TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 79/2024/HNGĐ-ST Ngày: 27/9/2024 “V/v tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Lê Chí Công
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hồ Thị Hoa
- Ông Lưu Văn Bình
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Ý - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 35/2024/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 02 năm 2024 về việc tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 159/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 07 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1973. Địa chỉ: khu phố B, thị trấn T, huyện A, tỉnh Kiên Giang. Nơi ở hiện nay: ấp C, xã A, huyện U, tỉnh Kiên Giang (có mặt).
- Bị đơn: Bà Trần Thị Tuyết K, sinh năm 1972. Địa chỉ: khu phố B, thị trấn T, huyện A, tỉnh Kiên Giang (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 02/01/2024 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn ông Nguyễn Văn H trình bày và yêu cầu như sau:
Ông và bà Kiều C nhau năm 1994, có đăng ký kết hôn và được UBND thị trấn Thứ 11, huyện A, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn. Vợ chồng chung sống thật sự hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hòa hợp về quan điểm sống nên thường xảy ra cự cãi, bà K luôn ghen tuông vô cớ, không tôn trọng ông trước mặt mọi người, lúc nào cũng có ý định hành hung ông. Ông đã cố gắng nhẫn nhịn một thời gian dài nhưng bà K vẫn không thay đổi, nhiều lần đến nơi làm việc của ông để gây rối nên đã ly thân hơn 01 năm nay. Hiện nay ông và bà K không thể hàn gắn được nữa nên xin được ly hôn với bà K.
Về con: Vợ chồng có 02 đứa con chung tên Nguyễn Thị Tuyết N, sinh năm 1995 (đã có gia đình và sống riêng) và Nguyễn Thế H1, sinh năm 1998 (hiện sống chung trong gia đình).
Về tài sản chung và nợ chung: Hiện ông và bà K không tranh chấp.
Nay yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Về quan hệ hôn nhân: Xin ly hôn với bà Trần Thị Tuyết K.
- Về quan hệ nuôi con chung: Các con đã thành niên, tự lao động sinh sống được nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Hiện không tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại văn bản trình bày ý kiến ngày 12/3/2024 và trong quá trình tố tụng, bị đơn bà Trần Thị Tuyết K trình bày như sau:
Bà và ông H cưới nhau năm 1994, ông bà có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện A cấp giấy chứng nhận kết hôn. Sau khi cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian dài, đến năm 2005 ông bà phát sinh mâu thuẫn, do bà phát hiện ông H có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác, bà đã nhiều lần khuyên ngăn và cơ quan cũng nhiều lần làm việc với ông H nhưng ông vẫn không thay đổi, nên ông bà đã ly thân từ tháng 5/2023 cho đến nay.
Bà và ông H có 02 đứa con chung, họ tên, ngày tháng năm sinh của con là đúng như ông H trình bày. Hiện nay vợ chồng không tranh chấp về tài sản chung và nợ chung.
Nay theo yêu cầu của ông Nguyễn Văn H, bà có ý kiến như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà không đồng ý ly hôn với ông Nguyễn Văn H, bởi vì hiện nay con trai của ông bà là Nguyễn Thế H1 vẫn chưa lập gia đình, bà mong muốn khi con trai lập gia đình có cha mẹ đầy đủ nên không đồng ý ly hôn. Trường hợp Tòa án giải quyết cho ly hôn thì ý kiến của bà về con chung, tài sản chung và nợ chung như sau:
- Về quan hệ nuôi con chung: Các con đã thành niên, tự lao động sinh sống được nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Hiện vợ chồng không tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án thực hiện đầy đủ, đúng trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật tố tụng dân sự; từ khi thụ lý vụ án đến nay nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX cho ông Nguyễn Văn H được ly hôn với bà Trần Thị Tuyết K; về con chung, 02 con chung đã thành niên, tự lao động sinh sống được nên không xem xét giải quyết giao cho ai nuôi dưỡng; về tài sản và nợ không tranh chấp nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ hôn nhân, bà K và ông H chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện, ông bà cưới nhau năm 1994, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện A, tỉnh Kiên Giang cấp Giấy chứng nhận kết hôn năm 2007 nên là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[2] Về mâu thuẫn của vợ chồng: Nguyên đơn ông H cho rằng vợ chồng chung sống thật sự hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hòa hợp về quan điểm sống nên thường xảy ra cự cãi, bà K luôn ghen tuông vô cớ, không tôn trọng ông trước mặt mọi người, lúc nào cũng có ý định hành hung ông. Tuy bị đơn bà K không thống nhất nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn mà ông H trình bày nhưng bà cũng thừa nhận năm 2005 ông bà phát sinh mâu thuẫn, do bà phát hiện ông H có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác, bà đã nhiều lần khuyên ngăn và cơ quan cũng nhiều lần làm việc với ông H nhưng ông vẫn không thay đổi, nên ông bà đã ly thân từ tháng 5/2023 cho đến nay.
Tuy nguyên đơn ông H và bị đơn bà K không thống nhất được nguyên nhân dẫn đến vợ chồng mâu thuẫn, nhưng qua lời trình bày của ông bà, có đủ căn cứ để xác định trong thời kỳ hôn nhân giữa ông H và bà K đã xảy ra mâu thuẫn trong một thời gian dài, tuy ông bà đã cố gắng nhưng vẫn không thể khắc phục được, dẫn đến cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc nên đã ly thân hơn 01 năm nay, từ khi ly thân cho đến nay ông bà cũng không hàn gắn để vợ chồng quay về tiếp tục chung sống, xây dựng hạnh phúc gia đình. Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng ông H vẫn cương quyết xin được ly hôn với bà K, lý do bà K không đồng ý ly hôn với ông H là do con trai Nguyễn Thế H1 vẫn chưa lập gia đình, bà mong muốn khi con trai lập gia đình có cha mẹ đầy đủ nên không đồng ý ly hôn.
Thấy rằng, lý do bà K không đồng ý ly hôn không xuất phát từ việc còn tình cảm với ông H và mong muốn được hàn gắn để vợ chồng tiếp tục chung sống xây dựng hạnh phúc gia đình. Ông bà đã ly thân một thời gian, nhưng không thể khắc phục được mâu thuẫn, không có khả năng đoàn tụ để hàn gắn lại tình nghĩa vợ chồng, không còn sự quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, nên quan hệ hôn nhân không được đảm bảo theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình. Từ đó cho thấy giữa ông H và bà K mục đích hôn nhân đã không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, HĐXX căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xử cho ông H được ly hôn với bà K.
[3] Về con chung, ông H và bà K cùng thống nhất xác định, vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Thị Tuyết N, sinh năm 1995 (đã có gia đình và sống riêng) và Nguyễn Thế H1, sinh năm 1998 (hiện sống chung trong gia đình). Hiện nay các con đã thành niên, tự lao động sinh sống được nên khi ly hôn không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Thấy rằng, các con của ông H và bà K đã thành niên, tự lao động sinh sống được, ông H và bà K cũng không yêu cầu giải quyết vấn đề gì nên HĐXX không xem xét.
[4] Về tài sản chung và nợ chung, ông H và bà K thống nhất xác định hiện vợ chồng không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết, nên HĐXX không xem xét.
[5] Về án phí, nguyên đơn ông H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định là 300.000 đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 4 Điều 147, Điều 266, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 9, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa ông Nguyễn Văn H và bà Trần Thị Tuyết K.
- Về con chung, tài sản chung và nợ chung: HĐXX không xem xét.
- Về án phí: Ông Nguyễn Văn H chịu án phí dân sự sơ thẩm xin ly hôn là 300.000 đồng, khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng đã nộp tại biên lai thu số 0005166 ngày 21/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh, ông H đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự đều có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 27-9-2024)./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Chí Công |
Lê Chí Công
Bản án số 79/2024/HNGĐ-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 79/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn H_K
