Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN DẦU TIẾNG

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 79/2023/HS-ST

Ngày: 26-12-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Tùng

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trương Hữu Bình;
  2. Ông Bùi Thanh Hải.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Linh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hường - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 12 năm 2023, Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương mở phiên toà xét xử công khai dưới hình thức trực tuyến với điểm cầu trung tâm tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng và điểm cầu thành phần tại trụ sở Nhà tạm giữ Công an huyện D để xét xử vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 81/2023/TLST-HS ngày 09 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

Đặng Hồng T, sinh năm 1976, tại tỉnh Tiền Giang; nơi đăng ký thường trú: Ấp B, xã Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 6/12; con ông Đặng Hồng S (đã chết); con bà Trịnh Thị Kim P (đã chết); bị cáo có 04 anh em; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 39/QĐ-TA ngày 22/6/2020 của Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương (ngày 28/4/2021 đã chấp hành xong); bị cáo bị bắt ngày 07/6/2023 và đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện D; bị cáo có mặt tại phiên toà.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Ông Nguyễn Trung T1, sinh năm 1987; địa chỉ thường trú: 2 P, Phường G, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt tại phiên toà.

Ông Nguyễn Minh H, sinh năm 1976; địa chỉ thường trú: Ấp D, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An. Vắng mặt tại phiên toà.

Ông Lê Hoàng K, sinh năm 1998; địa chỉ thường trú: Khu V, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An. Vắng mặt tại phiên toà.

- Người tham gia tố tụng khác: Ông Nguyễn Hữu T2 – Cán bộ Nhà tạm giữ Công an huyện D tham gia phiên toà tại điểm cầu thành phần tại Nhà tạm giữ Công an huyện D, tỉnh Bình Dương.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đặng Hồng T là đối tượng nghiện ma túy và bắt đầu sử dụng ma túy từ năm 2020, loại ma túy mà T sử dụng là Methamphetamin. Khoảng 09 giờ ngày 07/6/2023, T điều khiển xe mô tô biển số 51R6- 8419 đi đến khu vực giáp ranh giữa thị xã B và thành phố T, tỉnh Bình Dương để mua ma túy của người thanh niên tên H1 (không rõ nhân thân lai lịch) với số tiền 300.000 đồng để sử dụng. Sau khi mua ma túy, T bỏ số ma túy vào cốp xe mô tô biển số 51R6-8419 rồi điều khiển xe về đoàn lô tô Mỹ Kim ở ấp H, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương để hát lô tô. Đến khoảng 23 giờ 40 phút cùng ngày, sau khi hát xong T lấy xe mô tô để chuẩn bị đi về thì bị Công an xã Đ, huyện D phát hiện, thu giữ trong cốp xe 01 gói nylon hàn kín chứa chất nghi là ma túy và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy. Cơ quan Công an đã tạm giữ 01 xe mô tô biển số 51R6-8419, Đặng Hồng T giao nộp 01 điện thoại di động hiệu SamSung Galaxy A02S, số kiểu máy SM-A025F/DS, số imei 1 352845149100390, số imei 2: 353051569100395, gắn thẻ sim số 89840200011250436837 và thẻ sim số 8984048000321180509.

Tại Kết luận giám định số 317/KL-KTHS(MT) ngày 13/6/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận: Tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamin, có khối lượng/trọng lượng 0,2119 gam.

Tại Cáo trạng số 77/CT-VKSDT ngày 08/11/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Đặng Hồng T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương trong phần tranh tụng vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Đặng Hồng T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Hồng T từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu, tiêu huỷ đối với: 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy tự chế; một bì thư được niêm phong ghi số 317/PC09 có chữ ký của cán bộ niêm phong Nguyễn Trọng H2, chữ ký Nguyễn Xuân B và hình dấu đỏ của Công an xã Đ; chữ ký của Nhan T (Cán bộ giao mẫu), Đặng Hải S1 (Cán bộ nhận mẫu), chữ ký của Đặng Hồng T và hình dấu đỏ niêm phong của phòng KTHS – Công an tỉnh B, bên trong chứa mẫu vật là ma tuý sau giám định có khối lượng là là 0,1525 gam.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu SamSung Galaxy A02s, số kiểu máy: SM-A025F/DS, số imei 1: 352845149100390, số imei 2: 353051569100395; 01 sim điện thoại số seri 89840200011250436837; 01 sim điện thoại số seri 8984048000321180509, là tài sản hợp pháp của Đặng Hồng T, T không sử dụng vào việc phạm tội nên trả lại cho T.

Đối với 01 (một) xe mô tô biển số 51R6-8419, hiệu HONDA, màu xanh - đen, số loại Wave, loại xe hai bánh từ 50-175cm³, số máy HC09E-5768866, số khung RLHHC9017Y669015, dung tích xilanh 97, mà bị cáo Đặng Hồng T điều khiển đi mua ma túy do ông Nguyễn Trung T1, địa chỉ F P, Phường G, quận P, thành phố Hồ Chí Minh đứng tên chủ sở hữu dùm ông Nguyễn Minh H. Ông H đã bán xe mô tô này cho ông Lê Hoàng K. Ông K cho bị cáo Đặng Hồng T mượn làm phương tiện đi lại và không biết T sử dụng xe mô tô này đi mua ma túy. Xét thấy đây là tài sản hợp pháp của ông K nên trả lại xe mô tô cho ông K.

Đối với đối tượng tên H1, quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch, khi nào xác định được sẽ xử lý sau.

Tại phiên tòa, bị cáo Đặng Hồng T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình.

Tại lời nói sau cùng, bị cáo Đặng Hồng T xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm quay trở về với gia đình làm người công dân tốt, có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Đặng Hồng T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, cụ thể: Vào lúc 23 giờ 40 phút ngày 07/6/2023, tại ấp H, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương, Công an xã Đ, huyện D đã bắt quả tang Đặng Hồng T tàng trữ trái phép 0,2119 gam ma túy loại Methamphetamine để nhằm mục đích sử dụng. Tại Kết luận giám định số 317/KL- KTHS(MT) ngày 13/6/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamin, có khối lượng/trọng lượng 0,2119 gam. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Như vậy, có đủ căn cứ kết luận bản Cáo trạng số 77/CT-VKSDT ngày 08/11/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Đặng Hồng T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Bị cáo Đặng Hồng T là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, có đủ khả năng nhận thức để biết hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn bất chấp hậu quả thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi, mức độ phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy mà còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương nơi xảy ra vụ án.

[4] Bị cáo là người biết rõ tác hại của việc sử dụng trái phép chất ma tuý. Bị cáo từng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 39/QĐ-TA ngày 22/6/2020 của Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Tuy nhiên, bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà nay lại thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý nhằm mục đích sử dụng, điều đó thể hiện sự coi thường pháp luật của bị cáo. Để đảm bảo công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, đặc biệt là tội phạm về ma túy trên địa bàn huyện D, tỉnh Bình Dương nói riêng và trên phạm vi cả nước nói chung nên cần xử lý bị cáo nghiêm bằng hình phạt tù có thời hạn nhằm có điều kiện để giáo dục và cải tạo thành người công dân tốt cho xã hội.

[5] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

  • [5.1] Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  • [5.2] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[6] Xét thấy bị cáo có nghề nghiệp lao động tự do, có thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[7] Về xử lý vật chứng:

[7.1] Đối với 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy tự chế; 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 317/PC09 có chữ ký của cán bộ niêm phong Nguyễn Trọng H2, chữ ký Nguyễn Hồng B1 và hình dấu đỏ của Công an xã Đ; chữ ký của Nhan T (Cán bộ giao mẫu), Đặng Hải S1 (Cán bộ nhận mẫu), chữ ký của Đặng Hồng T và hình dấu đỏ niêm phong của phòng KTHS – Công an tỉnh B, bên trong chứa mẫu vật là ma tuý sau giám định có khối lượng là là 0,1525 gam. Xét thấy đây là vật chứng của vụ án nên cần tịch thu, tiêu hủy.

[7.2] Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu SamSung Galaxy A02s, số kiểu máy: SM-A025F/DS, số imei 1: 352845149100390, số imei 2: 353051569100395; 01 (một) sim điện thoại số seri 89840200011250436837; 01 (một) sim điện thoại số seri 8984048000321180509. Xét thấy đây là tài sản hợp pháp của Đặng Hồng T nên cần trả lại cho bị cáo.

[7.3] Đối với 01 (một) xe mô tô biển số 51R6-8419, hiệu HONDA, màu xanh - đen, số loại Wave, loại xe hai bánh từ 50-175cm³, số máy HC09E-5768866, số khung RLHHC9017Y669015, dung tích xilanh 97 mà bị cáo Đặng Hồng T điều khiển đi mua ma túy do ông Nguyễn Trung T1, địa chỉ F P, Phường G, quận P, thành phố Hồ Chí Minh đứng tên chủ sở hữu dùm ông Nguyễn Minh H. Ông H đã bán xe mô tô này cho ông Lê Hoàng K. Ông K cho bị cáo Đặng Hồng T mượn làm phương tiện đi lại và không biết bị cáo T sử dụng xe mô tô này đi mua ma túy. Xét thấy, đây là tài sản hợp pháp của ông K nên cần trả lại xe mô tô cho ông K.

[8] Đối với đối tượng tên H1, quá trình điều tra, không xác định được nhân thân, lai lịch, khi nào xác định được sẽ xử lý sau.

[9] Ý kiến luận tội của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo T về phần tội danh, điều khoản truy tố, mức hình phạt cũng như đề nghị xử lý vật chứng là có căn cứ, phù hợp với các tình tiết của vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa nên được Hội đồng xét xử chấp nhận

[10] Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Đặng Hồng T phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều 38, 46, 47, 48 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào Điều 106, khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 299; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Đặng Hồng T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Đặng Hồng T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 07/6/2023.

2. Về vật chứng.

2.1. Tịch thu tiêu huỷ đối với:

01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy tự chế;

01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 317/PC09 có chữ ký của cán bộ niêm phong Nguyễn Trọng H2, chữ ký Nguyễn Hồng B1 và hình dấu đỏ của Công an xã Đ; chữ ký của Nhan T (Cán bộ giao mẫu), Đặng Hải S1 (Cán bộ nhận mẫu), chữ ký của Đặng Hồng T và hình dấu đỏ niêm phong của phòng KTHS – Công an tỉnh B, bên trong chứa mẫu vật là ma tuý sau giám định có khối lượng là 0,1525 gam.

2.2. Trả lại cho bị cáo Đặng Hồng T:

01 (một) điện thoại di động hiệu SamSung Galaxy A02s, số kiểu máy: SM-A025F/DS, số imei 1: 352845149100390, số imei 2: 353051569100395;

01 (một) sim điện thoại số seri 89840200011250436837;

01 (một) sim điện thoại số seri 8984048000321180509.

2.3. Trả lại cho ông Lê Hoàng K:

01 (một) xe mô tô biển số 51R6-8419, hiệu HONDA, màu xanh - đen, số loại Wave, loại xe hai bánh từ 50-175cm³, số máy HC09E-5768866, số khung RLHHC9017Y669015, dung tích xilanh 97 (tình trạng tại thời điểm giao nhận xe đã cũ, không có gương chiếu hậu bên phải, không có yếm chắn gió trước).

Các vật chứng trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương đang quản lý theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 22/11/2023 giữa Công an huyện D và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm:

Buộc bị cáo Đặng Hồng T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng).

4. Về quyền kháng cáo:

4.1. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án (ngày 26/12/2023).

4.2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND huyện Dầu Tiếng;
  • - Cơ quan CSĐT Công an huyện Dầu Tiếng;
  • - Chi cục THADS H. Dầu Tiếng;
  • - Phòng Hồ sơ-Công an tỉnh Bình Dương;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - UBND xã Đăng Hưng Phước ;
  • - Lưu: Hồ sơ, văn thư.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn Tùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 79/2023/HS-ST ngày 26/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 79/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đặng Hồng T tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger