Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ NGHI SƠN

TỈNH THANH HÓA

Bản án số: 79/2024/HNGĐ-ST

Ngày 26-9-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thanh Huyền

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mai Đức Danh và ông Nguyễn Đắc Hưng

Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Vân Ánh - Là Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện VKSND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên tòa:

Ông Lâm Ngọc Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Nghi Sơn, mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 199/2024/TLST-HNGĐ ngày 22/7/2024 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 106/2024/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 53/2024/QĐ-HPT ngày 10/9/2024 của TAND thị xã Nghi Sơn giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lưu Thị H - Sinh năm 1988 (có mặt)

Địa chỉ: A Khu phố H, phường L, TP T, tỉnh Bình Dương.

Bị đơn: Anh Lê Đăng T - Sinh năm 1983 (vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai cũng như trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Lưu Thị H trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Lê Đăng T kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T (nay là phường T, thị xã N), tỉnh Thanh Hóa vào ngày 15/11/2013. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không hiểu nhau, không có sự chia sẻ trong cuộc sống. Vợ chồng đã ly thân từ tháng 6/2023 đến nay, mỗi người ở một nơi, không quan tâm đến nhau. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Lê Đăng T.

Về con chung: Chị và anh T có 02 con chung là: Lê Gia N, sinh ngày 08/9/2014 và Lê Đăng Minh K, sinh ngày 02/8/2017. Hiện nay cháu Gia N đang ở cùng chị H; cháu Minh K đang ở cùng anh T. Nay vợ chồng ly hôn, chị có nguyện vọng đề nghị Tòa án giao cháu Gia N cho chị được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Minh K cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Chị H làm nghề giáo viên, thu nhập ổn định trung bình khoảng 13.500.000đ/tháng.

Về tài sản và công nợ: Chị H không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Ý kiến trình bày của anh Lê Đăng T tại bản tự khai như sau:

Về hôn nhân: Anh và chị H tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, Thanh Hóa vào ngày 15/11/2013. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc và có 02 con chung. Đến tháng 3/2023 vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, chị H đòi ly hôn và cho rằng vợ chồng sống không có hạnh phúc, dẫn đến vợ chồng cãi nhau. Gia đình hai bên có khuyên bảo hòa giải nhưng vợ không nghe và nhất quyết đòi ly hôn. Nay anh được Tòa án thị xã Nghi Sơn mời lên làm việc thì anh không đồng ý ly hôn.

Về con chung: Chị và anh T có 02 con chung là: Lê Gia N, sinh ngày 08/9/2014 và Lê Đăng Minh K, sinh ngày 02/8/2017. Vợ chồng anh chị đã không ở cùng nhau khoảng một năm nay. Cháu Gia N đang ở cùng chị H ở tỉnh Bình Dương; cháu Minh K đang ở cùng anh ở phường T, thị xã N, Thanh Hóa. Anh không đồng ý ly hôn nên không đặt ra vấn đề nuôi con.

Về tài sản và công nợ: Anh không yêu cầu tòa án giải quyết.

Cháu Lê Đăng Minh K trình bày nguyện vọng xin được ở với bố.

Cháu Lê Gia N trình bày nguyện vọng xin được ở với mẹ.

Kết quả xác minh tại địa phương: Anh Lê Đăng T và chị Lưu Thị H có tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T (nay là thị xã N), tỉnh Thanh Hóa vào ngày 15/11/2023. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh chị đi làm ăn sinh sống tại tỉnh Bình Dương. Đến khoảng tháng 6/2023 anh T về nhà bố mẹ đẻ sinh sống tại tổ dân phố Đ, phường T, thị xã N, Thanh Hóa, chỉ có anh T và con trai của anh chị về, không thấy chị H cùng về chung sống. Nguyên nhân mâu thuẫn như thế nào thì địa phương không nắm được, chỉ nghe nói là anh chị có mâu thuẫn, anh chị ly thân, không ở với nhau, chị H ở trong miền nam còn anh T sinh sống tại địa phương. Anh chị có 02 con chung là cháu Lê Gia N, sinh ngày 08/9/2014 và Lê Đăng Minh K, sinh ngày 02/8/2017. Hiện tại cháu Minh K sống cùng anh T tại địa phương, cháu Gia N sống cùng với chị H ở miền nam.

Tại phiên tòa, chị H giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị không thể quay lại chung sống với anh T được nên chị mong muốn tòa án sớm giải quyết cho chị được ly hôn để ổn định cuộc sống.

Đại diện VKS phát biểu quan điểm: Về tố tụng: Quá trình thiết lập hồ sơ vụ án, Thẩm phán, HĐXX và Thư ký đã thực hiện đúng theo quy định tại điều 48,49,51 Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đúng quy định tại điều 70,71,72 Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung: Căn cứ các Điều 51,56,57,58,81,82,83 Luật Hôn nhân và gia đình. Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H, cho chị H được ly hôn anh T; về con chung: Giao cháu Lê Đăng Minh K cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Lê Gia N cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con; về tài sản và công nợ: anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Về án phí: Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Đây là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng Dân sự. Anh Lê Đăng T đã được tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vắng mặt tại phiên tòa, vì vậy HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt anh T theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

[2] Xét yêu cầu của chị Lưu Thị H:

[2.1] Về hôn nhân:

Chị H và anh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T (nay là phường T, thị xã N), Thanh H2 vào ngày 15/11/2013 như vậy là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, anh chị phát sinh mâu thuẫn bất đồng quan điểm. Thực tế anh chị đã ly thân, không còn chung sống với nhau hơn một năm nay. Chị H có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải. Anh T có đề nghị Tòa án cho anh thêm thời gian để vợ chồng hàn gắn tình cảm, tuy nhiên, kể từ thời điểm chị H nộp đơn khởi kiện đến nay, anh T không có biện pháp gì để cải thiện tình cảm vợ chồng, hiện tại anh chị vẫn ly thân, không quan tâm đến nhau.

Như vậy hôn nhân giữa chị H và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy việc chị H yêu cầu ly hôn anh T là có cơ sở, phù hợp với quy định tại các Điều 51,56 của Luật hôn nhân gia đình nên được chấp nhận.

[2.2] Về con chung: Anh chị có 02 con chung là: Cháu Lê Gia N, sinh ngày 08/9/2014 và cháu Lê Đăng Minh K, sinh ngày 02/8/2017. Chị H và anh T đều có điều kiện để nuôi dạy con tốt. Hiện nay cháu Gia N đang ở cùng chị H, cháu Minh K đang ở cùng anh T. Vì vậy, để đảm bảo sự ổn định của các con, nên giao cháu Gia N cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Minh K cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, phù hợp với nguyện vọng của cả hai cháu.

[4] Về tài sản và vay nợ: Anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[5] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

Điều 8, Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

Khoản 2 Điều 21; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273; Điều 278; khoản 1 Điều 280 của Bộ luật tố tụng Dân sự 2015;

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng Án phí và Lệ phí Tòa án; Tiểu mục 1.1, Mục 1, Phần II Danh mục án phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lưu Thị H.

- Về hôn nhân: Chị Lưu Thị H được ly hôn anh Lê Đăng T.

- Về con chung: Anh chị có 02 con chung là: Cháu Lê Gia N, sinh ngày 08/9/2014 và cháu Lê Đăng Minh K, sinh ngày 02/8/2017. Giao cháu Lê Gia N cho chị Lưu Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Giao cháu Lê Đăng Minh K cho anh Lê Đăng T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con.

Anh T và chị H được quyền thăm nom con chung không ai được cản trở, nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con chung, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn.

- Về tài sản và công nợ: Anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về án phí: Chị H phải nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ chị đã nộp theo biên lai thu số 0007244 ngày 22/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn. Chị H đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hoá;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hoá;
  • - VKSND thị xã Nghi Sơn;
  • - Chi cục THADS thị xã Nghi Sơn;
  • - UBND phường Trúc Lâm;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ




Nguyễn Thanh Huyền

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 79/2024/HNGĐ-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 79/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger