|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 79/2023/HNGĐ-ST Ngày: 25-8-2023 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hiếu.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Ngọc Côn.
Ông Mạc Vương Long.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Minh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Thắm - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 103/2023/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 83/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Đức H, sinh năm 1994; trú tại Tổ dân phố L, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Phương T, sinh năm 1999; trú tại thôn K, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 26-02-2023, bản tự khai trong quá trình làm việc tại Tòa án, nguyên đơn là anh Nguyễn Đức H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và chị Nguyễn Thị Phương T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang vào ngày 27/7/2021. Vợ chồng chỉ sống chung được thời gian ngắn và nảy sinh mâu thuẫn từ tháng 10 năm 2022. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung về nhiều vấn đề trong cuộc sống, nhất là trong vấn đề nuôi dưỡng con chung. Vợ chồng đã ly thân từ tháng 02 năm 2023 đến nay. Trong thời gian ly thân vợ chồng không liên lạc, hỏi thăm gì nhau, không ai còn quan tâm đến ai nữa. Nay anh thấy tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với chị T.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Diệp C, sinh năm 17/01/2022. Nay ly hôn, anh nhất trí để con chung cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con chung, anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung, vợ chồng tự thỏa thuận.
Về công nợ chung: Anh xác định vợ chồng không nợ ai, không ai nợ vợ chồng nên không yêu cầu giải quyết.
Tại Biên bản lấy lời khai, bị đơn chị Nguyễn Thị Phương T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Đức H kết hôn tự nguyện, có thời gian tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang vào năm 2021. Sau khi kết hôn, chị về nhà anh H làm dâu ngay. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 10-2022 thì nảy sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống nên xảy ra cãi vã, xô xát, vợ chồng ly thân từ tháng 02 năm 2023 đến nay. Anh H1 không đến nói chuyện, không đón chị về. Nay anh H xin ly hôn thì chị thấy vợ chồng không còn khả năng đoàn tụ nên nhất trí ly hôn với anh H.
Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Nguyễn Diệp C, sinh năm 17/01/2022. Do con chung còn nhỏ, chưa đủ 36 tháng tuổi và đang sống cùng chị nên chị đề nghị Tòa án giao con chung cho chị trực tiếp nuôi dưỡng và không yêu cầu anh H cáp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về công nợ chung: Vợ chồng không nợ ai, không ai nợ vợ chồng nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên toà:
Nguyên đơn là anh Nguyễn Đức H và bị đơn chị Nguyễn Thị Phương T vắng mặt và có đơn xin vắng mặt. Hội đồng xét xử công bố lời khai của các đương sự và tóm tắt nội dung vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, Điều 280- Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83- Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 6, Điều 27- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Đức H được ly hôn chị Nguyễn Thị Phương T.
- Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Phương T trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Diệp C, sinh năm 17/01/2022 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về tài sản chung, công nợ chung: Không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Anh Nguyễn Đức H phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu số 0003930 ngày 24-3-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án: Anh Nguyễn Đức H có đơn xin ly hôn, giải quyết về nuôi con đối với chị Nguyễn Thị Phương T. Bị đơn chị Nguyễn Thị Phương T có hộ khẩu thường trú tại thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Hội đồng xét xử xác định: Về quan hệ pháp luật đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1, Điều 28- Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Về thẩm quyền: Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang, theo quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 35; điểm a, khoản 1, Điều 39- Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa, nguyên đơn anh Nguyễn Đức H và bị đơn chị Nguyễn Thị Phương T vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại Điều 227, Điều 228, Điều 238- Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử giải quyết theo thủ tục chung và xét xử vắng mặt anh H, chị T.
[3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Đức H kết hôn với chị Nguyễn Thị Phương T trên cơ sở có sự tự do tìm hiểu, tự nguyện, đăng ký kết hôn vào ngày 27 tháng 7 năm 2021 tại Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Do vậy, quan hệ hôn nhân của anh Nguyễn Đức H và chị Nguyễn Thị Phương T là hợp pháp. Anh, chị chung sống được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung về nhiều vấn đề trong cuộc sống. Cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Hiện nay anh H và chị T không còn sống chung, ly thân từ tháng 02 năm 2023. Quá trình giải quyết vụ án, anh H giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn chị T. Bị đơn chị Nguyễn Thị Phương T cũng đồng ý ly hôn với anh H. Hội đồng xét xử thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa anh Nguyễn Đức H và chị Nguyễn Thị Phương T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1, Điều 51; khoản 1, Điều 53; khoản 1, Điều 56- Luật Hôn nhân và gia đình xử cho anh Nguyễn Đức H được ly hôn chị Nguyễn Thị Phương T.
[3.2] Về con chung: Anh Nguyễn Đức H và chị Nguyễn Thị Phương T có một con chung là Nguyễn Diệp C, sinh năm 17/01/2022. Nay ly hôn, anh H và chị T đều thống nhất giao con chung cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử thấy con chung của vợ chồng còn nhỏ, chưa đủ 36 tháng tuổi, cháu đang sống cùng chị T. Để đảm bảo sự phát triển về mọi mặt của con chung, Hội đồng xét xử thấy cần giao cháu Nguyễn Diệp C cho chị Nguyễn Thị Phương T trực tiếp nuôi dưỡng theo quy định tại Điều 81, 82, 83- Luật Hôn nhân và gia đình. Việc cấp dưỡng nuôi con không đặt ra xem xét, giải quyết do các đương sự không yêu cầu.
[3.3] Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản (công nợ): Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[4] Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4, Điều 147- Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5, Điều 27- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, buộc anh Nguyễn Đức H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
[5] Từ những phân tích nêu trên, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, Điều 273- Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, Điều 280- Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83- Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 6, Điều 27- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Đức H được ly hôn chị Nguyễn Thị Phương T.
- Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Phương T trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Diệp C, sinh ngày 17/01/2022 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra xem xét, giải quyết. Sau khi ly hôn, anh Nguyễn Đức H có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.
- Về án phí: Anh Nguyễn Đức H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003930 ngày 24 tháng 3 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang. Xác nhận anh Nguyễn Đức H đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn là anh Nguyễn Đức H, bị đơn là chị Nguyễn Thị Phương T không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (đã ký) Nguyễn Văn Hiếu |
Bản án số 79/2023/HNGĐ-ST ngày 25/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 79/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/08/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 25 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 103/2023/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
