|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 79/2024/HSST Ngày: 24-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Thanh Trúc
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Vũ Thị Ngọc Phan
2. Ông Nguyễn Hồng Thăng
- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Huyền My - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình tham gia phiên tòa: Ông Trần Anh Hiếu- Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2024 tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý 77/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn Q, tên gọi khác: Không; sinh ngày 25/4/1996 tại Bắc Giang; nơi cư trú: Thôn T, xã V, huyện T, tỉnh Bắc Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1974 và con bà Trần Thị L, sinh năm 1975; bị cáo chưa có vợ, con;
Tiền án: 01. Tại Bản án số 315/2018/HSST ngày 30/11/2018, Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh xử phạt Nguyễn Văn Q 30 tháng tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy. Chấp hành xong án phạt tù ngày 12/4/2021 nhưng chưa chấp hành xong tiền phạt bổ sung và án phí hình sự sơ thẩm.
Tiền sự: 01. Tại Quyết định xử phạt hành chính số 38/QĐ-XPHC ngày 09/11/2023, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh B, xử phạt Nguyễn Văn Q 1.500.000 đồng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy. Q chưa nộp phạt.
Hiện đang bị tạm giam tại Nhà giữ Công an huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Bị cáo bị bắt từ ngày 04/7/2024 cho đến nay (Có mặt)
* Bị hại: Chị Vũ Thị P, sinh năm 1983; nơi cư trú: Xóm Q, xã D, huyện P, tỉnh Thái Nguyên (Có mặt)
* Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1974; nơi cư trú: Xóm T, xã V, huyện T, tỉnh Bắc Giang (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 14/5/2024, Nguyễn Văn Q là người không có nghề nghiệp đi bộ lang thang ngoài đường mục đích xem ai sơ hở trong việc quản lý tài sản sẽ trộm cắp để bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. Khoảng 11 giờ cùng ngày, Q đi đến xưởng nhà chị Vũ Thị P ở xóm Q, xã D, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, Q thấy bên trong xưởng nhà chị P để ba chiếc xe mô tô mà không có người trông coi, Q nảy sinh ý định trộm cắp xe mô tô. Q đi đến cửa nhà đứng quan sát một lúc không thấy có người, Q đi qua cửa vào trong nhà xưởng nhìn thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, màu xanh, gắn biển kiểm soát 98D1-611.39 cắm chìa khóa tại ổ khóa xe. Q dùng tay phải mở khóa, ngồi lên xe mô tô, lùi xe ra khỏi nhà chị P đi ra ngoài đường. Q khởi động, nổ máy rồi điều khiển xe mô tô đi về nhà tại thôn T, xã V, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Q kiểm tra chiếc ba lô treo trên xe và trong cốp xe thấy có một chiếc túi xách màu nâu, bên trong có số tiền 220.000 đồng và nhiều đồ vật, tài liệu: 02 cờ lê, giấy đăng ký xe mô tô, căn cước công dân, giấy phép lái xe. Đến ngày 16/5/2024, Q điều khiển xe trộm cắp trên đến khu vực tỉnh Bắc Ninh (Q không nhớ địa điểm cụ thể) gặp và bán cho một người đàn ông không quen biết với số tiền 2.700.000 đồng. Q tiêu sài cá nhân hết số tiền bán xe là 2.700.000 đồng và 220.000 đồng tiền để trong túi xách. Đối với chiếc ba lô, túi xách màu nâu và các đồ vật, giấy tờ trong túi xách, Q mang theo bên người.
Ngày 17/5/2024 quá trình tuần tra đảm bảo an ninh trật tự, Công an phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh phát hiện Q có nhiều biểu hiện nghi vấn đã tiến hành làm việc với Q. Q khai nhận hành vi trộm cắp tài sản vào ngày 14/5/2024 tại xã D và tự nguyện giao nộp các đồ vật, giấy tờ cho cơ quan Công an. Công an phường Đ đã bàn giao hồ sơ, tài liệu cho Công an xã D, huyện P giải quyết.
Về phía chị Vũ Thị P, khi nghe thấy tiếng xe mô tô nổ máy chị chạy lên không thấy chiếc xe mô tô BKS 98D1-611.39, chị hô hoán mọi người tìm kiếm nhưng không thấy nên chị đã đến Công an xã D.
Sau khi tiếp nhận tin báo, Công an xã D tiến hành xác minh, trích xuất dữ liệu camera giải quyết theo quy định. Ngày 17/5/2024, Công an xã D tiếp nhận hồ sơ, tài liệu do Công an phường Đ bàn giao đồng thời triệu tập Nguyễn Văn Q đến làm việc. Cùng ngày, Công an xã D hồ sơ vụ việc cho Công an huyện P giải quyết theo thẩm quyền.
Tại Kết luận định giá tài sản số 32/KL-HĐĐGTS ngày 06 tháng 6 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P, kết luận: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại Nozza Grande, BKS 98D1 -611.39, màu sơn xanh, số khung: RLCSE7610GY120075, số máy: E3N4E -128932, tình trạng xe cũ đã qua sử dụng, khởi động các chức năng hoạt động bình thường. Thời điểm định giá: tháng 5/2024. Giá tài sản là 11.850.000 đồng.
Tại Kết luận định giá tài sản số 39/KL-HĐĐGTS ngày 08 tháng 7 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P, kết luận: 01 cà lê vòng miệng trên thân có ký hiệu “8”, có dòng chữ “YETL USA Standard" và CHROME VANADIUM, cũ đã qua sử dụng có giá trị là 6.000 đồng; 01 cà lê hai đầu vặn một đầu 8, một đầu 10 trên thân có ký hiệu “8”, “10”, có dòng chữ “MADE IN CHINA", "DIAMOND”, cũ đã qua sử dụng có giá trị 8.000 đồng; 01 ba lô bằng vải, trên túi có chữ “Nol”, không có nhãn mác nhà sản xuất, không bị rách, nát, hư hỏng các bộ phận, cũ đã qua sử dụng có giá trị là 90.000 đồng; 01 túi đeo màu nâu, PU giả da, không có nhãn mác nhà sản xuất, không bị rách, nát, hư hỏng các bộ phận, cũ đã qua sử dụng có giá trị là 80.000 đồng. Thời điểm định giá: tháng 5/2024. Giá tài sản là 184.000 đồng.
Tại cơ quan điều tra, Q khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, vật chứng thu giữ, kết luận định giá tài sản và các tài liệu thu thập được trong quá trình điều tra.
* Vật chứng của vụ án:
- + 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại Nozza Grande, BKS 98D1-611.39, màu sơn xanh, tình trạng xe cũ đã qua sử dụng và 220.000 đồng tiền Ngân hàng N chưa thu hồi được.
- + Vật chứng là đồ vật, tài sản Q giao nộp cho Cơ quan Công an gồm:
- - 01 Căn cước công dân số [...], 01 chứng minh thư nhân dân số [...], 01 giấy phép lái xe ô tô hạng B2 số [...], 01 giấy phép lái xe số AM870056 đều mang tên Hoàng Quốc T; 01 căn cước công dân số [...] có giá trị đến ngày 02/10/2043, 01 căn cước công dân số [...] có giá trị đến ngày 02/10/2023, 01 chứng minh thư nhân dân số [...] cấp ngày 25/9/2001, 01 chứng minh thư nhân dân số [...] cấp ngày 09/12/2014, 01 giấy phép lái xe số AH480187 đều mang tên Vũ Thị P; 01 đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 20H4-1766; 01 đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 20H5-9891; 01 cà lê 8, trên cà lê có chữ "YETL USA Standard"; 01 cà lê 8, trên cà lê có chữ "MADE IN CHINA"; 01 ba lô, trên túi có chữ “Nol”; 01 túi đeo màu nâu, được cho vào thùng niêm phong ký hiệu “P”. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản của chị P để trong balo, túi xách để trong cốp xe mô tô biển kiểm soát 98D1- 611.39. Công an huyện P trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Vũ Thị P.
- - 01 vam bằng kim loại, hình chữ T; 01 chìa khóa, trên thân chìa khóa có chữ “HONDA P108"; 01 chìa khóa, trên chìa khóa có hình ngôi sao; 01 túi đeo màu đen, trên túi có chữ “OUMU", được cho vào thùng niêm phong ký hiệu “Q”;
- - 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO A5s, màu đỏ, bộ nhớ 32G, số IMEI 1:868683046169292, số IMEI 2: 868683046169284, tình trạng cũ đã qua sử dụng, niêm phong trong bì thư ký hiệu “Q1”;
- - 01 căn cước công dân số [...] mang tên NGUYỄN VĂN Q, sinh ngày 25/4/1996, nơi thường trú: V, T, Bắc Giang, niêm phong trong bì thư ký hiệu "Q2".
* Về trách nhiệm dân sự: Chị P yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 12.000.000 đồng.
Cáo trạng số 79/CT -VKSPB ngày 09 tháng 9 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình đã truy tố bị cáo Q về tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận: Bản thân không có nghề nghiệp, lại muốn có tiền tiêu sài cá nhân nên đã nảy sinh ý định đi lang thang dọc đường xem có nhà nào sơ hở để trộm cắp tài sản. Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 14/5/2024, Q đi đến xưởng nhà chị P thấy bên trong xưởng để ba chiếc xe mô tô mà không có người trông coi, Q này sinh ý định trộm cắp xe. Q đứng quan sát không thấy có người, Q đi qua cửa vào trong thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, biển kiểm soát 98D1-611.39 cắm chìa khóa tại ổ khóa xe. Q dùng tay phải mở khóa, ngồi lên xe mô tô, lùi xe ra khỏi nhà đi ra ngoài đường rồi khởi động, nổ máy điều khiển xe mô tô đi về nhà. Q kiểm tra chiếc ba lô treo trên xe và trong cốp xe thấy có một chiếc túi xách màu nâu, bên trong có số tiền 220.000 đồng cùng nhiều đồ vật, tài liệu. Đến ngày 16/5/2024, Q điều khiển xe trộm cắp trên đến khu vực tỉnh Bắc Ninh gặp và bán cho một người đàn ông không quen biết với số tiền 2.700.000 đồng. Q tiêu sài cá nhân hết số tiền bán xe và 220.000 đồng tiền để trong túi xách. Đối với chiếc ba lô, túi xách màu nâu và các đồ vật, giấy tờ trong túi xách, Q mang theo bên người. Ngày 17/5/2024 tại Công an phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh Q khai nhận hành vi trộm cắp tài sản vào ngày 14/5/2024 tại xã D và tự nguyện giao nộp các đồ vật, giấy tờ cho cơ quan Công an.
Bị hại trình bày: Năm 2018 tôi có mua xe mô tô BKS 98D1-611.39 tại cửa hàng xe máy tại Bắc Giang và sử dụng từ đó cho đến nay. Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 14/5/2024, tôi đi làm về đến nhà có dựng chiếc xe trên tại khu vực xưởng của nhà, chìa khóa vẫn cắm tại ổ khóa điện. Khoảng 05 phút sau nghe thấy tiếng xe máy nổ và rồ ga đi. Tôi chạy ra thì không thấy xe mô tô BKS 98D1-611.39, tôi hô hoán mọi người tìm kiếm nhưng không thấy nên đã đến Công an xã D. Trong xe có 01 túi xách màu nâu trong túi có 220.000 đồng và nhiều giấy tờ liên quan: căn cước công dân, giấy phép lái xe. Công an huyện P đã trả tài sản, đồ vật gồm các loại giấy tờ, 02 cà lê, 01 ba lô, 01 túi xách. Đến nay không thu hồi được chiếc xe mô tô và số tiền 220.000 đồng nên yêu cầu bị cáo phải bồi thường tổng số tiền 12.000.000 đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình sau khi tóm tắt nội dung vụ án, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, xem xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã kết luận giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
* Về hình phạt chính: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự; Xử phạt: Bị cáo Q từ 24 đến 30 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
* Về vật chứng của vụ án:
- + Tịch thu tiêu hủy 01 vam bằng kim loại, hình chữ T; 01 chìa khóa, trên thân chìa khóa có chữ “HONDA P108"; 01 chìa khóa, trên chìa khóa có hình ngôi sao; 01 túi đeo màu đen, trên túi có chữ “OUMU".
- + Tạm giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5s, màu đỏ, bộ nhớ 32G, tình trạng cũ đã qua sử dụng của bị cáo để đảm bảo thi hành án.
+ Trả lại cho bị cáo 01 căn cước công dân số [...] mang tên NGUYỄN VĂN Q, sinh ngày 25/4/1996, nơi thường trú: V, T, Bắc Giang
* Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; các Điều 357, 468, 584, 585, 586 và Điều 589 Bộ luật dân sự: Buộc bị cáo bồi thường cho chị P số tiền 12.000.000 đồng.
* Về án phí và quyền kháng cáo: Miễn án phí sơ thẩm cho bị cáo. Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không tranh luận, thừa nhận việc truy tố và xét xử không oan, đúng người, đúng tội.
Phần lời nói sau cùng bị cáo xin được hưởng sự khoan hồng của pháp luật, cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về quyết định, hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện trong vụ án đều hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi của mình đúng như nội dung cáo trạng đã truy tố, lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên toà là hoàn toàn tự nguyện, khách quan và phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án như: Vật chứng thu giữ, lời khai của bị hại, kết luận định giá tài sản. Như vậy, có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xác định: Hồi 11 giờ ngày 14/5/2024, Nguyễn Văn Q là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp đã có hành vi lén lút vào nhà xưởng của chị Vũ Thị P trộm cắp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, BKS 98D1 – 611.39, đã qua sử dụng có giá trị là 11.850.000 đồng, 220.000 đồng tiền Ngân hàng N, 01 cà lê đã qua sử dụng có giá trị là 6.000 đồng; 01 cà lê đã qua sử dụng có giá trị 8.000 đồng; 01 ba lô bằng vải đã qua sử dụng có giá trị là 90.000 đồng; 01 túi đeo màu nâu có giá trị là 80.000 đồng và một số giấy tờ tùy thân của chị P. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 12.254.000 đồng.
Hành vi phạm tội của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Nội dung điều luật quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự và làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo là người có đủ nhận thức về hành vi của mình, song không chịu lao động để tạo ra thu nhập mà lại muốn hưởng thụ nên đã nảy sinh trộm cắp tài sản, chiếm đoạt tài sản của người khác để bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. Xét cần phải xét xử bị cáo với mức án nghiêm phù hợp với hành vi bị cáo gây ra, buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo đồng thời góp phần đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung.
[4] Xét về nhân thân các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo có nhân thân xấu, đã bị Tòa án xét xử nhiều lần về hành vi chiếm đoạt tài sản nhưng không lấy đó làm bài học mà tiếp tục phạm tội thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo. Trong vụ án này bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ là “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[5] Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng" do đó bị cáo còn có thể bị phạt bổ sung bằng hình phạt tiền. Tuy nhiên các tài liệu có trong hồ sơ và lời khai tại phiên tòa xác định bị cáo không nghề nghiệp, không có tài sản. Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về vật chứng của vụ án:
- [6.1] 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại Nozza Grande, BKS 98D1- 611.39, màu sơn xanh, tình trạng xe cũ đã qua sử dụng chưa thu hồi được. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P ra Quyết định truy tìm vật số 673/QĐ -TT ngày 17/6/2024.
- [6.2] Số tiền 220.000 đồng tiền Ngân hàng N;
- [6.3] 01 Căn cước công dân số [...], 01 chứng minh thư nhân dân số [...], 01 giấy phép lái xe ô tô hạng B2 số [...], 01 giấy phép lái xe số AM870056 đều mang tên Hoàng Quốc T; 01 căn cước công dân số [...] có giá trị đến ngày 02/10/2043, 01 căn cước công dân số [...] có giá trị đến ngày 02/10/2023, 01 chứng minh thư nhân dân số [...] cấp ngày 25/9/2001, 01 chứng minh thư nhân dân số [...] cấp ngày 09/12/2014, 01 giấy phép lái xe số AH480187 đều mang tên Vũ Thị P; 01 đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 20H4-1766; 01 đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 20H5-9891; 01 cà lê 8, trên cà lê có chữ "YETL USA Standard"; 01 cà lê 8, trên cà lê có chữ "MADE IN CHINA"; 01 ba lô, trên túi có chữ “Nol”; 01 túi đeo màu nâu, được cho vào thùng niêm phong ký hiệu “P”. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản của chị P có balo, túi xách trong cốp xe mô tô biển kiểm soát 98D1- 611.39. Công an huyện P trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là chị P quản lý và sử dụng.
- [6.3] Tịch thu tiêu hủy 01 vam bằng kim loại, hình chữ T; 01 chìa khóa, trên thân chìa khóa có chữ “HONDA P108"; 01 chìa khóa, trên chìa khóa có hình ngôi sao; 01 túi đeo màu đen, trên túi có chữ “OUMU".
- [6.4] Tạm giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5s, màu đỏ, bộ nhớ 32G, tình trạng cũ đã qua sử dụng của bị cáo để đảm bảo thi hành án.
- [6.5] Trả lại cho bị cáo 01 căn cước công dân số [...] mang tên NGUYỄN VĂN Q, sinh ngày 25/4/1996, nơi thường trú: V, T, Bắc Giang
[7] Về trách nhiệm dân sự:
[7.1]. Bị hại chị Vũ Thị P yêu cầu bồi thường giá trị của chiếc xe máy và số tiền 220.000 đồng để trong cốp xe, tổng số tiền là 12.000.000 đồng. Bị cáo nhất trí bồi thường. Hội đồng xét xử ghi nhận thỏa thuận tại phiên tòa bị cáo bồi thường cho chị P tổng số tiền là 12.000.000 đồng.
[8] Về án phí: Bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo, căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn án phí sơ thẩm cho bị cáo.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[10] Về các vấn đề khác: Đối với người đàn ông mua chiếc xe mô tô do Nguyễn Văn Q trộm cắp, Q khai không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P không có đủ căn cứ để xác minh làm rõ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội "Trộm cắp tài sản"
2. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS: Xử phạt bị cáo Q 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/7/2024.
Căn cứ vào Điều 329 BLTTHS: Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
3. Vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự:
3.1. Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) thùng niêm phong còn nguyên vẹn được dán kín có dấu đỏ ký hiệu Q bên trong có chứa 01 vam bằng kim loại, hình chữ T; 01 chìa khóa, trên thân chìa khóa có chữ “HONDA P108"; 01 chìa khóa, trên chìa khóa có hình ngôi sao; 01 túi đeo màu đen, trên túi có chữ “OUMU".
3.2. Tạm giữ 01 (một) bì thư niêm phong còn nguyên vẹn được dán kín có dấu đỏ ký hiệu Q1 bên trong có chứa 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO A5s, màu đỏ, bộ nhớ 32G, số IMEI 1: 868683046169292, số IMEI 2: 868683046169284, tình trạng cũ đã qua sử dụng của bị cáo để đảm bảo thi hành án.
3.3. Trả lại cho bị cáo 01 (một) bì thư niêm phong còn nguyên vẹn được dán kín có dấu đỏ ký hiệu Q2 bên trong có chứa 01 căn cước công dân số [...] mang tên NGUYỄN VĂN Q, sinh ngày 25/4/1996, nơi thường trú: V, T, Bắc Giang.
(Tình trạng vật chứng như biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 17/9/2024 giữa Công an huyện P và Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên).
4. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật dân sự: Bị cáo bồi thường cho chị Vũ Thị P, sinh năm 1983; nơi cư trú: Xóm Q, xã D, huyện P, tỉnh Thái Nguyên số tiền 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án chậm thi hành án thì phải chịu lãi suất đối với số tiền chậm thi hành án theo quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
5. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí đối với bị cáo Q.
Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo, bị hại có mặt biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
Trường hợp bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 của Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trương Thị Thanh Trúc |
Bản án số 79/2024/HSST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 79/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
