Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HOẰNG HÓA

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 79/2023/HS-ST

Ngày 26-12-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOẰNG HÓA, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Vân

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Bình Quyền

Bà Lường Thị Huyền

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thu Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoằng Hóa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Tuấn- Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 74/2023/TLST-HS ngày 20 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 115/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

Thiều Đình N, sinh ngày 22 tháng 6 năm 1990 tại xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Thiều Đình C và bà Hoàng Thị D; Có vợ Nguyễn Thị T và có 03 con, lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 25/01/2022, bị Công an huyện H xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Xâm hại sức khỏe người khác”. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 22/8/2023 đến nay, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện N, có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Anh Lê Viết T1, sinh năm 2000 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Phố N, phường L, TP T, tỉnh Thanh Hóa.

Người làm chứng:

  • - Anh Lê Văn N1, sinh năm 1979 (Vắng mặt)
  • Địa chỉ: Thôn E, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa
  • - Anh Lương Xuân H, sinh năm 1983 (Vắng mặt)
  • Địa chỉ: Thôn G, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
  • - Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1970 (Vắng mặt)
  • - Anh Lê Viết H2, sinh ngày 01/10/2005 (Vắng mặt)
  • Cùng địa chỉ: Phố N, phường L, TP T, tỉnh Thanh Hóa.
  • - Nguyễn Xuân T2, sinh ngày 10/01/2006 (Vắng mặt)
  • Người đại diện hợp pháp: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1983 (Vắng mặt)
  • Cùng địa chỉ: Thôn M, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
  • - Lê Đình L1, sinh ngày 03/8/2006 (Vắng mặt)
  • Người đại diện hợp pháp: Bà Lê Thị T3, sinh năm 1968 (Vắng mặt)
  • Cùng địa chỉ: Thôn M, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
  • - Lê Đình A, sinh ngày 02/7/2006 (Vắng mặt)
  • Người đại diện hợp pháp: Chị Lê Thị N2, sinh năm 1983 (Vắng mặt)
  • Cùng địa chỉ: Phố Q, Phường L, TP T, tỉnh Thanh Hóa.
  • - Phạm Văn T4, sinh ngày 16/8/2006 (Vắng mặt)
  • Người đại diện hợp pháp: Chị Lê Thị B, sinh năm 1977 (Vắng mặt)
  • Cùng địa chỉ: Thôn B L, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
  • - Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1959 (Vắng mặt)
  • Địa chỉ: Thôn E, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa
  • - Anh Vũ Văn H3, sinh năm 1998 (Vắng mặt)
  • Địa chỉ; Tổ dân phố C, phường Q, TP S, tỉnh Thanh Hóa.
  • - Anh Thiều Đình Đ, sinh năm 1991 (Vắng mặt)
  • Địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chiều ngày 24/02/2023; anh Thiều Đình Đ (em trai N) đang chăn bò tại khu vực vườn chuối ở thôn E, xã H, huyện H thì xảy ra mâu thuẫn cãi nhau với ông Nguyễn Văn M, Lê Viết T1 và Lê Viết H2. Thiều Đình Đ yêu cầu ông M dẫn theo T1 và H2 xuống nhà Đ nói chuyện.

Đến khoảng 17 giờ 30 phút ngày 25/02/2023, ông M gọi điện thoại nói với bà Nguyễn Thị H1 về việc Đ yêu cầu H2, T1 xuống nhà Đ gặp để nói chuyện giải quyết mâu thuẫn trên. Ông M rủ anh Lê Văn N1 đi cùng mình. Bà H1 nói với T1 và H2 về sự việc trên, T1 rủ thêm Lê Đình A, Phạm Văn T4, Vũ Văn H3; H2 rủ thêm Lê Đình L1, Nguyễn Xuân T2 đi cùng. Khi đi H2 cầm theo 01 chiếc gậy ba khúc còn T1 cầm theo một chiếc kiếm được làm bằng thép màu sáng có chiều dài 82,5cm, cán bằng gỗ dài 16cm, đầu kiếm vát chéo. Lê Viết T1 điều khiển xe máy hiệu Honda Future, BKS: 36B7 – 882.47 chở Vũ Văn H3; Lê Viết H2 điều khiển xe máy nhãn hiệu YAMAHA Exciter BKS: 36B5 – 566.62 chở Nguyễn Thị H1, Lê Đình A; Lê Đình L1 điều khiển xe máy hiệu Honda Wave BKS: 36B1 – 727.08 chở Nguyễn Xuân T2 đi xuống cây xăng xã H để gặp ông M và anh N1. Khi đến nơi thì gặp Phạm Văn T4 đi đến. Sau khi gặp nhau tại cây xăng xã H thì tất cả rủ nhau đi đến khu vực trang trại của gia đình Thiều Đình Đ.

Khi đi gần đến nơi thì gặp Đ đang điều khiển xe máy đi từ trong nhà anh Lương Xuân H đi về hướng nhóm của T1, khi đi đến chỗ ông M thì ông M gọi Đ dừng lại để nói chuyện nhưng Đ không dừng lại mà điều khiển xe máy đi đến chỗ T1, H, H3 đang đứng. Lúc này giữa hai bên xảy ra mâu thuẫn. T1 dùng kiếm mang theo chém với từ phía sau (chiều hướng từ trên xuống) trúng vào vùng đỉnh chẩm của Đ và đưa cho Vũ Văn H3 01 con dao nhặt ở đường, rồi H3 xông vào đánh Đ; Lê Viết H2 sử dụng 01 gậy ba khúc đập vào lưng Đ từ 02 đến 03 cái và đuổi đánh Đ. Đ bỏ chạy vào nhà anh Lương Xuân H lấy 01 (một) gậy tre màu vàng, chiều dài 127cm chạy quay lại và sử dụng chiếc gậy trên vụt vào vùng đầu ông M làm ông M ngã xuống rồi Đ cầm gậy tre đuổi đánh nhóm của T1. Thiều Đình N (anh trai của Đ) đang đóng cọc quây vịt tại bờ ao sát đường bê tông thì thấy nhóm của T1 nên cầm theo một cái xẻng có chiều dài 104,5cm đi ra xem có chuyện gì, thì nghe Đ la lên: “Anh ơi, bọn nó chém em”. Lúc này, Đ đang đuổi T1, H và H3, cả 03 chạy về phía Nam, tưởng nhóm của T1 lùa mình nên N bỏ chạy. N chạy xuống ruộng và T1 chạy theo N. Khi đang chạy thì T1 bị gập 01 chân xuống đất và quỵ xuống nên chiếc kiếm văng trúng vào chân phải của N. Nghĩ bị T1 chém vào chân mình nên N nhặt chiếc kiếm và lia lại trúng vào chân phải của T1. T1 ngã xuống thì N dùng chiếc xẻng mình cầm theo đập vào người T1, T1 giơ tay phải lên đỡ nên xẻng đập trúng vào tay. Sau đó, N tiếp tục đi lên đường đuổi theo nhóm của T1 và H. Khi gặp được Lê Viết H2 thì N đã dùng tay đấm vào vùng mặt và nhặt chiếc gậy ba khúc của H2 làm rơi ở dưới đất đập vào đùi trái, đùi phải, tay, chân và người Hùng. Sau khi đánh H2 thì N đã yêu cầu H2 về trang trại nhà N để nói chuyện và báo cáo Công an xã H đến làm việc.

Sau khi bị thương Lê Viết T1 phải đi điều trị thương tích tại Bệnh viện đa khoa tỉnh T từ ngày 25/02/2023 đến ngày 03/3/2023.

- Biên bản xem xét dấu vết trên thân thể ngày 25/02/2023 tại Bệnh viện đa khoa huyện H thể hiện Lê Viết T1 có những thương tích sau: 01 vết rách da bờ mép sắc gọn, tại mặt ngoài cổ chân phải kích thước khoảng (3x7) cm; 01 vết bầm tím tại mu bàn tay phải.

- Kết luận giám định số 421/KLTTCT-PYTH ngày 27/3/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh T kết luận:

  • + Chấn thương bàn tay phải gây tổn thương gãy xương bàn V bàn tay phải; đã được điều trị, hiện tại còn hình ảnh gãy xương V bàn tay phải: 10%.
  • + Vết thương mặt ngoài cổ chân phải gây tổn thương: Gãy 1/3 dưới xương mác phải: 05%; Mẻ 1/3 dưới xương chày phải: 03%.
  • + Sẹo vết thương phần mềm vắt ngang mặt ngoài 1/3 dưới cẳng chân phải vùng sát cổ chân phải, kích thước sẹo trung bình: 02%.

Tổng tỷ lệ thương tổn tại thời điểm giám định là 19%.

- Kết luận giám định số 422/KLTTCT-PYTH ngày 30/3/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh T kết luận:

Vết rách da, bờ mép sắc gọn tại mặt ngoài cổ chân phải: Do tác động của ngoại lực; được tạo nên bởi vật có cạnh sắc, hoặc vật có cạnh sắc nhọn. Gây tổn thương rách da, cơ, mô mềm và gãy 1/3 dưới xương mác phải, mẻ 1/3 dưới xương chày phải; đã được điều trị; hiện tại còn di chứng: Gãy 1/3 dưới xương mác phải; mẻ 1/3 dưới xương chày phải; sẹo vết thương phần mềm vắt ngang mặt ngoài 1/3 dưới cẳng chân phải vùng sát cổ chân phải; vết bầm tím tại mu bàn tay phải: Do tác động của ngoại lực; được tạo nên bởi vật tày hoặc vật tày có cạnh. Gây tổn thương gãy xương bàn V bàn tay phải; đã được điều trị; hiện tại còn di hình ảnh gãy xương bàn V bàn tay phải. Tại thời điểm giám định: Không đủ chứng cứ khoa học và các dữ liệu khách quan để xác định chính xác tư thế, chiều hướng tác động và lực tác động của vật gây thương tích.

- Bản kết luận giám định số: 387/2023/TgT ngày 14 tháng 3 năm 2023 của Trung tâm P kết luận tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với Lê Viết H2 là 03% (Ba phần trăm).

Ngày 15/03/2023, Lê Viết H2 đã có đơn đề nghị không xử lý hình sự đối với Thiều Đình N và không yêu cầu bồi thường dân sự.

* Về dân sự:

Mặc dù bị hại Lê Viết T1 không yêu cầu bồi thường dân sự nhưng bị cáo thấy ăn năn hối cải về hành vi của mình nên đã tự nguyện bồi thường cho bị hại số tiền 7.000.000₫.

* Về vật chứng của vụ án:

  • - 01 (một) chiếc kiếm được làm bằng thép màu sáng có chiều dài 82,5cm, cán bằng gỗ dài 16cm, đầu kiếm vát chéo; 01 (một) gậy tre dài 186cm, nơi rộng nhất 4cm, gậy tre có 1 đầu vát nhọn; 01 (một) gậy tre có màu vàng, chiều dài 127cm; 01 (một) chiếc xẻng có cán bằng tre dài 104,5cm đã qua sử dụng, các vật chứng trên hiện đang được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hoằng Hóa.

Đối với 01 con dao có lưỡi dao đã hoen gỉ, mũi bằng dài khoảng 40cm mà Vũ Văn H3 sử dụng lùa đánh Thiều Đình Đ, Cơ quan CSĐT tiến hành truy tìm vật chứng để thu giữ nhưng không phát hiện và thu giữ được.

* Lê Viết T1 bị Thiều Đình Đ lùa nên bỏ chạy, quá trình bỏ chạy bị gập 01 chân xuống đất và quỵ xuống nên chiếc kiếm văng ra trúng vào chân phải của Thiều Đình N. Tại bản kết luận giám định số: 400/KLTTCT-PYTH ngày 03 tháng 3 năm 2023 của Trung tâm P kết luận tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Thiều Đình Nam là 01%. Do đó không có căn cứ để xử lý đối với T1.

* Vụ án xảy ra tại khu vực trang trại giữa cánh đồng, chỉ có hai nhà dân sinh sống, ít người qua lại, mặt khác chính quyền địa phương có báo cáo vụ án không gây mất trật tự an ninh địa phương nên không đủ căn cứ để xem xét, xử lý các đối tượng về hành vi Gây rối trật tự công cộng.

Cáo trạng số 01/CTr-VKSHH ngày 17/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoằng Hóa truy tố bị cáo Thiều Đình N về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận, giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo Thiều Đình Nam phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Thiều Đình N từ 18 tháng đến 23 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện bồi thường cho bị hại của bị cáo và bị hại T1 được nhận số tiền 7.000.000₫ từ Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoằng Hóa theo biên lai thu tiền. Bị hại không có yêu cầu gì thêm nên đề nghị không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) chiếc kiếm được làm bằng thép màu sáng có chiều dài 82,5cm, cán bằng gỗ dài 16cm; 01 (một) gậy tre dài 186cm; 01 (một) gậy tre màu vàng dài 127cm; 01 (một) chiếc xẻng có cán bằng tre dài 104,5cm.

Về án phí: Bị cáophải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo không tranh luận với lời luận tội của đại diện viện kiểm sát, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét hành vi và tội danh của bị cáo: Nghe thấy em trai là anh Thiều Đình Đ hô hoán kêu cứu, đầu bị chảy máu nên Thiều Đình N đã đi đến nơi sảy ra sự việc. Thấy anh H2 và anh T1 chạy về phía mình, tưởng bị rượt đuổi nên N đã bỏ chạy. Khi chạy xuống ruộng, do bị khụy chân nên kiếm trên tay anh T1 đã văng lia vào chân N, tưởng bị T1 chém nên N đã nhặt kiếm lia lại vào chân Thành và dùng xẻng đập vào người T1. Hành vi N dùng kiếm và xẻng là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho anh T1 19% tổn thương cơ thể, đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự đúng như Viện kiểm sát truy tố.

[3] Xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ rõ sự ăn năn hối cải; sau khi gây thương tích cho bị hại, mặc dù bị hại không yêu cầu nhưng bị cáo đã tự nguyện nhờ vợ bồi thường thiệt hại cho bị hại; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4]. Về hình phạt: Bị cáo đã thật sự ăn năn hối cải, lại có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên cần áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự, cho bị cáo được hưởng mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật.

[5]. Về trách nhiệm dân sự: Cần ghi nhận sự tự nguyện bồi thường cho bị hại số tiền 7.000.000₫ của bị cáo, bị hại được nhận số tiền 7.000.000₫ từ Chi cục Thi hành án dân sự, bị hại không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6]. Về vật chứng: 01 (một) chiếc kiếm có cán gỗ được làm bằng thép màu sáng có chiều dài 82,5cm; 01 (một) gậy tre dài 186cm; 01 (một) gậy tre màu vàng dài 127cm; 01 (một) chiếc xẻng có cán bằng tre dài 104,5cm là vật chứng của vụ án, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

[7]. Về án phí: Bị cáo phải chịu toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38, Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106, Điều 331, Điều 333, Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án.

Tuyên bố:

Bị cáo Thiều Đình Nam phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử:

Phạt bị cáo Thiều Đình N 18 (mười tám) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (ngày 22/8/2023)

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) chiếc kiếm được làm bằng thép màu sáng có chiều dài 82,5cm, cán bằng gỗ; 01 (một) gậy tre dài 186cm; 01 (một) gậy tre màu vàng dài 127cm; 01 (một) chiếc xẻng có cán bằng tre dài 104,5cm. Tất cả vật chứng hiện đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoằng Hóa theo biên bản giao nhận vật chứng số 17/BBGN ngày 25/12/2023.

Về trách nhiệm dân sự: Công nhận sự tự nguyện bồi thường cho bị hại được của bị cáo, bị hại anh Lê Viết T1 được nhận số tiền 7.000.000đ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoằng Hóa theo biên lai thu tiền số 0001751 ngày 21/12/2023.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Hoằng Hóa;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Chi cục THADS huyện Hoằng Hóa;
  • - Cơ quan THA hình sự huyện Hoằng Hóa.
  • - Công an huyện Hoằng Hóa;
  • - Nhà tạm giữ Công an huyện Nga Sơn;
  • - UBND xã Hoằng Thắng;
  • - Bị cáo, bị hại;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Ngọc Vân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 79/2023/HS-ST ngày 26/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOẰNG HÓA, TỈNH THANH HÓA về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 79/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOẰNG HÓA, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Thiều Đình Nam bị truy tố, xét xử và tuyên bố phạm tội "Cố ý gấy thương tích"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger