|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 79/2024/HS-ST |
|
|
Ngày: 25 – 9 – 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU - TỈNH NGHỆ AN
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – chủ toạ phiên toà: Ông Hà Văn Đông.
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Lương Văn Duẩn.
2/ Bà Phan Thị Duệ.
Thư ký phiên toà: Bà Vị Hải Yến – Thư ký Toà án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Lâm – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 71/2024/TLST – HS ngày 30 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Lê Văn V, tên gọi khác: Không; sinh năm: 1990 tại huyện Q, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Bản K, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Q và bà Ngô Thị T; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/5/2024 đến nay. (Có mặt)
2. Họ và tên: Nguyễn Đình Q1, tên gọi khác: Không; sinh năm: 1986 tại huyện Q, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Bản Đ, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đình T1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị C; có vợ là Bùi Thúy H (đã ly hôn) và 01 người con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Năm 2004 bị Chủ tịch UBND tỉnh N ra Quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, thời hạn là 09 tháng theo Quyết định số 4145/QĐ-UB.NC ngày 01/11/2004. Năm 2019 bị Tòa án nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo bản án Hình sự sơ thẩm số 58/2019/HSST ngày 28/11/2019, chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/5/2021 (đã được xóa án tích); bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/5/2024 đến nay. (Có mặt)
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đình Q1: Bà Nguyễn Thị Quỳnh T2 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N – Công tác tại Chi nhánh trợ giúp pháp lý Nhà nước số 2, thị xã T, tỉnh Nghệ An. (Có mặt)
Người làm chứng: Ông Nguyễn Sỹ M, sinh năm: 1956, trú tại: xóm G, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do cùng là người nghiện chất ma túy quen biết nhau từ trước đó, vào khoảng 19 giờ 45 phút ngày 06/5/2024 Lê Văn V gọi điện thoại cho Nguyễn Đình Q1 nhờ tìm mua hộ ma túy (loại hồng phiến) để sử dụng và được Q1 đồng ý, qua trao đổi V muốn mua 07 (bảy) viên hồng phiến và được Q1 cho biết giá mỗi viên hồng phiến là 100.000đ (một trăm nghìn đồng) đồng thời phải trả thêm tiền công cho Q1 là 100.000đ (một trăm nghìn đồng), tổng cộng V phải đưa cho Q1 số tiền là 800.000đ (tám trăm nghìn đồng). Sau đó V sử dụng số tài khoản 0971662190 Ngân hàng Q2 (MB) mang tên Lê Văn V chuyển qua số tài khoản 3613205139353 của Nguyễn Đình Q1 tại Ngân hàng N (A) số tiền 800.000₫ (tám trăm nghìn đồng). Nhận được tiền qua chuyển khoản, do không có phương tiện nên Q1 hỏi mượn xe mô tô mang biển kiểm soát 37L1-151.88 của ông Nguyễn Sỹ M nói dối để đi công việc cá nhân một chút, sau đó Q1 điều khiển xe mô tô di chuyển theo hướng đi xã Y, huyện Q, tỉnh Nghệ An tìm mua ma túy, trên đường đi Việt tiếp tục gọi điện thoại cho Q1 nhờ mua thêm 05 (năm) viên ma túy hồng phiến nữa, đồng thời chuyển khoản thêm số tiền 500.000đ (năm trăm nghìn đồng). Sau khi nhận được tổng số tiền 1.300.000đ (một triệu ba trăm nghìn đồng) qua tài khoản, để có tiền mặt Q1 đến quán của anh Lương Ngọc T3, sinh năm 1987, trú tại bản Kẻ Móng, xã C, huyện Q, nhờ chuyển tiền từ tài khoản của mình qua tài khoản của anh T3 để nhận tiền mặt và được anh T3 đồng ý (anh T3 không biết Q1 nhờ rút tiền mặt nhằm mục đích làm gì). Sau khi có tiền mặt Q1 xuống khu vực xã Y, huyện Q tìm mua ma túy, đến khu vực sân bóng xã Y thì Q1 gặp một người đàn ông không quen biết có biểu hiện của người sử dụng chất ma túy nên Q1 hỏi, khi biết người đàn ông có ma túy bán Q1 hỏi mua 12 (mười hai) viên hồng phiến cho V và 100.000đ (một trăm nghìn đồng) loại heroine cho mình để sử dụng đồng thời đưa số tiền 1.300.000đ (một triệu ba trăm nghìn đồng) cho người đàn ông, người đàn ông nhận tiền xong rời khỏi đó một lúc quay trở lại đưa cho Q1 01 (một) túi nilon màu trắng bên trong có chứa 12 (mười hai) viên hồng phiến và 01 (một) gói nhỏ ma túy bên trong chứa chất rắn màu trắng. Mua được ma túy Q1 quay trở về, khoảng 21 giờ 30 phút khi về đến khu vực bản Đ, xã C, huyện Q thì bị lực lượng Công an huyện Q yêu cầu kiểm tra hành chính phát hiện bắt quả tang, thu giữ trong lòng bàn tay phải của Q1 01 (một) túi nilon màu trắng bên trong có chứa 12 (mười hai) viên nén màu hồng đồng dạng (nghi là ma túy tổng hợp) và 01 (một) gói nhỏ bên trong có chứa chất rắn màu trắng bên ngoài được bọc bằng mảnh giấy màu trắng (nghi là ma túy). Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng đưa về trụ sở điều tra làm rõ để xử lý theo quy định. Tối cùng ngày, sau khi biết Q1 bị phát hiện bắt giữ V đã tự nguyện đến cơ quan Cảnh sát Công an huyện Q để đầu thú và khai nhận toàn bộ sự việc.
Tại biên bản mở niêm phong vật chứng xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại, lập ngày 07/5/2024 của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q, tỉnh Nghệ An, xác nhận bên trong gói niêm phong có:
- - 01 (một) gói nilon màu trắng, bên trong chứa 12 (mười hai) viên nén đồng dạng màu hồng (nghi là ma túy), có tổng khối lượng cả bì là 1,76g (Một phẩy bảy mươi sáu gam), sau khi loại bỏ bao bì, 12 (mười hai) viên nén đồng dạng màu hồng có tổng khối lượng là 1,26g (Một phẩy hai mươi sáu gam). Cán bộ kỹ thuật hình sự trích 0,29g (Không phẩy hai mươi chín gam) viên nén màu hồng đồng dạng nêu trên đưa đi giám định tính chất ma túy.
- - 01 (một) gói bọc bằng mảnh giấy màu trắng, bên trong có chứa chất rắn màu trắng (nghi là ma túy), có tổng khối lượng cả bì là 0,15g (Không phẩy mười lăm gam), sau khi loại bỏ bao bì, chất rắn màu trắng có khối lượng là 0,06g (Không phẩy không sáu gam). Cán bộ kỹ thuật hình sự trích lấy toàn bộ chất rắn màu trắng nêu trên đưa đi giám định tính chất ma túy.
- - Số vật chứng còn lại sau khi lấy mẫu giám định bao gồm: 0,97g (Không phẩy chín mươi bảy gam) các viên nén đồng dạng màu hồng, túi nilon màu trắng, mảnh giấy màu trắng và vỏ bao niêm phong cũ sau khi kiểm tra, lấy mẫu xong được niêm phong lại theo quy định.
Kết luận giám định số: 506/KL-KTHS(Đ2-MT), ngày 12/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: “- Mẫu chất rắn màu trắng (ký hiệu M1) thu giữ của Nguyễn Đình Q1 gửi tới giám định là ma túy; loại Heroine (H), có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.
- - Số chất rắn màu trắng thu giữ của Nguyễn Đình Q1 có khối lượng là 0,06g (không phẩy không sáu gam).
- - Mẫu viên nén đồng dạng màu hồng thu giữ của Nguyễn Đình Q1 gửi tới giám định là ma túy; loại Methamphetamine. Các viên nén đồng dạng màu hồng thu giữ của Nguyễn Đình Q1 có tổng khối lượng là 1,26g (một phẩy hai mươi sáu gam)."
Bản cáo trạng số: 77/CT-VKS-QC ngày 29/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An, truy tố các bị cáo Lê Văn V và Nguyễn Đình Q1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c và điểm i khoản 1 Điều 2s49 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 58 Bộ luật hình sự.
- - Xử phạt bị cáo Lê Văn V từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam.
- - Áp dụng điểm i khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình Q1 từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam.
Buộc các bị cáo chịu tiền án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật, ngoài ra đề nghị không áp dụng thêm hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị tịch thu tiêu hủy vật chứng còn lại gồm 0,97g (Không phẩy chín mươi bảy gam) các viên nén đồng dạng màu hồng được xác định là ma túy (Methamphetamine), túi nilon màu trắng, mảnh giấy màu trắng và vỏ bao niêm phong cũ sau khi kiểm tra, lấy mẫu xong được niêm phong lại theo đúng quy định.
Đề nghị tịch thu hóa giá sung ngân sách Nhà nước đối với 02 (hai) chiếc điện thoại di động thu giữ của các bị cáo là công cụ, phương tiện sử dụng vào mục đích phạm tội. Đối với chiếc xe mô tô quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của ông Nguyễn Sỹ M, việc bị cáo mượn xe nhằm mục đích phạm tội ông M hoàn toàn không biết, nên cơ quan điều tra Công an ra quyết định trả lại tài sản cho chủ sở hữu, do đó đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét thêm.
Lời bào chữa của người bào chữa cho bị cáo Q1: Không có ý kiến tranh luận gì về tội danh, điều luật áp dụng và khung hình phạt, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, cân nhắc đến các yếu tố đây là vụ án phạm tội đồng phạm giản đơn, bản thân bị cáo sinh sống tại vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, có tình hình tội phạm về ma túy phức tạp, phạm tội nhằm mục đích để có ma túy sử dụng thỏa mãn cơn nghiện, không nhằm mục đích thu lợi bất chính, gia đình thuộc diện khó khăn, trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Từ những phân tích đã nêu đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là hợp lý. Đối với vật chứng đề nghị Hội đồng xét xử lưu tâm đến ý kiến của bị cáo và ngoài ra đề nghị xem xét không áp dụng thêm hình phạt bổ sung đối với bị cáo, về các vật chứng khác và án phí đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phần tranh luận các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, bị cáo Q1 không bổ sung thêm vào lời bào chữa cho mình. Lời nói sau cùng tại phiên tòa các bị cáo nhận tội và xin xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo và người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa vắng mặt người làm chứng, tuy nhiên quá trình điều tra đã có lời khai đầy đủ, làm rõ những nội dung liên quan, phù hợp với lời khai nhận của các bị cáo, căn cứ vào Điều 293 Bộ luật tố tụng Hình sự Hội đồng xét xử vụ án vắng mặt người làm chứng là đúng quy định.
[2] Những chứng cứ xác định có tội: Căn cứ những tài liệu, chứng cứ cơ quan điều tra Công an thu thập có tại hồ sơ vụ án như biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại; biên bản mở niêm phong kiểm tra dữ liệu điện thoại di động và niêm phong lại; bản ảnh trích xuất dữ liệu giao dịch tài khoản ngân hàng; kết luận giám định; bản tự khai, biên bản hỏi cung, lấy lời khai của bị cáo và người liên quan, phù hợp với lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa, cũng như những tài liệu, chứng cứ khách quan khác thu thập có trong hồ sơ, đủ căn cứ xác định:
Trong khi tiến hành tuần tra làm nhiệm vụ tại khu vực bản Đ, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An, tổ công tác Công an huyện Q kiểm tra hành chính phát hiện, bắt quả tang bị cáo Nguyễn Đình Q1 đang có hành vi cầm trong lòng bàn tay phải 01 (một) túi nilon màu trắng, bên trong có chứa 12 (mười hai) viên nén màu hồng đồng dạng được xác định là ma túy (Methamphetamine) có tổng trọng lượng sau khi loại bỏ bao bì là 1,26g (một phẩy hai mươi sáu gam) và 01 (một) gói nhỏ bên ngoài được bọc bằng mảnh giấy màu trắng chứa chất rắn màu trắng được xác định là ma túy (Heroine) có trọng lượng sau khi loại bỏ bao bì là 0,06g (không phẩy không sáu gam). Sau khi bị bắt bị cáo Q1 khai nhận số ma túy hồng phiến 12 (mười hai) viên nén đồng dạng màu hồng được bị cáo Lê Văn V nhờ mua hộ để sử dụng, gói ma túy Heroine là của Q1 mua sử dụng, số tiền mua ma túy và tiền công V chuyển cho Q1 đi mua ma túy là 1.300.000đ (một triệu ba trăm nghìn đồng) Q1 đã mua ma túy hết. Sau khi biết tin Q1 bị phát hiện bắt quả tang bị cáo V đã tự nguyện ra đầu thú và khai nhận toàn bộ sự việc.
Hành vi của các bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c và i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, theo như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi phạm tội của các bị cáo có tính chất nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất gây nghiện, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, an ninh xã hội tại địa phương, bởi ma túy là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và bệnh truyền nhiễm khác. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của chất ma túy cũng như việc thực hiện các hành vi trái phép liên quan đến ma túy là vi phạm pháp luật, bản thân bị cáo Q1 đã từng bị xử lý hình sự về hành vi liên quan đến tội phạm ma túy nhưng không lấy đó làm bài học chịu khó tu dưỡng, rèn luyện bản thân, chỉ để nhằm thỏa mãn nhu cầu bất hợp pháp của cá nhân mà các bị cáo đã cố ý phạm tội, nên cần lên cho các bị cáo mức án nghiêm, phù hợp với vai trò, tính chất, mức độ phạm tội của mỗi bị cáo, do đó cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để các bị cáo được giáo dục, cải tạo, sửa chữa lỗi lầm trở thành người công dân tốt, sống có ích cho xã hội và răn đe giáo dục phòng ngừa chung.
Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, không có sự bàn bạc, phân công vai trò, lên kế hoạch từ trước. Trong vụ án bị cáo Lê Văn V là người khởi xướng, chuyển tiền nhờ bị cáo Nguyễn Đình Q1 đi mua ma túy để sử dụng và phải chịu trách nhiệm hình sự đối với khối lượng 12 (mười hai) viên ma túy hồng phiến (Methamphetamine) là 1,26g (một phẩy hai mươi sáu gam), tuy nhiên bị cáo trước khi phạm tội có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ do đó cần xem xét chịu mức án thấp hơn bị cáo Q1. Đối với bị cáo Nguyễn Đình Q1 có vai trò là người thực hiện tích cực hành vi phạm tội, mặc dù biết rõ bị cáo V nhờ mua ma túy với mục đích sử dụng, nhưng để nhận được tiền công 100.000đ (một trăm nghìn đồng) sử dụng mua ma túy bị cáo đã đồng ý thực hiện nên phải chịu trách nhiệm hình sự đối với toàn bộ khối lượng của cả hai loại ma túy là 1,32g (một phẩy ba mươi hai gam), bản thân bị cáo có một tình tiết giảm nhẹ, đã từng bị xử lý về hành vi liên quan đến tội phạm ma túy, nên cần buộc bị cáo chịu mức án cao hơn bị cáo V là phù hợp.
[4] Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra sau khi sự việc bị phát hiện bị cáo Lê Văn V đã tự nguyện ra đầu thú, người thân có công được tặng Huân chương kháng chiến nên được xem xét là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, các bị cáo có thể bị áp dụng thêm các hình phạt bổ sung. Tuy nhiên theo tài liệu, chứng cứ thu thập có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa cho thấy các bị cáo là lao động tự do không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, gia đình thuộc diện hộ cận nghèo, khó khăn và đang bị tạm giam, không có tài sản riêng và khả năng thi hành án, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình thêm phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[6] Căn cứ vào lời khai nhận của bị cáo Nguyễn Đình Q1 Cơ quan điều tra Công an đã tiến hành điều tra, xác minh về người đàn ông bán ma túy cho bị cáo tại khu vực sân bóng xã Y, huyện Q, tỉnh Nghệ An, nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch nên không có cơ sở để điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật.
Anh Lương Ngọc T3 là người đồng ý cho bị cáo Q1 chuyển qua tài khoản của mình số tiền 1.300.000đ (một triệu ba trăm nghìn đồng) và giao lại tiền mặt cho bị cáo Q1, tuy nhiên anh T3 không biết việc bị cáo xin nhờ rút tiền mặt sử dụng vào mục đích gì, do đó không xem xét trách nhiệm đối với anh T3 là có căn cứ và đúng quy định.
[7] Về vật chứng: Khối lượng ma túy (Methamphetamine) sau khi đưa đi giám định còn lại 0,97g (Không phẩy chín mươi bảy gam) là chất thuộc danh mục Nhà nước cấm tàng trữ, sử dụng, lưu hành dưới mọi hình thức cần tịch thu tiêu hủy, những vật chứng khác gồm túi nilon màu trắng, mảnh giấy màu trắng và vỏ bao niêm phong cũ là những vật không có giá trị và giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Hai chiếc điện thoại di động tạm giữ của các bị cáo được xác định là công cụ, phương tiện sử dụng vào mục đích phạm tội, do đó cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước theo quy định.
Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 37L1-151.88 được xác định là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ông Nguyễn Sỹ M, bị cáo mượn xe sử dụng vào mục đích phạm tội chủ sở hữu không biết và không có lỗi, do đó tại giai đoạn điều tra cơ quan điều tra Công an huyện đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là đúng quy định.
[8] Về án phí: Buộc bị cáo chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 và Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Văn V 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 06/5/2024.
Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 và Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình Q1 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 06/5/2024.
2. Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì thư đã được niêm phong, mặt trước ghi “Vật chứng còn lại thuộc vụ Nguyễn Đình Q1 và đồng bọn – Tàng trữ trái phép chất ma túy xảy ra vào ngày 06/5/2024 tại xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An”, bên trong có 0,97g (không phẩy chín mươi bảy gam) các viên nén đồng dạng màu hồng (giám định là Methamphetamine), túi nilon màu trắng, mảnh giấy màu trắng và vỏ bao niêm phong cũ.
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu SAMSUNG, số loại GALAXY A51 màu đen và 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu VIVO, số loại Y22s, màu xanh. (Vật chứng nêu trên có đặc điểm chi tiết theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng lập ngày 30/8/2024 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An).
3. Án phí: Căn cứ vào Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo Lê Văn V và Nguyễn Đình Q1 chịu án phí Hình sự sơ thẩm mỗi bị cáo là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo. Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Hà Văn Đông |
Bản án số 79/2024/HS-ST ngày 25/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU, TỈNH NGHỆ AN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 79/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: V có nhu cầu sử dụng ma túy nhưng không biết nơi bán nên gọi diện thoại nhờ Q mua hộ và được Q đồng ý với điều kiện trả tiền công cho Q là 100.000đ, V nhờ Q mua hộ 12 viên ma túy tổng hợp (Methamphetamine) với số tiền mỗi viên là 100.000đ, cộng thêm tiền công V đã chuyển khoản qua số tài khoản của Q là 1.300.000đ, sau khi rút tiền Q đã đi mua 12 viên ma túy đồng thời sử dụng tiền trả công mua cho mình 01 gói nhỏ ma túy Heroine để sử dụng. Tổng khối lượng 12 viên ma túy Methamphetamine là 1,26g, gói ma túy Heroine có khối lượng là 0,06g.
