|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 79/2024/HS-ST Ngày 27-8-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Dung
Các hội thẩm nhân dân:1. Ông Lương Ngọc Biên.
2. Bà Đinh Thị Thu Huyền.
- Thư ký phiên tòa: Ông Mông Anh Tuấn- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng. tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Mạnh- Kiểm sát viên.
Trong ngày 27/8/2024 tại Điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang; Điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh B.
Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 44/2023/TLST- HS ngày 12/8/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 84/2024/QĐXXST- HS ngày 16/8/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thị Bích T, sinh năm 1977; tên gọi khác: Không; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Thôn H, xã H, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 2/12; Đảng, đoàn thể: không; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn C (đã chết) và bà: Nguyễn Thị Thúy V, sinh năm 1950; gia đình có 02 chị em, bị cáo là con lớn nhất; chồng là: Đoàn Văn H (đã mất), có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2006, con nhỏ nhất sinh năm 2009.
- Tiền án:
Bản án số 100/HSST ngày 24/7/2001, Toà án nhân dân thị xã Bắc Giang (nay là thành phố B) xử phạt 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Phạt bổ sung 5.000.000đ, tịch thu 100.000₫ và 50.000đ án phí. T chưa chấp hành xong án phí và hình phạt bổ sung. Chấp hành xong án phạt tù ra trại ngày 23/6/2003.
- Tiền sự: Không
- Nhân thân:
+ Bản án số 188/2008/HSST ngày 21/11/2008 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xử phạt 36 tháng tù về tội "Môi giới mại dâm”. Phạt 2.000.000đ và 50.000đ án phí. T chấp hành án phí tiền phạt 29/4/2009.
+ Bản án số 216/2011/HSST ngày 29/9/2011, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xử phạt 3 năm 4 tháng tù về tội “Môi giới mại dâm”. Tổng hợp với bản án số 188 ngày 21/11/2008 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, buộc chấp hành chung của hai bản án là 06 năm 03 tháng 25 ngày tù. Phạt bổ sung 3.000.000đ và 200.000đ án phí. Chấp hành án phí, tiền phạt tháng 3/2012. Chấp hành xong án phạt tù ra trại ngày 31/8/2015.
+ Quyết định số 08 ngày 10/5/2016 của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B đình chỉ điều tra bị can đối với T về hành vi đánh bạc. Quyết định số 60 ngày 10/5/2016 của trưởng phòng C2 Công an tỉnh B xử phạt số tiền 350.000đ. T nộp tiền phạt ngày 16/5/2016.
Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/6/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh B. (Có mặt)
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- + Anh Hoàng Trung Đ, sinh năm 2005; địa chỉ: Thôn V, xã Q, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. (Vắng mặt)
- + Anh Trần Văn L, sinh năm 1994; địa chỉ: Thôn T, xã Q, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. (Vắng mặt)
- + Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1974; địa chỉ: Thôn D, xã H, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. (Vắng mặt)
- + Ông Phạm Văn K, sinh năm 1962; địa chỉ: Thôn D, xã H, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. (Vắng mặt)
- + Bà Nguyễn Ngọc T2, sinh năm 1971; địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. (Vắng mặt)
- + Anh Nguyễn Minh N, sinh năm 1999; địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 18 giờ ngày 15/6/2024, tại nhà ở của Nguyễn Thị Bích T, sinh năm 1977 ở thôn H, xã H, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y bắt quả tang Nguyễn Thị Bích T đang có hành vi đánh bạc dưới hình thức ghi số lô, số đề cho đối tượng Trần Văn L, sinh 1991 và Hoàng Trung Đ, sinh 2005 đều ở xã Q, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
Tang vật thu giữ: 01 bảng cáp đề ngày 15/6/2024 ghi trên giấy A4 màu trắng, một mặt có chữ số, chữ viết bằng mực màu xanh; 01 điện thoại Sam sung Galaxy A3 màu xanh; 01 bút bi nhựa màu xanh; 01 túi xách da màu đen, bên trong có 10.500.000₫ (BL25 – 27).
Cùng ngày 15/6/2024, tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Thị Bích T, Cơ quan điều tra phát hiện thu giữ số tiền 100.000.000đ trong két sắt ở trong phòng ngủ (BL32 - 33).
Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Thị Bích T khai nhận:
T ghi số lô, đề cho khách tại nhà và thu tiền của người chơi, sau đó tổng hợp ghi vào tờ giấy A4 gọi là cáp đề tổng, cuối buổi chiều T chuyển cáp đề cho đối tượng Ngô Thị H1, sinh 1984 ở tổ dân phố H, TP . để hưởng tiền hoa hồng. Sau khi có kết quả mở thưởng xổ số kiến thiết Miền Bắc hàng ngày, T và H1 tổng hợp các cặp số trúng thưởng để T trả thưởng cho khách tại nhà.
Ngày 16/6/2024, cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở Ngô Thị H1 ở số nhà E, đường H, tổ dân phố H, TP . nhưng không thu giữ gì (BL 37- 38).
Ngày 17/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã ra Quyết định trưng cầu giám định gửi đến Phòng C2 Công an tỉnh B để giám định chữ viết, chữ số trên cáp đề thu giữ của T khi bắt quả tang.
Tại bản kết luận giám định số 1454/KL-KTHS ngày 03/7/2024 của Phòng C2 Công an tỉnh B kết luận: “Chữ viết, chữ số trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A) so với chữ viết, chữ số của Nguyễn Thị Bích T trên các tài liệu mẫu (ký hiệu từ M1 đến M7) là do cùng một người viết ra” (Bl 41-49).
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Thị Bích T khai nhận: Lợi dụng việc Nhà nước thông báo mở thưởng kết quả xổ số kiến thiết miền B trên các phuương tiện thông tin đại chúng, T đã nảy sinh ý định đánh bạc dưới hình thức ghi số lô, số đề cho khách và trả thưởng cao tại nhà để thu lợi bất chính. Trong ngày, trước giờ mở thưởng kết quả xổ số kiến thiết miền B, T trực tiếp ghi số lô, số đề và thu tiền của người chơi. Sau khi có kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc của ngày hôm đó, T sẽ tính toán các cặp số trúng thưởng và trực tiếp trả thưởng cho khách tại nhà. Khi ghi lô đề cho khách, T quy định:
Đối với đánh đề, người chơi chọn 2 số cuối của giải đặc biệt hoặc giải nhất của kết quả xổ số kiến thiết miền B để đặt cược, nếu trúng thưởng người chơi được trả thưởng với số tiền gấp 80 lần số tiền người chơi đặt cược;
Đánh lô, người chơi chọn 2 số cuối của tất cả các giải trong kết quả xổ số kiến thiết miền B để đặt cược và tính điểm, mỗi điểm người chơi phải trả 23.000đ để mua, nếu trúng thưởng mỗi điểm lô sẽ được trả 80.000 đồng, nếu cặp số người chơi đánh cược xuất hiện 2 lần hoặc 3 lần trong Kết quả xổ số miền B thì tỷ lệ hưởng lợi được nhân 2 hoặc nhân 3 lần;
Đối với lô xiên, T thu tiền như đề. Lô xiên có các dạng: Xiên 2 (gồm 02 cặp số có 2 số); xiên 3 (gồm 03 cặp số có 2 số); xiên 4 (gồm 04 cặp số có 2 số). Nếu trúng cặp xiên 2 thì người chơi được trả gấp 10 lần số tiền đặt cược; trúng cặp xiên 3 thì người chơi được trả gấp 40 lần số tiền đặt cược và trúng cặp xiên 4 thì người chơi được trả gấp 100 lần số tiền đặt cược.
Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 15/6/2024, trong khi T đang ở nhà thì có Trần Văn L, sinh 1991 và Hoàng Trung Đ, sinh 2005 đều ở xã Q, huyện Y, tỉnh Bắc Giang đến đặt vấn đề mua số lô, số đề. Số tiền L và Đ mua các cặp số lô, số đề của T lần lượt là 3.150.000đ và 2.250.000đ. Sau khi nhận tiền do L và Đ thanh toán, T ghi các cặp số lô, số đề mà L và Đ mua vào bảng cáp đề sau đó sao chép ra tích kê rồi đưa cho L và Đ. Trong khi T đang sao chép ra tích kê thì bị Công an huyện Y bắt quả tang.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra xác định T ghi số lô, số đề ngày 15/6/2024, lượng tiền đánh bạc của T được xác định như sau: T ghi được tổng là 10.500.000đ. Do thời điểm bị bắt quả tang, kết quả xổ số kiến thiết miền B chưa mở thưởng nên T chưa phải thanh toán tiền được thua trong cáp.
Trong vụ án này, đối với các đối tượng tham gia đánh bạc (mua lô, đề) với T, T khai trong ngày 15/6/2024 ngoài Trần Văn L, sinh 1991 và Hoàng Trung Đ, sinh 2005 đều ở xã Q, huyện Y, tỉnh Bắc Giang còn có Phạm Văn K, sinh 1962 ở thôn D, xã H, huyện Y đánh lô đề với T số tiền là 370.000đ; Nguyễn Ngọc T2, sinh năm 1971 ở thôn H, xã H, huyện Y đánh lô đề với T2 là 920.000đ; Nguyễn văn T3, sinh 1974 ở thôn D, xã H, huyện Y đánhlô đề với T2 số tiền là 100.000đ; đối tượng tên C1 ở thành phố B ghi lô đề với T2 số tiền là 3.280.000đ, còn lại là khách vãng lai, T2 không biết tên, tuổi địa chỉ của họ nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý.
Đối với các đối tượng đối tượng Trần Văn L, Hoàng Trung Đ, Nguyễn Văn T1, Phạm Văn K, và Nguyễn Ngọc T2: Số tiền đánh bạc trong ngày 15/6/2024 dưới 5.000.000đ. Bản thân Trần Văn L, Hoàng Trung Đ, Nguyễn Văn T1, Phạm Văn K, và Nguyễn Ngọc T2 chưa bị xử lý hành chính và chưa có tiền án về tội đánh bạc, gá bạc. Công an huyện Y đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Trần Văn L, Hoàng Trung Đ, Nguyễn Văn T1, Phạm Văn K và Nguyễn Ngọc T2.
Đối với đối tượng Ngô Thị H1, quá trình điều tra H1 khai không đánh bạc với T2, ngoài lời khai của Nguyễn Thị Bích T không có chứng cứ khác nên không có căn cứ xử lý.
Đối với 01 bảng cáp đề của Nguyễn Thị Bích T được lưu trong hồ sơ vụ án.
Đối với số tiền 10.500.000đ thu của T trong quá trình bắt quả tang, T khai là tiền thu từ ghi lô, đề trong ngày 15/6/2024.
Đối với số tiền 100.000.000 đồng thu giữ khi khám xét, qua điều tra xác định là tiền của anh Nguyễn Minh N, sinh năm 1994 ở thôn H, H, Y, tỉnh Bắc Giang là em trai của T gửi để đóng tiền đi xuất khẩu lao động không liên quan đến hành vi đánh bạc. Ngày 24/7/2024, Viện kiểm sát huyện Y đã trả lại số tiền trên cho anh N.
Tang vật vụ án gồm: 01 điện thoại di động Sam sung Galaxy A3 màu xanh; 01 bút bi bằng nhựa màu xanh; 01 túi sách da nữ màu đen và 10.500.000đ được chuyển đến kho vật chứng Thi hành án dân sự huyện Y để xử lý theo quy định.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Thị Bích T đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Bản cáo trạng số 79/CT-VKSYD ngày 09/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang truy tố bị cáo Nguyễn Thị Bích Thủy về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản Cáo trạng đã truy tố.
Chủ tọa phiên tòa công bố lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa. Bị cáo không có ý kiến gì về lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
Qua thẩm vấn tại phiên toà, kiểm sát viên phát biểu lời luận tội vẫn giữ nguyên cáo trạng đã truy tố và đề nghị:
Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Bích T từ 07 tháng đến 09 tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 15/6/2024.
Ngoài ra, còn đề nghị xử lý vật chứng và án phí.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố xét xử: Kể từ khi khởi tố vụ án hình sự, trong giai đoạn điều tra, truy tố vụ án, HĐXX thấy Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật, không có vi phạm gì. Tại giai đoạn xét xử sơ thẩm, Kiểm sát viên thực hiện đúng theo quy định của pháp luật, không có hành vi, quyết định tố tụng nào vi phạm tố tụng.
Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án tống đạt hợp lệ văn bản của Tòa án về thời gian mở phiên tòa nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy quá trình điều tra đã có lời khai của những người này nên việc vắng mặt của họ không trở ngại cho việc xét xử. Do đó, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng trên theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Tại phiên toà bị cáo Nguyễn Thị Bích T thừa nhận hành vi đánh bạc dưới hình thức số lô số đề bị Cơ quan điều tra đã bắt quả tang. Lời khai của bị cáo T tại phiên tòa hôm nay là phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố; phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang; biên bản thu giữ, niêm phong vật chứng, kết luận giám định; phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã điều tra thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Xét thấy đã có đủ cơ sở để kết luận:
Hồi 18 giờ ngày 15/6/2024, tại nhà ở của Nguyễn Thị Bích T ở thốn H, xã H, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Nguyễn Thị Bích T, sinh năm 1977 ở thôn H, xã H, huyện Y, tỉnh Bắc Giang bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y bắt quả tang khi đang có hành vi đánh bạc dưới hình thức ghi số lô, số đề cho đối tượng Trần Văn L, sinh năm 1991 và Hoàng Trung Đ, sinh năm 2005 đều có địa chỉ tại xã Q, huyện Y, tỉnh Bắc Giang thu giữ 01 bảng cáp đề ngày 15/6/2024 ghi trên giấy A4 màu trắng, một mặt có chữ số, chữ viết bằng mực màu xanh; 01 điện thoại Sam sung Galaxy A3 màu xanh; 01 Bút bi nhựa màu xanh; 01 túi sách da nữ màu đen và 10.500.000₫. Quá trình điều tra xác định tổng số tiền T đánh bạc ngày 15/6/2024 là 10.500.000đ.
Như vậy, Cáo trạng số 79/CT-VKSYD ngày 09/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Bích T về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
[3] Xét về nhân thân bị cáo, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Nhân thân: Bị cáo Nguyễn Thị Bích T có nhân thân xấu.
+ Ngày 21/11/2008 Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xử phạt 36 tháng tù về tội “Môi giới mại dâm”. Phạt 2.000.000đ và 50.000đ án phí. T chấp hành án phí tiền phạt 29/4/2009.
+ Bản án số 216/2011/HSST ngày 29/9/2011, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xử phạt 3 năm 4 tháng tù về tội “Môi giới mại dâm”. Tổng hợp với bản án số 188 ngày 21/11/2008 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, buộc chấp hành chung của hai bản án là 06 năm 03 tháng 25 ngày tù. Phạt bổ sung 3.000.000đ và 200.000đ án phí. Chấp hành án phí, tiền phạt tháng 3/2012. Chấp hành xong án phạt tù ra trại ngày 31/8/2015.
+ Quyết định số 08 ngày 10/5/2016 của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B đình chỉ điều tra bị can đối với T về hành vi đánh bạc. Quyết định số 60 ngày 10/5/2016 của trưởng phòng C2 Công an tỉnh B xử phạt số tiền 350.000đ. T nộp tiền phạt ngày 16/5/2016.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo tái phạm nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tạiđiểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên bị cáo được áp dụng tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4] Về tính chất hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an trên địa bàn, ngoài ra còn là nguyên nhân của nhiều tội phạm và vi phạm pháp luật khác. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực pháp luật, nhận thức được việc chơi bài dưới mọi hình thức được thua bằng tiền bị pháp luật nghiêm cấm nhưng do hám lời và coi thường pháp luật nên vẫn cố tình thực hiện. Nguyên nhân phạm tội là do bị cáo không có nghề nghiệp nên dẫn đến việc phạm tội.
[5] Căn cứ tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo, cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian, để giáo dục riêng đối với bị cáo và góp phần răn đe phòng ngừa tội phạm về trật tự xã hội nói chung.
Hình phạt bổ sung: Hành vi phạm tội của bị cáo, lẽ ra cần áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo nhưng bị cáo không có nghề nghiệp, chồng chết, một mình nuôi 02 con nhỏ đang ăn học, không có thu nhập nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo..
[6] Các vấn đề khác:
Đối với các đối tượng đối tượng Trần Văn L, Hoàng Trung Đ, Nguyễn Văn T1, Phạm Văn K, và Nguyễn Ngọc T2: Số tiền đánh bạc trong ngày 15/6/2024 dưới 5.000.000đ. Bản thân Trần Văn L, Hoàng Trung Đ, Nguyễn Văn T1, Phạm Văn K, và Nguyễn Ngọc T2 chưa bị xử lý hành chính và chưa có tiền án về tội đánh bạc, gá bạc. Công an huyện Y đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Trần Văn L, Hoàng Trung Đ, Nguyễn Văn T1, Phạm Văn K và Nguyễn Ngọc T2 là đảm bảo quy định của pháp luật.
Đối với đối tượng Ngô Thị H1, quá trình điều tra H1 khai không đánh bạc với T2, ngoài lời khai của Nguyễn Thị Bích T không có chứng cứ khác nên không có căn cứ xử lý.
[7] Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 10.500.000 đồng là tiền bị cáo thu từ hành vi ghi lô, đề trong ngày 15/6/2024.
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 bút bi bằng nhựa màu xanh là dụng cụ dùng đánh bạc do không có giá trị.
- - Trả lại bị cáo: 01 điện thoại di động Sam sung Galaxy A3 màu xanh; 01 túi sách da nữ màu đen vì tài sản này không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.
[8] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1.Về trách nhiệm hình sự:
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Bích T 07 (bảy) tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam ngày 15/6/2024.
2. Về xử lý vật chứng:
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 10.500.000 đồng.
Tịch thu tiêu hủy: 01 bút bi bằng nhựa màu xanh là dụng cụ dùng đánh bạc do không có giá trị.
Trả lại bị cáo Nguyễn Thị Bích T: 01 điện thoại di động Sam sung Galaxy A3 màu xanh; 01 túi sách da nữ màu đen.
3. Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016. Bị cáo Nguyễn Thị Bích T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Báo cho bị cáo có mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Kim Dung |
Bản án số 79/2024/HS-ST ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG, TỈNH BẮC GIANG về hình sự về tội đánh bạc
- Số bản án: 79/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Bích Thủy phạm tôi Đánh bạc
