”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 471/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 301A/2024/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Dương Thị Bích N, sinh năm 1982; Địa chỉ: Ấp T, xã M, huyện C, Đồng Tháp.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh N1, sinh năm 1980; Địa chỉ: Ấp T, xã M, huyện C, Đồng Tháp.

(Chị N có đơn xin xét xử vắng mặt, anh N1 vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo Đơn khởi kiện đề ngày 11/3/2024, đơn khởi kiện bổ sung ngày 04/3/2024 và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn chị Dương Thị Bích N trình bày như sau:

- Về hôn nhân: Chị N và anh N1 tổ chức đám cưới vào năm 2003 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp vào ngày 14/01/2005. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng sau này thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung. Thời gian gần đây thì anh N1 còn ra tay đánh đập chị N và các con làm cho chị. Nay do tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị N yêu cầu xin ly hôn với anh N1.

- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Dương Bích N2, sinh ngày 15/8/2005 và Nguyễn Dương Thanh N3, sinh ngày 20/3/2013. Khi ly hôn, chị N yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Dương Thanh N3, không yêu cầu anh N1 cấp dưỡng nuôi con. Đối với con chung Nguyễn Dương Bích N2 đã trưởng thành và tự lập, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Vợ chồng không có nợ ai và cũng không cho ai nợ.

* Bị đơn Nguyễn Thanh N1 đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo kết quả phiên họp; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa cùng các giấy triệu tập hợp lệ nhưng đều không có văn bản ý kiến gửi cho Tòa án đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và cũng không tham gia các phiên họp, phiên hòa giải cũng như phiên tòa xét xử của Tòa án. Vì vậy, Tòa án không ghi nhận được ý kiến của anh N1.

* Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án do nguyên đơn giao nộp bao gồm: Giấy CCCD Dương Thị Bích N (photo), Giấy chứng nhận kết hôn (bản chính), 02 giấy khai sinh Nguyễn Dương Bích N2, Nguyễn Dương Thanh N3 (bản sao), Bản tự khai ngày 11/6/2024 của Nguyễn Dương Thanh N3 (bản chính), Đơn yêu cầu không hòa giải, yêu cầu đưa vụ án ra xét xử (bản chính), Đơn xin xét xử vắng mặt (bản chính). Ngoài ra không còn tài liệu, chứng cứ nào khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc xin ly hôn, nuôi con chung và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn, nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về thẩm quyền giải quyết: Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện. Bị đơn anh Nguyễn Thanh N1 hiện đang cư trú tại ấp T, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về việc vắng mặt của các đương sự tại phiên tòa: Bị đơn anh Nguyễn Thanh N1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do, nguyên đơn chị Dương Thị Bích N có đơn xin xét xử vắng mặt; căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt đối với chị N và anh N1.

[4] Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc xin ly hôn với anh Nguyễn Thanh N1 và được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, Hội đồng xét xử nhận định:

[5] Căn cứ Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số I, quyển số I, ngày 14/01/2005 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp đã thể hiện anh Nguyễn Thanh N1 và chị Dương Thị Bích N có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T vào ngày 14/01/2005, như vậy đã có đủ cơ sở xác định mối quan hệ hôn nhân của anh N1 và chị Nghĩa 1 hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

[6] Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành giải thích, hòa giải, động viên đương sự đoàn tụ gia đình, hàn gắn tình cảm vợ chồng. Tuy nhiên, chị N cho rằng mâu thuẫn vợ chồng đã trở nên trầm trọng, vợ chồng đã không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau nên tình cảm vợ chồng cũng không còn, không thể đoàn tụ được; do đó, chị N giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với anh N1. Đối với bị đơn anh Nguyễn Thanh N1 đã được Tòa án triệu tập đến tham gia phiên hòa giải cũng như phiên tòa sơ thẩm nhưng anh N1 không tham dự, chứng tỏ anh N1 đã bỏ mặc và không còn quan tâm đến quyền và nghĩa vụ của mình trong mối quan hệ với chị N.

[7] Hội đồng xét xử nhận thấy quan hệ hôn nhân giữa chị N và anh N1 có tồn tại mâu thuẫn, cuộc sống chung không còn hạnh phúc, không đạt được mục đích như quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình nên không thể kéo dài. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, yêu cầu của chị N về việc xin ly hôn với anh N1 là có cơ sở nên chấp nhận.

[8] Về con chung: Chị N xác định giữa chị và anh N1 có 02 con chung tên Nguyễn Dương Bích N2 - sinh ngày 15/8/2005 và Nguyễn Dương Thanh N3 - sinh ngày 20/3/2013. Đối với con chung Nguyễn Dương Bích N2 đã trưởng thành nên chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết. Riêng con chung Nguyễn Dương Thanh N3 thì chị N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng; xét thấy, con chung Nguyễn Dương T đang sống chung với chị N, được đảm bảo cuộc sống ổn định về tinh thần lẫn vật chất, đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung. Ngoài ra cháu N3 có văn bản ý kiến có nguyện vọng sống với mẹ khi vợ chồng ly hôn. Bởi lẽ đó, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở để chấp nhận yêu cầu của chị N; giao con chung Nguyễn Dương Thanh N3 - sinh ngày 20/3/2013 cho chị Dương Thị Bích N được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Nguyễn Thanh N1 có quyền và nghĩa vụ đến thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

[9] Về cấp dưỡng nuôi con: Theo quy định tại khoản 2 Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình, người không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cấp dưỡng cho con. Đây là nghĩa vụ của cha, mẹ đối với con; do đó, không phân biệt người trực tiếp nuôi con có khả năng kinh tế hay không, người không trực tiếp nuôi con vẫn phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên, chị N1 không yêu cầu anh N1 phải cấp dưỡng nuôi con; do đó, Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét.

[10] Về tài sản chung và nợ chung: Chị N1 xác định vợ chồng không có tài sản chung cũng như nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[11] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; chị Dương Thị Bích N phải chịu tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 9, Điều 19, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của chị Dương Thị Bích N.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Dương Thị Bích N được ly hôn với anh Nguyễn Thanh N1.
  2. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Dương Thanh N3 - sinh ngày 20/3/2013 cho chị Dương Thị Bích N được trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Thanh N1 không phải cấp dưỡng nuôi con do chị N không có yêu cầu. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.
  3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị N xác định không có và không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét.
  4. Về án phí: Chị Dương Thị Bích N phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị N đã nộp theo biên lai thu số 0008456 ngày 02/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp. Như vậy, chị Dương Thị Bích N đã nộp xong án phí.
  5. Về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án và thời hiệu thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Tòa án tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKS HCL;
  • - Các đương sự;
  • - CCTHADS HCL;
  • - Ủy ban xã Tân Hội Trung;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Trường Chinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 79/2024/HNGĐ-ST ngày 19/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp xin ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 79/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xin ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Dương Thị Bích Nghĩa được ly hôn với anh Nguyễn Thanh Nguyên. 2. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Dương Thanh Nhàn - sinh ngày 20/3/2013 cho chị Dương Thị Bích Nghĩa được trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Thanh Nguyên không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Nghĩa không có yêu cầu. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. 3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nghĩa xác định không có và không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger