Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MƯỜNG LA

TỈNH SƠN LA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 79/2024/HS-ST

Ngày 26-4-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thu Hà.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lò Văn Khẹt và bà Nguyễn Thị Hương

- Thư ký phiên toà: Ông Quàng Công Thành - Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Mường La, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La tham gia phiên

tòa: Ông Bế Hoàng Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 81/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/2024/ QĐXXST-HS ngày 15 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Giàng Thị B, sinh ngày 01/01/1967, tại N, M, Sơn La; Nơi ĐKHKTT: Bản G, xã N, huyện M, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hoá: 0/12; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng, đoàn thể: Không; Con ông Giàng A S, (đã chết) và con bà Mùa Thị V, sinh năm 1948; có chồng là Mùa A L, sinh năm 1962 và có 05 con, lớn nhất sinh năm 1992, nhỏ nhất sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Chưa có án tích hoặc xử lý, xử phạt vi phạm hành chính khác; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/12/2023; Bị cáo có mặt tại phiên toà.

Người bào chữa: Ông Nguyễn Phương V1, Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý, thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh S. Có mặt.

Người làm chứng:

Quàng Văn D, sinh năm 1998. Địa chỉ: Bản M, xã N, huyện M, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.

Đèo Văn Q, sinh năm 1994. Địa chỉ: Bản M, xã N, huyện M, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.

Người phiên dịch: Bà Vàng Thị D1. Địa chỉ: Tiểu khu C, thị trấn Í, huyện M, tỉnh Sơn La. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 20 giờ 10 phút ngày 16/12/2023, công an xã N, huyện M phát hiện, bắt quả tang Quàng Văn D, Đèo Văn Q đang có hành vi sử dụng trái phép Heroine tại nhà của Giàng Thị B thuộc bản G, xã N, huyện M, tỉnh Sơn La. Quàng Văn D, Đèo Văn Q khai nhận vừa mua Heroine của Giàng Thị B để sử dụng. Giàng Thị B tự giác giao nộp 01 gói nilon màu trắng, bên trong chứa các cục màu trắng Giàng Thị B khai nhận là H để sử dụng và bán kiếm lời.

Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Giàng Thị B. Vật chứng thu giữ:

  • - 01 gói nilon màu trắng, bên trong chứa các cục màu trắng nghi là H.
  • - Tiền Ngân hàng N 90.000 đồng.
  • - 02 chiếc xi lanh đã qua sử dụng.

Ngày 17/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M và Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La tiến hành bóc mở niêm phong và cân tịnh vật chứng thu giữ. Kết quả xác định: 01 gói nilon màu trắng bên trong chứa cục bột màu trắng có khối lượng cân tịnh là 0,18 gam, lấy ra 0,07 gam làm mẫu giám định ký hiệu B; còn lại 0,11 gam ký hiệu B1 nhập kho vật chứng. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M ra quyết định trưng cầu giám định số 175. Tại kết luận giám định số 80 ngày 21/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh S kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu B là ma túy, loại Heroine, khối lượng mẫu gửi giám định B là 0,07 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,18 gam loại Heroine. Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.

Ngày 18/12/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã ra quyết định trưng cầu giám định số 176 về loại tiền đối với 01 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng và 02 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng. Tại kết luận giám định số 72 ngày 21/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh S đã kết luận: Số tiền 90.000 đồng gửi giám định là tiền thật.

Giàng Thị BQuàng Văn D, Đèo Văn Q khai nhận: Khoảng 14 giờ ngày 16/12/2023 Giàng Thị B gặp một người đàn ông dân tộc Mông (không biết tên, tuổi, địa chỉ) tại khu vực bản G, xã N, huyện M, Giàng Thị B đã mua được

của người này 01 gói Heroine với số tiền 100.000 đồng. Sau khi mua được Heroine Giàng Thị B mang về chia thành 03 gói nhỏ với mục đích để sử dụng và bán kiếm lời. Khoảng 20 giờ cùng ngày khi Giàng Thị B đang ở nhà thì có Đèo Văn Q đến hỏi mua ma túy, Giàng Thị B đồng ý bán cho Đèo Văn Q 01 gói Heroine với số tiền 50.000 đồng. Khi B vừa bán ma túy cho Đèo Văn Q thì Quàng Văn D đến hỏi mua ma túy, Giàng Thị B đồng ý bán cho Quàng Văn D 01 gói Heroine với số tiền 40.000 đồng. Sau khi đưa H cho Quàng Văn DĐèo Văn Q, Giàng Thị B vào giường ngủ còn Quàng Văn D, Đèo Văn Q lấy xi lanh mang theo từ nhà ra để sử dụng Heroine tại bếp nhà Giàng Thị B (Du và Q không xin phép Bâu để sử dụng ma túy, B không biết việc D và Q sử dụng ma túy tại bếp nhà mình). Khi DQ đang sử dụng ma túy thì bị Công an xã N, huyện M bắt quả tang.

Đối với người đàn ông theo lời khai của Giàng Thị B là người đã bán Heroine cho Giàng Thị B vào ngày 16/12/2023, Giàng Thị B không biết tên, tuổi, địa chỉ của người đàn ông này, việc trao đổi, mua bán ma túy không có ai biết hoặc chứng kiến. Ngoài lời khai của Giàng Thị B Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M không thu thập được tài liệu chứng cứ nào khác nên không có căn cứ để mở rộng điều tra vụ án.

Đối với Quàng Văn D, Đèo Văn Q là người mua Heroine của Giàng Thị B vào ngày 16/12/2023: Do nghiện ma túy nên Quàng Văn D, Đèo Văn Q mua ma túy của Giàng Thị B để sử dụng, ngoài ra không có mục đích nào khác. Số Heroine Quàng Văn D, Đèo Văn Q mua của Giàng Thị B đã sử dụng hết, Quàng Văn D, Đèo Văn Q chưa có tiền án tiền sự nên hành vi của Quàng Văn D, Đèo Văn Q không đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự. Ngày 14/01/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Quàng Văn D, Đèo Văn Q là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Tại Bản cáo trạng số 44/CT-VKS-ML ngày 11/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La truy tố bị cáo Giàng Thị B về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Giàng Thị B đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Giàng Thị B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015: Xử phạt Giàng Thị B từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm 06 tháng tù giam; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Đối với vật chứng của vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015:

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì công văn của Công an tỉnh S được niêm phong dán kín, (gồm có: 01 vỏ phong bì niêm phong cũ đã bóc mở, 01 mảnh nilon màu trắng, 01 túi nilon màu trắng ký hiệu B1 = 0,11 gam); 02 chiếc xi lanh đã qua sử dụng.

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 90.000 đồng.

Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Toà án: Đề nghị miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo.

Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo khẳng định bị cáo bị khởi tố, truy tố, xét xử về tội Mua bán trái phép chất ma túy là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Song đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng chính sách khoan hồng của Đảng, pháp luật Nhà nước và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì bị cáo là người dân tộc sống ở vùng điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, trình độ hiểu biết, nhận thức hạn chế, sau khi phạm tội đã ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo. Đề nghị miễn án phí và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, vì bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, thu nhập không ổn định, tài sản không có giá trị lớn.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố, bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng của bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M; Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người bào chữa, người làm chứng, người phiên dịch không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tố tụng: Người làm chứng Quàng Văn D, Đèo Văn Q vắng mặt nhưng đã có lời khai có trong hồ sơ và được công bố tại phiên tòa, việc vắng mặt không gây trở ngại cho việc giải quyết vụ án nên căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quyết định xét xử vắng mặt người làm chứng.

[3] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Giàng Thị B thừa nhận: Ngày 16/12/2023 bị cáo Giàng Thị B đã có hành vi cất giấu trái phép 0,18 gam Heroine với mục đích để bán kiếm lời. Ngoài ra cũng vào ngày 16/12/2023 bị cáo Giàng Thị B đã có hành vi bán trái phép 01 gói Heroine cho Đèo Văn Q với số tiền 50.000 đồng, bán trái phép 01 gói Heroine cho Quàng Văn D với số tiền 40.000 đồng.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả điều tra được chứng minh như sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, thông báo kết quả giám định vật chứng của vụ án, lời khai của người làm chứng, người chứng kiến.

Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Giàng Thị B đã thực hiện hành vi Mua bán trái phép chất ma túy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội Mua bán trái phép chất ma túy, được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình làm là nguy hiểm cho xã hội và bản thân, nhưng do nghiện ma túy và hám lời bất chính nên bị cáo đã thực hiện tội phạm. Hành vi cất giấu trái phép Heroine để sử dụng và bán kiếm lời và hành vi bán trái phép Heroine cho Quàng Văn D, Đèo Văn Q của bị cáo Giàng Thị B được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, tội phạm bị cáo thực hiện đã hoàn thành. Hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo là thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự và an toàn xã hội ở địa phương.

[4] Về tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Toà cần xem xét áp dụng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, vì sau khi phạm tội và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.

[5] Về hình phạt

Về hình phạt chính: Tòa cần xem xét cân nhắc xử phạt bị cáo mức hình phạt phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi thực hiện tội phạm của

bị cáo. Việc cách ly bị cáo một thời gian là cần thiết, có như vậy mới có thể đảm bảo được điều kiện và thời gian để bị cáo cải tạo, giáo dục trở thành người tốt có ích cho xã hội và gia đình, đồng thời nhằm răn đe phòng ngừa giáo dục chung.

Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 251 quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét điều kiện, hoàn cảnh của bị cáo, bị cáo thu nhập không ổn định, tài sản không có gì giá trị lớn, bị cáo không có khả năng thi hành, Toà cần xem xét không áp dụng đối với bị cáo.

[6] Đối với người đàn ông bán trái phép chất ma túy cho bị cáo Giàng Thị B, cơ quan chức năng không có cơ sở chứng minh, xử lý.

Đối với Quàng Văn D, Đèo Văn Q: Do nghiện ma túy nên Quàng Văn D, Đèo Văn Q mua ma túy của Giàng Thị B để sử dụng, ngoài ra không có mục đích nào khác. Số Heroine Quàng Văn D, Đèo Văn Q mua của Giàng Thị B đã sử dụng hết, Quàng Văn D, Đèo Văn Q chưa có tiền án tiền sự nên hành vi của Quàng Văn D, Đèo Văn Q không đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự. Ngày 14/01/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Quàng Văn D, Đèo Văn Q là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Đối với hành vi của Quàng Văn D, Đèo Văn Q sử dụng ma túy tại nhà Giàng Thị B: Quàng Văn D, Đèo Văn Q không xin phép Giàng Thị B, Giàng Thị B không biết việc Quàng Văn D, Đèo Văn Q sử dụng ma túy tại nhà mình. Do đó không có căn cứ xem xét trách nhiệm hình sự đối với Giàng Thị B theo quy định tại Điều 256 Bộ luật Hình sự “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”.

[7] Về vật chứng của vụ án:

01 phong bì công văn của Công an tỉnh S được niêm phong dán kín, (gồm có: 02 vỏ phong bì niêm phong cũ đã bóc mở, 01 mảnh nilon màu trắng, 01 túi nilon màu trắng ký hiệu B1 = 0,11 gam). Là phương tiện bị cáo dùng thực hiện tội phạm, là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

Tiền Ngân hàng N 90.000 đồng. Là tiền do bị cáo Giàng Thị B phạm tội mà có, cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

02 chiếc xi lanh nhựa đã qua sử dụng. Là vật không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

[8] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, bị cáo và người bào chữa xin miễn nộp tiền án phí. Theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Toà án bị cáo thuộc trường hợp được miễn án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015:

Tuyên bố: bị cáo Giàng Thị B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Xử phạt bị cáo Giàng Thị B 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù giam về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 17/12/2023).

- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015:

Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì công văn của Công an tỉnh S được niêm phong dán kín, (gồm có: 02 vỏ phong bì niêm phong cũ đã bóc mở, 01 mảnh nilon màu trắng, 01 túi nilon màu trắng ký hiệu B1 = 0,11 gam); 02 chiếc xi lanh nhựa.

T tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 90.000₫ (Chín mươi nghìn đồng).

(Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/4/2024 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện M và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường La).

3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Toà án: Miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Giàng Thị B.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 26/4/2024.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sơn La;
  • - VKSND huyện Mường La (2);
  • - Công an huyện Mường La;
  • - Bị cáo;
  • - Người bào chữa;
  • - Trại giam CA tỉnh Sơn La;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La;
  • - Chi cục THADS huyện Mường La;
  • - THA hình sự;
  • - Lưu: Hồ sơ, án văn.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

(Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu)

Lê Thị Thu Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 79/2024/HS-ST ngày 26/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA về hình sự (mua bán trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 79/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án số 79 ngày 26.4.2024 Giàng Thị B phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger