|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 79/2024/HSST. Ngày: 27/5/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Mỹ Lệ
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Thế Nam
- Ông Hoàng Thanh Tâm
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Phi Hải, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện VKS nhân dân thành phố L tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình D - Kiểm sát viên.
Ngày 27/5/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai xét xử xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 61/2024/TLST-HS ngày 04/4/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2024/QĐXXST-HS ngày 24/4/2024 đối với bị cáo:
Vòng Ngọc D1, tên gọi khác: Không, sinh năm: 1982 tại Đồng Nai; Nơi cư trú: tổ G, ấp D, xã B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Hoa; Tôn giáo: Phật; Nghề nghiệp: Nội trợ; Trình độ học vấn: 02/12; Con ông Vòng Màng H (đã chết) và bà Thóng Máng C, sinh năm 1936; Chồng: Không có (đã ly hôn), có 03 con lớn nhất sinh năm 2003, nhỏ nhất sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại.
- Bị hại: Bà Đặng Thị M, sinh năm 1962. Địa chỉ: hẻm F, tổ G, ấp D, xã B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.
- Người làm chứng:
- Ông Vũ Mạnh N, sinh năm 1988.
- Ông Huỳnh Văn H1, sinh năm 1961.
Cùng địa chỉ: ấp D, xã B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.
(Bị cáo, bị hại có mặt, người làm chứng vắng mặt tại phiên toà)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vòng Ngọc D1 và bà Đặng Thị M, sinh năm 1962 là hàng xóm với nhau và giữa hai bên gia đình có mâu thuẫn với nhau từ trước. Vào khoảng 16 giờ ngày 07/4/2022, D1 làm cỏ trước nhà thì thấy bà M đang điều khiển xe mô tô hiệu SYM biển số 60B2-011.65 vừa ra khỏi nhà khoảng 50m, D1 gọi bà M lại nói chuyện tại sao bà M lại vô cớ chửi mắng, xúc phạm D1 thì hai bên xảy ra cãi nhau. D1 xông vào dùng tay đánh trúng mặt bà M, làm bà M và xe mô tô ngã xuống đường rồi D1 lấy 01 cục đá bỏ trong lòng bàn tay đánh nhiều cái vào mặt bà M cho đến khi anh Vũ Mạnh N, sinh năm 1988, là hàng xóm gần đó, chạy ra can ngăn thì D1 dừng lại bỏ đi vào nhà. Bà M được anh N đưa đến Bệnh viện Đ điều trị. Vào ngày 07/6/2022, bà M đã làm đơn tố cáo, yêu cầu khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Vòng Ngọc D1 theo quy định của pháp luật.
Theo giấy chứng nhận thương tích số 1041/VN-BV ngày 09/6/2022, Bệnh viện Đ thể hiện bà Đặng Thi M1 vào viện lúc 16 giờ 37 phút ngày 07/4/2022, ra viện lúc 14 giờ ngày 18/4/2022 có thương tích như sau:
- + 01 vết xây xát lòng bàn tay trái ngón 4 kích thước khoảng 01cm x 05cm;
- + 01 vết xây xát lòng bàn tay trái ngón 5 kích thước khoảng 01cm x 0,5cm;
- + 02 vết xây xát mu bàn tay kích thước khoảng 01cm x 01cm;
- + 01 vết xây xát cẳng chân phải kích thước khoảng 03cm x 0,5cm;
- + 01 vết xây xát mắt cá ngoài chân phải kích thước khoảng 1,5cm x 01cm;
- + 01 vết xây xát mu bàn chân phải kích thước khoảng 01cm x 01cm.
- + 01 vết bầm tím vùng cằm kích thước khoảng 01cm x 01cm;
- + Cẳng tay phải có 01 vết bầm kích thước khoảng 03cm x 02cm và 02 vết xây xát kích thước khoảng 01cm x 01cm;
- + Bầm tím quanh mắt trái.
- - Kết quả chụp CT-Scan: Mất liên tục vỏ xương 01 phần bờ ngoài trán phải. Không thấy tổn thương nội sọ.
Theo bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 0753/TgT/2022 ngày 13 tháng 7 năm 2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ, kết luận thương tích của bà Đặng Thị M như sau:
- Dấu hiệu chính qua giám định:
- + Sẹo bàn tay trái kích thước 0,9x0,3cm. Tỷ lệ: 01%
- + Sẹo mu bàn tay trái kích thước 3,5x0,3cm. Tỷ lệ: 02%
- + Sẹo mặt sau căng tay phải kích thước 01x0,3cm. Tỷ lệ: 01%
- + Sẹo mặt sau cẳng tay phải kích thước 0,8x0,3cm. Tỷ lệ: 01%
- + Vết biến đổi sắc tố da cẳng chân phải. Tỷ lệ: 01%
- + Sẹo mắt cá ngoài chân phải kích thước 2,5x01cm. Tỷ lệ: 02%
- + Sẹo mu bàn chân phải kích thước 0,5x0,3cm. Tỷ lệ: 01%
- - Kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Đặng Thị M - 1962 áp dụng theo phương pháp cộng là: 09% (Chín phần trăm). Vật gây thương tích: Vật tày.
Theo công văn số 425/TTPY/2022 ngày 04/10/2022 Trung tâm pháp y tỉnh Đ giải thích kết luận giám định của bà Đăng Thị M2 đối với kết quả CT-SCANER số 22.0212.005039 ngày 07/4/2022 của Bệnh viện Đ là: Mất liên tục vỏ xương một phần bờ ngoài trán phải như sau: Không thấy bất thường đậm độ nhu mô não và xương sọ trên phim. Hình ảnh bờ ngoài trán phải là cấu tạo tự nhiên.
Theo công văn số 2236/SYT-NV ngày 08/5/2023 của Sở Y tế tỉnh Đ giải thích, xác định “người trong tình trạng ốm đau” kết luận như sau: người trong tình trạng ốm đau là người đang mắc bệnh, là người bệnh. Bà Đặng Thị M là người bệnh, đang sử dụng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh, có thể hiểu là đang trong tình trạng ốm đau.
Theo công văn số 877/BV-KHTH ngày 01/6/2023 của Bệnh viện Đ cung cấp thông tin khám chữa bệnh của bà Đặng Thị M tại bệnh viện như sau: bà Minh k và điều trị ngoại trú bệnh đái tháo đường type 2 từ tháng 05/2021 đến 07/4/2022 và nhập viện điều trị nội trú với chẩn đoán tổn thương nông tác động kết hợp khác các vùng cơ thể; Rung nhĩ dai dẳng; Bệnh lý tăng huyết áp; Bệnh đái tháo đường không phụ thuộc insulin.
Theo công văn số 652/BVĐKĐN-KHTH ngày 08/6/2023 của Bệnh viện Đ1 trả lời về việc xác minh quá trình sử dụng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh của bà Đặng Thị M tại cơ sở như sau: Từ ngày 09/3/2015 đến ngày 23/3/2015, bà M nhập viện với chẩn đoán đứt dây chằng chéo trước gối (T), có biểu hiện thoái hóa gối tiến hành điều trị phẫu thuật nội soi khớp gối (T), chẩn đoán sau phẫu thuật: thoái hóa gối (T) đã cắt lọc qua nội soi. Sau khi xuất viện tiếp tục uống thuốc, theo dõi, có khả năng phải thay khớp gối về sau.
Theo công văn số 1949/BVCR-KHTH ngày 10/7/2023 của Bệnh viện C1 trả lời về việc xác minh quá trình sử dụng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh của bà Đặng Thị M tại cơ sở như sau: Từ ngày 03/5/2002 đếm 17/5/2002, bà M nhập viện, điều trị tại khoa Nội tim mạch, chẩn đoán: viêm cơ tim, block nhĩ thất cao độ đã đặt máy tạo nhịp vĩnh viễn. Từ ngày 10/4/2012 đến 18/4/2012 bà M tiếp tục nhập viện điều trị phẫu thuật thay máy tạo nhịp một buồng. Từ ngày 20/4/2022 đến 23/4/2022, bà M nhập viện tại khoa Điều trị Rối loạn nhịp, khám do bị chấn thương, được kiểm tra máy tạo nhịp tim đo thời lượng pin còn hoạt động ước tính dưới một tháng, tiếp tục được thay máy tạo nhịp 1 buồng. Theo ý kiến chuyên khoa, bà M bị hội chứng suy nút xoang, cần điều trị bằng phương pháp đặt máy tạo nhịp, nhịp tim của bệnh nhân là do máy tạo nhịp tạo ra, tình trạng suy nút xoang vẫn tồn tại. Bà M cần theo dõi liên tục về tình trạng hoạt động của máy và đáp ứng của cơ thể bệnh nhân, sẽ thay máy mỗi khi hết tuổi thọ của pin hoặc máy hư hỏng.
Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L không thu hồi được vật chứng.
Về trách nhiệm dân sự: Bà Đặng Thị M yêu cầu Vòng Ngọc D1 bồi thường thiệt hại về sức khỏe với số tiền 369.110.675 đồng, bị cáo D1 chỉ đồng ý bồi thường 20.000.000 đồng.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về các kết luận giám định pháp y.
Tại bản cáo trạng 53/CT-VKS-LK ngày 27/3/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh truy tố bị cáo Vòng Ngọc Dinh về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại các điểm a, c khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điểm a, c khoản 1 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Vòng Ngọc D1 từ 01 năm đến 01 năm 06 nhưng cho hưởng án treo. Về dân sự: chấp nhận bồi thường cho bị cáo 20.000.000 đồng.
Bị cáo bổ sung yêu cầu bồi thường, yêu cầu bị hại bồi thường thiệt hại sức khoẻ với số tiền 468.497.986 đồng.
Những người tham gia tố tụng đồng ý đối với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, bị cáo xin lỗi vì nóng giận nên gây thương tích cho bị hại, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội sửa đổi, lo làm ăn để nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an thành phố L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác khẳng định khai báo tự nguyện, không ai ép buộc. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo D1 khai nhận do có mâu thuẫn với nhau trước đó nên vào khoảng 16 giờ ngày 07/4/2022 bị cáo đã dùng tay đấm vào vào mặt bà Đặng Thị M gây thương thương tích với tỷ lệ là 09%.
Bị cáo không thừa nhận dùng cục đá gây thương tích cho bị hại như cáo trạng đã truy tố, tuy nhiên người làm chứng ông Vũ Mạnh N khai lúc xảy ra sự việc ông thấy trên tay bị cáo D1 có cầm một viên đá vừa lòng bàn tay đánh bị hại. Ngoài ra, lời khai của bà M cũng xác định bị cáo dùng đá đánh vào vùng mặt của bà. Lời khai của người làm chứng, bị hại phù hợp với các vết thương của bị hại và kết luận giám định pháp y về vật gây thương tích là vật tày.
Do đó, có đủ cơ sở xác định bị cáo đã dùng 01 cục đá đánh gây thương tích cho bà M, đồng thời bà M được xác định là người trong tình trạng ốm đau nên hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” với các tình tiết dùng “hung khí nguy hiểm” và phạm tội “đối với người ốm đau” quy định tại các điểm a, c, khoản 1, Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[3] Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội: bị cáo là người có đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nên đã dùng đá đánh gây thương tích cho bị hại là người đang trong tình trạng ốm đau, đang điều trị bệnh. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của người khác, gây mất an ninh trật tự tại địa phương nên cần áp dụng mức hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[4] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhe, bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại số tiền 20.000.000 đồng, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, ngoài ra bị cáo là lao động chính trong gia đình do đã ly hôn chồng và trực tiếp nuôi hai con, bản thân đang điều trị bệnh phụ khoa, có nhân thân tốt, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên xem xét giảm nhẹ và chỉ cần xử phạt tù nhưng cho hưởng án treo cũng đủ nghiêm để răn đe.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà M yêu cầu bị cáo D1 bồi thường thiệt hại về sức khỏe với tổng số tiền 468.497.986 đồng. Xét yêu cầu bồi thường thiệt hại của bà M thì thấy chỉ chấp nhận các khoản như sau:
- - Chi phí nằm viện, điều trị tại bệnh viện Đ theo hoá đơn: 13.642.857 đồng
- - Chi phí đi lại tại L: chấp nhận tiền xe nhập viện và xuất viện đi và về từ B - L là 600.000 đồng
- - Tiền công lao động của người nuôi bệnh, chỉ chấp nhận 01 người nuôi bệnh là 300.000 đồng/1 ngày x 12 ngày = 3.600.000 đồng.
- - Chi phí ăn uống: chấp nhận tiền cơm cho bà M 300.000 đồng/ngày x 12 ngày = 3.600.000 đồng.
- - Tiền công lao động của bị hại: chấp nhận trong thời gian nằm viện điều trị là 200.000 đồng/1 ngày x 12 ngày: 2.400.000 đồng
- - Bồi thường tổn thất tinh thần: xét tỷ lệ tổn thương của bị hại là 9% nên chỉ chấp nhận bồi thường tổn thất tinh thần là 4 tháng x 1.800.000 đồng = 7.200.000 đồng.
Các chi phí tại bệnh viện C1 là điều trị bệnh tim của bị hại, không liên quan đến thương tích của bị cáo gây ra; chi phí tiếp tục điều trị do đau đầu, bại liệt nửa người, sức khoẻ giảm sút...là các di chứng do bị hại bị bệnh tiểu đường từ trước và bị đột quỵ vào thời điểm sau khi bị cáo gây thương tích; chi phí sửa chữa xe máy không có hoá đơn, đồng thời lời khai của anh N xác định sau khi xảy ra sự việc thì xe chỉ hư hỏng nhẹ, anh dùng xe này chở bà M đi bệnh viện nên không chấp nhận toàn bộ các khoản nêu trên. Như vậy tổng số tiền bồi thường thiệt hại sức khoẻ của bà M được chấp nhận là 31.042.857 đồng, bị cáo đã tự nguyện giao nộp 20.000.000 đồng, còn bồi thường tiếp 11.042.857 đồng.
[6] Về án phí: Bị cáo D1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và 552.142 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
[7] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ các điểm a, c khoản 1 Điều 134, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Vòng Ngọc D1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt bị cáo Vòng Ngọc D1 08 (T) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Vòng Ngọc D1 cho chính quyền địa phương nơi bị cáo thường trú giám sát giáo dục. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.
- Áp dụng các Điều 585, 590, 357 Bộ luật dân sự năm 2015
Buộc bị cáo Vòng Ngọc D1 bồi thường cho bà Đặng Thị M 31.042.857 (ba mươi mốt triệu không trăm bốn mươi hai ngàn tám trăm năm mươi bảy) đồng.
Tiếp tục tạm giữ số tiền 20.000.000 đồng để đảm bảo thi hành án cho nghĩa vụ bồi thường của bị cáo D1 (theo giấy nộp tiền vào tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Long Khánh ngày 03/4/2024).
Kể từ khi có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (sau khi án có hiệu lực pháp luật), hàng tháng người phải thi hành án phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự.
- Áp dụng Điều 23, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Vòng Ngọc D1 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 552.142 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Thị Mỹ Lệ |
Bản án số 79/2024/HSST ngày 27/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự: cố ý gây thương tích
- Số bản án: 79/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: vòng ngọc d1 cố ý gây thương tích
