|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 79/2024/HS-ST Ngày: 29 – 5 – 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lý
- Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Nguyễn Thị An
- Bà Tô Thị Thanh Tâm
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Quỳnh Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 77/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Trần Thị M, sinh ngày 10/02/1990; Nơi cư trú: Số nhà C, ngõ B, đường L, tổ A, phường K, thành phố T, tỉnh Thái Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ tên cha: Trần Văn Q (đã chết); Họ tên mẹ: Nguyễn Thị B; Có chồng là Trần Quang H; Có 3 con, con lớn nhất sinh năm 2011, con nhỏ nhất sinh năm 2015.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị tạm giữ từ ngày 26/02/2024 đến ngày 03/3/2024 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. (có mặt)
Người chứng kiến:
- + Bà Trần Thị D, sinh năm 1974. (vắng mặt)
- Nơi cư trú: Số nhà I, ngõ G, đường Đ, tổ F, phường B, thành phố T, tỉnh Thái Bình.
- + Bà Bùi Thị H1, sinh năm 1955. (vắng mặt)
- Nơi cư trú: Số nhà H, ngõ G, đường Đ, tổ G, phường B, thành phố T, tỉnh Thái Bình.
- + Ông Bùi Thọ T, sinh năm: 1958. (vắng mặt)
- Nơi cư trú: Số nhà A, ngõ F, đường N, tổ A, phường K, thành phố T, tỉnh Thái Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ ngày 26/02/2024, Trần Thị M điều khiển xe máy điện nhãn hiệu Dibao màu đỏ không gắn biển số từ nhà đến khu vực cầu C, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Bình mục đích mua ma túy để bán kiếm lời. Tại đây, M gặp và mua của một người phụ nữ khoảng 40 tuổi không biết tên, địa chỉ 01 túi ma túy đá với giá 300.000 đồng và 01 viên ma túy kẹo với giá 200.000 đồng, M cất ma túy vào túi quần bên phải phía trước rồi điều khiển xe máy điện đi về nhà. Mít cất 01 túi ni lon có viên ma túy kẹo ở giá sắt để đồ cạnh giường ngủ của M ở tầng một. Khoảng 20 giờ 15 phút cùng ngày, M điều khiển xe máy điện Dibao màu đỏ đi trong ngõ C, đường L, tổ A, phường K, thành phố T, tỉnh Thái Bình tìm khách để bán ma túy thì bị tổ công tác phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh T phối hợp với Công an phường K, thành phố T, tỉnh Thái Bình phát hiện. Tại đây, trước sự chứng kiến của bà Trần Thị D và bà Bùi Thị H1, M tự giác lấy từ túi quần bên phải phía trước ra giao nộp cho tổ công tác 01 túi ni lon trong suốt có mép cài viền màu xanh bên trong có chứa chất dạng tinh thể trong suốt và khai nhận đó là ma túy đá của M mang đi tìm người mua để bán nhưng chưa kịp bán, kiểm tra người Mít thu tại túi quần bên phải phía trước 01 điện thoại Oppo màu đen đã cũ. Kiểm tra xe máy điện của M không phát hiện thu giữ gì. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và làm các thủ tục khác theo quy định của pháp luật.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Thị M tại số nhà C, ngõ B, đường L, tổ A, phường K, thành phố T, tỉnh Thái Bình đã thu giữ tại giá sắt để đồ cạnh giường ngủ tầng một 01 túi nilon trong suốt có mép cài viền màu đỏ bên trong có 01 viên nén màu xám.
Bản kết luận giám định số 277/KL-KTHS ngày 01/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Chất dạng tinh thể trong suốt niêm phong khi bắt quả tang gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,2508 gam.
Bản kết luận giám định số 278/KL-KTHS ngày 01/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: 01 viên nén màu xám niêm phong khi khám xét nơi ở của Trần Thị M gửi giám định là ma túy, loại MDMA, có khối lượng 0,2530 gam.
Bản Cáo trạng số 83/CT-VKSTPTB ngày 07 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Trần Thị M về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Thị M khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình giữ nguyên quan điểm đã truy tố trong bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Trần Thị M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Thị M mức án từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 09 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ.
Phạt bổ sung bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy hoàn lại sau giám định được niêm phong trong 02 phong bì bên ngoài ghi số 277/KL-KTHS và 278/KL-KTHS.
Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động Oppo vỏ màu đen và 01 xe máy điện nhãn hiệu Dibao màu đỏ không gắn biển số, đều đã qua sử dụng.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình đã truy tố và không có ý kiến tranh luận đối với bản luận tội của Kiểm sát viên.
Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Trần Thị M khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong vật chứng, kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 20 giờ 15 phút ngày 26/2/2024, tại khu vực ngõ C, đường L, tổ A, phường K, thành phố T, tỉnh Thái Bình, Trần Thị M có hành vi tàng trữ trái phép 0,2508 gam ma túy, loại Methamphetamine, khám xét nhà ở của Trần Thị M tại số nhà C, ngõ B, đường L, tổ A, phường K, thành phố T, tỉnh Thái Bình thu giữ 0,2530 gam MDMA, đều có mục đích để bán kiếm lời.
Hành vi trên của Trần Thị M đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự:
Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy:
1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
. . . . .
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Hành vi của Trần Thị M là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quy định quản lý chất gây nghiện của Nhà nước, ma túy là loại chất gây nghiện gây tác hại xấu cho sức khỏe con người, là nguyên nhân phá hoại hạnh phúc của bao gia đình và còn phát sinh các tệ nạn xã hội khác, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội. Bản thân bị cáo là người đã thành niên, nhận thức đầy đủ về tính chất nguy hiểm cũng như hậu quả của hành vi do mình thực hiện nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm.
[3] Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình truy tố đối với bị cáo Trần Thị M về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để cải tạo, giáo dục bị cáo, góp phần đấu tranh phòng ngừa chung.
[6] Bị cáo Trần Thị M bán ma túy với mục đích kiếm lời nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
[7] Về xử lý vật chứng: Theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Số ma túy còn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động Oppo vỏ màu đen và 01 xe máy điện Dibao màu đỏ không gắn biển số, đã qua sử dụng là tài sản hợp pháp của bị cáo, do đó trả lại cho bị cáo.
[8] Về nguồn gốc số ma túy: Bị cáo Trần Thị M khai mua của một người phụ nữ khoảng 40 tuổi không biết tên, địa chỉ tại khu V, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Bình nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T không đủ căn cứ để xử lý.
[9] Về án phí: Bị cáo Trần Thị M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47, Điều 50 Bộ luật Hình sự, Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Thị M phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý".
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Thị M 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 26/02/2024).
Phạt bổ sung bị cáo 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) sung vào ngân sách Nhà nước.
3.Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy hoàn lại sau giám định được niêm phong trong 02 phong bì bên ngoài ghi số 277/KL-KTHS và 278/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh T.
Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo vỏ màu đen và 01 xe máy điện nhãn hiệu Dibao màu đỏ không gắn biển số, đều đã qua sử dụng.
(Các vật chứng, tài sản trên đã được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 07/5/2024).
4. Về án phí: Bị cáo Trần Thị M phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Lý |
Bản án số 79/2024/HS-ST ngày 29/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 79/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,2508 gam
