Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN GIA VIỄN

TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 79/2023/HS-ST

Ngày: 26/12/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lã Hoàng Giáp.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đinh Công Hiến.

Ông Hoàng Quốc Trị.

-Thư ký phiên toà: ông Đoàn Thanh Minh - Thư ký viên Tòa án nhân dân

huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn tham gia phiên toà:

Vũ Như Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn,

tỉnh Ninh Bình; Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 86/2023/TLST – HS ngày 01 tháng 12 năm 2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2023/TLST – HS ngày 14 tháng 12 năm 2023, đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Bùi Văn S (Tên gọi khác: không), sinh năm: 2001; xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Mường; Giới tính: nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Văn N và bà Trịnh Thị C; Vợ Lê Thu H, có 01 con; Tiền án: không.

    Tiền sự: Tại Quyết định số 10459 ngày 07/12/2022 của Công an huyện T, tỉnh Thanh Hóa xử phạt Bùi Văn S số tiền 3.500.000 đồng về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bùi Văn S chấp hành xong quyết định ngày 16/12/2022.

    Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 29/8/2023. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh tỉnh N. (có mặt)

  2. Họ và tên: Bùi Văn T (Tên gọi khác: không), sinh năm: 1993; xã Q, huyện N, tỉnh Ninh Bình; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Q, huyện N, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Mường; Giới tính: nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Văn C1 (đã chết) và bà Bùi Thị H1; Vợ Trần Thị Kim T1, chưa có con; Tiền án, tiền sự: Không.

    Lịch sử bản thân: Tại Bản án số 15 ngày 20/02/2019 của Tòa án nhân dân huyện Nho Quan xử phạt Bùi Văn T 15 tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bùi Văn T chấp hành xong Bản án ngày 23/02/2020.

    Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 29/8/2023. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Côngtỉnh tỉnh Ninh Bình. (có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

2

  • + Anh Bùi Văn H2, sinh năm 1990; nơi cư trú: bản M, xã K, huyện N, tỉnh Ninh Bình; (vắng mặt)
  • + Bà Bùi Thị H1, sinh năm 1960; nơi cư trú: thôn Đ, xã Q, huyện N, tỉnh Ninh Bình; (vắng mặt)
  • + Chị Trịnh Thị H3, sinh năm 1981; nơi cư trú: xóm I, xã M, huyện V, tỉnh Thanh Hóa. (vắng mặt)

- Những người tham gia tố tụng khác: Người chứng kiến: ông Dương Văn G. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bùi Văn SBùi Văn T là bạn bè quen biết ngoài xã hội và đều là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy. Khoảng 08 giờ ngày 04/8/2023, do có nhu cầu sử dụng ma túy, S điều khiển xe mô tô Biển kiểm soát 36AB-100.04 đi từ nhà ở thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa sang khu vực ngã ba Anh T thuộc huyện N, tỉnh Ninh Bình, S vào một hiệu thuốc ven đường (S không nhớ tên hiệu thuốc) mua 02 kim tiêm và 01 lọ nước cất với giá 10.000 đồng rồi bỏ vào túi quần đang mặc. Sau đó, S sử dụng điện thoại di động của mình, gọi điện qua ứng dụng mesenger cho Bùi Văn T, nhờ T mua hộ 500.000 đồng ma túy, loại Heroine. Thiều đồng ý và hẹn gặp S tại khu vực cầu Đ, thuộc địa phận xóm I, xã G, huyện G. Lúc này, T đang đi chơi ở khu vực thị trấn M, huyện G cùng với Bùi Văn H2, sinh năm 1990, trú tại Bản M, xã K, huyện N (là bạn của T), T rủ H2 đi gặp S, H2 đồng ý. Thiều điều khiển xe mô tô Biển kiểm soát 35B2-812.28, H2 điều khiển xe mô tô Biển kiểm soát 35B1-345.77 đi đến khu vực cầu Đ, xã G gặp S, S lấy ra số tiền 490.000 đồng đưa cho T. T cầm tiền và bảo S, H2 đứng đợi, còn T điều khiển xe mô tô đi đến khu vực thôn C, xã T, huyện H, mua 01 gói Heroine bên ngoài được gói ngoài bằng giấy viết màu trắng với giá 490.000 đồng của một người đàn ông không quen biết rồi điều khiển xe mô tô đi về. Khi đi đến khu vực mỏm đá thuộc địa phận xã T, huyện H, T dừng xe mở gói ma túy vừa mua, lấy một phần ma túy gói vào tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng, bỏ vào chiếc ví giả da màu nâu và cất giấu trong cốp xe mô tô Biển kiểm soát 35B2-812.28 nhằm mục đích sử dụng riêng. Phần ma túy còn lại Thiều gói lại như ban đầu, cầm ở tay và điều khiển xe mô tô quay lại chỗ SH2 đứng đợi. Khi nhìn thấy T, S chỉ về phía gốc cây nhãn gần đó và bảo ra đó sử dụng ma túy. Nhưng do trời mưa, T dẫn SH2 đi vào khu vực hang Vòm thuộc địa phận xóm I, xã G, huyện G để sử dụng ma túy. Vào trong hang, T lấy gói ma túy ra và hỏi S: “Có chơi hết không”. S trả lời: “Để lại cho em một phần”. T lấy một phần ma túy cho vào bơm kim tiêm và đưa cho S, sau đó lấy tiếp một phần ma túy cho vào mảnh giấy bạc H2 đang cầm và phần ma túy còn lại T gói lại đưa cho S. S bỏ gói ma túy vào 01 ví giả da màu nâu rồi cất vào túi áo đang mặc. Thiều cầm bơm kim tiêm chích vào khửu tay phải của S, rồi TH2 lần lượt sử dụng ma túy trên giấy bạc bằng hình thức hít. Sau khi sử dụng ma túy xong, S cắm bơm kim tiêm xuống nền đất trong hang, dùng bật lửa để đốt; Thiều vất mảnh giấy bạc sử dụng ma túy đi. Đến khoảng 12 giờ 15 phút cùng ngày, khi

3

T, H2S đi ra đứng trước cửa hang Vòm thuộc địa phận xóm I, xã G, huyện G thì gặp Tổ công tác Công an xã G phối hợp với Công an xã G làm nhiệm vụ yêu cầu kiểm tra. Biết không thể che giấu hành vi phạm tội của mình, S, H2T đều khai nhận cả ba vừa sử dụng ma túy, loại Heroine trong hang. Lực lượng Công an thu giữ tại nền đất trong hang 01 bơm kim tiêm bị đốt cháy phần nhựa, còn phần mũi bằng kim loại; 01 mảnh giấy bạc màu vàng, một mặt bám muội đen; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng; 01 vỏ lọ nước cất bằng nhựa. Thu giữ trong người Sơn 01 ví giả da màu nâu bên trong có 01 gói được gói ngoài bằng mảnh giấy viết màu trắng, bên trong đựng chất bột dạng cục màu trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu REALME vỏ màu đen đã qua sử dụng; 01 bơm kim tiêm chưa qua sử dụng; 01 bật lửa ga màu trắng. S khai nhận đó là gói ma túy, loại H4, S cất giấu để sử dụng cho bản thân. Thu giữ của T 01 điện thoại di động Iphone vỏ màu xanh, 01 bật lửa ga màu xanh. Thu giữ của H2 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung vỏ màu đen đã qua sử dụng; 01 bật lửa ga màu đỏ.

Kiểm tra 03 chiếc xe mô tô dựng ngoài cửa hang, Tổ công tác đã thu giữ 01 ví giả da màu nâu có 01 gói được gói ngoài bằng tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng, bên trong đựng chất bột dạng cục màu trắng để trong cốp xe mô tô Honda BKS 35B2-812.28 của Thiều. T khai nhận đó là gói ma túy, loại Heroine Thiều cất giấu riêng để sử dụng cho bản thân. Lực lượng Công an tạm giữ 03 xe mô tô để phục vụ cho quá trình điều tra. Sau đó, Lực lượng Công an đã đưa Bùi Văn S, Bùi Văn TBùi Văn H2 về trụ sở Công an xã G lập biên bản vụ việc.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G đã tiến hành cân xác định khối lượng chất bột dạng cục màu trắng trong gói thu giữ trong người Bùi Văn S có khối lượng 0,091 gam, lấy mẫu giám định ký hiệu M1. Cân xác định khối lượng chất bột dạng cục màu trắng trong gói thu giữ tại cốp xe mô tô của Bùi Văn T có khối lượng 0,060 gam, lấy mẫu giám định ký hiệu M2. Và gửi cùng 01 bơm kim tiêm bị đốt cháy phần nhựa, còn phần mũi bằng kim loại, ký hiệu A1; 01 mảnh giấy bạc màu vàng, một mặt bám muội đen, ký hiệu A2, để gửi đi xác định khối lượng và giám định chất ma túy.

Tại Kết luận giám định số 651/KL-KTHS-MT ngày 17/8/2023 của Phòng K Công an tỉnh N, kết luận:

  • Mẫu gửi giám định ký hiệu M1 có khối lượng 0,0882 gam, ký hiệu M2 có khối lượng 0,0609 gam, đều là ma túy, loại Heroine (H).

    Heroin có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và là chất ma túy được quy định tại Danh mục IA, số thứ tự 9; Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

  • Không tìm thấy chất ma túy bám dính trên bơm kim tiêm ký hiệu A1 và trên mảnh giây bạc ký hiệu A2.
  • H5 lại đối tượng giám định: mẫu gửi giám định ký hiệu M1 còn lại có khối lượng 0,0450 gam, ký hiệu M2 còn lại có khối lượng 0,0270 gam, đều là ma túy, loại Heroine (H) cùng vỏ, bao gói niêm phong. Một bơm kim tiêm ký hiệu Al và một mảnh giấy bạc ký hiệu A2 cùng vỏ, bao gói niêm phong.

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có khiếu nại, ý kiến gì về kết luận giám định nêu trên.

4

Tại Bản Cáo trạng số 86/CT-VKS-GV ngày 30/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn đã truy tố Bùi Văn S ra trước Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình để xét xử về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm a khoản 1, khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự; truy tố Bùi Văn T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình thực hành quyền công tố tại phiên tòa, phát biểu luận tội đã giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng. Sau khi phân tích đánh giá tính chất nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Bùi Văn SBùi Văn T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

  • Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm a khoản 1 Điều 249; điểm s, p khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Bùi Văn S từ 12 đến 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; từ 30 đến 33 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt bị cáo Bùi Văn S phải chịu hình phạt chung cho cả hai tội từ 42 đến 48 tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 29/8/2023.
  • Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Bùi Văn T từ 15 đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, từ 27 đến 30 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt, bị cáo Bùi Văn T phải chịu hình phạt chung cho cả hai tội từ 42 đến 48 tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 29/8/2023.
  • Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

    Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 phong bì ghi số 651/KL-KTHS-MT, bên trong đựng: Chất bột màu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M1 có khối lượng 0,0450 gam, ký hiệu M2 có khối lượng 0,0270 gam, đều là ma túy, loại Heroine (H) cùng vỏ, bao gói niêm phong; Một bơm kim tiêm ký hiệu A1; một mảnh giấy bạc ký hiệu A2 cùng vỏ, bao gói niêm phong. 01 phong bì niêm phong theo quy định bên trong có: 02 mảnh phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, 01 mảnh giấy viết màu trắng. 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng; 01 vỏ lọ nước cất bằng nhựa, 03 bật lửa ga đã qua sử dụng; 01 phong bì niêm phong dán kín, bên trong gồm 01 bơm kim tiêm chưa qua sử dụng.

    Tịch thu tiêu hủy 01 ví giả da màu nâu thu giữ của S, 01 ví giả da màu nâu thu giữ của T do 02 chiếc ví đều đã cũ, ST không có yêu cầu nhận lại.

    Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu REALME vỏ màu đen đã qua sử dụng thu giữ của S, 01 điện thoại di động Iphone vỏ màu xanh đã qua sử dụng thu giữ của T và số tiền 2000 đồng T dùng để gói ma túy.

    Trả lại cho anh Bùi Văn H2 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung vỏ màu đen đã qua sử dụng.

5

Về án phí: Đề nghị áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; miễn án phí cho bị cáo Bùi Văn S, buộc bị cáo Bùi Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng, không có ý kiến tranh luận đối với luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét cho hưởng mức hình phạt thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa bị cáo Bùi Văn S, Bùi Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của nhau, phù hợp với nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn đã truy tố. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, lời khai của người làm chứng, phù hợp với biên bản vụ việc, phù hợp với vật chứng của vụ án đã được thu giữ, phù hợp Kết luận giám định số 651/KL-KTHS-MT ngày 17/8/2023 của Phòng K Công an tỉnh N, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; đã có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Bùi Văn S đưa tiền để bị cáo Bùi Văn T đi mua chất ma túy là heroine; vào hồi 12 giờ 15 phút ngày 04/8/2023 Bùi Văn SBùi Văn T mang ma túy về khu vực hang Vòm thuộc địa phận xóm I, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình và có hành vi tổ chức cho bị cáo S, bị cáo T và anh Bùi Văn H2 sử dụng trái phép chất ma túy (Heroine). Ngoài ra khi bị bắt cơ quan công an còn thu giữ của Bùi Văn S 0,0882 gam Heroine là số ma túy S còn để lại sử dụng sau trong số heroine T đã đưa cho S; thu giữ trong xe mô tô Bùi Văn T đang đi là 0,0609g heroine là số ma túy Thiều tự cất giấu từ số ma túy bị cáo đã đi mua về.

Bị cáo Bùi Văn S có 01 tiền sự về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chưa được xóa lại tiếp tục cất giấu trái phép 0,0882 gam Heroine để sử dụng cho bản thân; Bị cáo Bùi Văn T là người đi mua ma túy hộ cho bị cáo Bùi Văn S nên phải chịu trách nhiệm đối với 0,0882 gam Heroine thu giữ từ bị cáo S, ngoài ra bị cáo T tự cất giấu 0,0609g heroine nên bị cáo phải chịu trách nhiệm đối với tổng tổng khối lượng Heroine là 0,1491 gam.

Bộ luật Hình sự quy định:

Điều 255. Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

...

6

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý.

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma tuý thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm :

  • Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại các điều 248, 250, 251 và 252 của Bộ luật chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
  • Heroine, cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

...

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

Bị cáo Bùi Văn S, bị cáo Bùi Văn T là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi mua ma túy, chuẩn bị dụng cụ để sử dụng và cho anh Bùi Văn H2 sử dụng trái phép heroine của bị cáo Bùi Văn S, Bùi Văn T đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy", tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự. Hành vi cất giấu trái phép Heroine của bị cáo Bùi Văn S đã phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; hành vi cất giấu trái phép heroine của bị cáo Bùi Văn T đã phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Như vậy cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình đã truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[2]. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây dư luận xấu trên địa bàn. Mặt khác ma túy là hiểm họa của loài người, là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác, các bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật nên đã đi mua ma túy để sử dụng và cho người khác sử dụng, cất giấu để thỏa mãn nhu cầu bản thân. Chính vì vậy các bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội mà mình đã gây ra. Hành vi phạm tội của các bị cáo là cố ý thuộc trường hợp nghiêm trọng.

[3]. Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo Bùi Văn S, Bùi Văn T thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Bùi Văn S là người khuyết tật nặng nên được hưởng thêm tình tiết

7

giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo không có.

Về nhân thân: các bị cáo có nhân thân xấu

Căn cứ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian tương xứng để giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho xã hội.

[4]. Đây là vụ án có đồng phạm mang tính giản đơn. Bị cáo Bùi Văn S là người cung cấp tiền để bị cáo Bùi Văn T mua ma túy, bị cáo T là người trực tiếp đi mua ma túy, rủ rê anh Bùi Văn H2 sử dụng ma túy. Do vậy hai bị cáo có vai trò như nhau trong vụ án.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo phạm tội không có mục đích vụ lợi, không có công việc và tài sản do đó Hội đồng xét xử xét thấy không cần áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với các bị cáo.

[6]. Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

Đối với 01 phong bì ghi số 651/KL-KTHS-MT, bên trong đựng: Chất bột màu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M1 có khối lượng 0,0450 gam, ký hiệu M2 có khối lượng 0,0270 gam, đều là ma túy, loại Heroine (H) cùng vỏ, bao gói niêm phong; Một bơm kim tiêm ký hiệu A1; một mảnh giấy bạc ký hiệu A2 cùng vỏ, bao gói niêm phong. 01 phong bì niêm phong theo quy định bên trong có: 02 mảnh phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, 01 mảnh giấy viết màu trắng. 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng; 01 vỏ lọ nước cất bằng nhựa, 03 bật lửa ga đã qua sử dụng; 01 phong bì niêm phong dán kín, bên trong gồm 01 bơm kim tiêm chưa qua sử dụng; là vật chứng của vụ án bị cấm lưu hành, không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 ví giả da màu nâu thu giữ của S, 01 ví giả da màu nâu thu giữ của T. Do 02 chiếc ví đều đã cũ, ST không có yêu cầu nhận lại nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu REALME vỏ màu đen đã qua sử dụng thu giữ của S, 01 điện thoại di động Iphone vỏ màu xanh đã qua sử dụng thu giữ của T. Quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của ST, sử dụng để liên lạc rủ nhau sử dụng ma túy, nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước

Đối với tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng T dùng để gói ma túy, cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung vỏ màu đen đã qua sử dụng, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của H2, không liên quan đến hành vi phạm tội, do đó cần trả lại cho H2.

[7]. Về nguồn gốc số ma túy và người bán ma túy, bị cáo T khai mua của một người đàn ông không quen biết nên không đủ căn cứ để xác minh, làm rõ, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

8

Đối với 01 xe mô tô Biển kiểm soát 36AB-100.04 thu giữ của S, quá trình điều tra xác định là tài sản của chị Trịnh Thị H3, sinh năm 1981, trú tại xóm I, xã M, huyện V, tỉnh Thanh Hóa (là dì của S). Đối với 01 xe một ô Biển kiểm soát 35B2-812.28 thu giữ của T, quá trình điều tra xác định là tài sản của bà Bùi Thị H1, sinh năm 1960, trú tại thôn Đ, xã Q, huyện N, tỉnh Ninh Bình (bà H1 là mẹ đẻ của T). Ngày 04/8/2023, ST mượn xe mô tô đi mua và tổ chức sử dụng ma túy, chị H3 và bà H1 không biết. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G đã trả lại 02 chiếc xe mô tô trên cho chị H3 và bà H1; do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với Bùi Văn H2 đã được Bùi Văn SBùi Văn T rủ sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 04/8/2023. Công an huyện G đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính (phạt tiền) về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với 01 xe mô tô Biển kiểm soát 35B1-345.77, quá trình điều tra xác định là tài sản của H2, không liên quan đến hành vi phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G đã trả lại xe mô tô cho H2; do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

[8]. Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

[9]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Từ những nhận định trên cho thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn tại phiên tòa về tội danh, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân cần áp dụng đối với bị cáo là đúng quy định của pháp luật, phù hợp với quan điểm xử lý của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 255; điểm s, p khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 55 của Bộ luật Hình sự đối với Bùi Văn S.

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 55 của Bộ luật Hình sự đối với Bùi Văn T.

Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự ;

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Tuyên bố: bị cáo Bùi Văn S phạm tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" và "Tàng trữ trái phép chất ma túy"; Xử phạt bị cáo Bùi Văn S 14 (mười bốn) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và 31 (ba mươi mốt) tháng tù về tội

9

Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt chung cả hai tội, bị cáo Bùi Văn S phải chấp hành hình phạt chung là 45 (bốn mươi lăm) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 29/8/2023.

Tuyên bố: bị cáo Bùi Văn T phạm tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" và "Tàng trữ trái phép chất ma túy"; Xử phạt bị cáo Bùi Văn T 16 (mười sáu) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và 29 (hai mươi chín) tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt chung cả hai tội, bị cáo Bùi Văn T phải chấp hành hình phạt chung là 45 (bốn mươi lăm) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 29/8/2023.

  1. Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
    • Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì ghi số 651/KL-KTHS-MT, bên trong đựng: Chất bột màu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M1 có khối lượng 0,0450 gam, ký hiệu M2 có khối lượng 0,0270 gam, đều là ma túy, loại Heroine (H) cùng vỏ, bao gói niêm phong; Một bơm kim tiêm ký hiệu A1; một mảnh giấy bạc ký hiệu A2 cùng vỏ, bao gói niêm phong. 01 phong bì niêm phong theo quy định bên trong có: 02 mảnh phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, 01 mảnh giấy viết màu trắng. 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng; 01 vỏ lọ nước cất bằng nhựa, 03 bật lửa ga đã qua sử dụng; 01 phong bì niêm phong dán kín, bên trong gồm 01 bơm kim tiêm chưa qua sử dụng;
    • Tịch thu tiêu hủy 01 ví giả da màu nâu thu giữ của S, 01 ví giả da màu nâu thu giữ của T;
    • Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu REALME vỏ màu đen đã qua sử dụng, 01 điện thoại di động Iphone vỏ màu xanh đã qua sử dụng và tờ tiền 2000 đồng.
    • Trả lại cho anh Bùi Văn H2 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung vỏ màu đen đã qua sử dụng.

    (Căn cứ ủy nhiệm chi ngày 06/12/2023; Chi tiết các vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G và Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Gia Viễn ngày 05/12/2023).

  2. Án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Bùi Văn S. Bị cáo Bùi Văn T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai, các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án 26/12/2023. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hay bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

10

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND tỉnh NB
  • - Sở tư pháp tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND huyện Gia Viễn;
  • - Chi cục THADS huyện Gia Viễn;
  • - Công an huyện Gia Viễn;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình;
  • - Bị cáo; người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ; văn phòng;
  • (Thông báo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú)

TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Lã Hoàng Giáp

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 79/2023/HS-ST ngày 26/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 79/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy + TTTPCMT
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger