Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ NGHI SƠN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-

Bản án số: 79/2024/HS-ST

Ngày: 24-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Văn Bắc

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Dương

2. Ông Mai Đức Danh

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Ông Phạm Xuân Thảnh - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 5 năm 2024, tại Hội trường tổ dân phố T, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 38/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 85/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn V - Sinh ngày 12/5/1990, tại phường T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn C (Đã chết); con bà: Nguyễn Thị L, sinh năm 1955; Vợ: Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1991; Có 03 con, lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân:

  • - Ngày 15/9/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Tĩnh Gia (nay là Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn) xử phạt 09 tháng cải tạo không giam giữ về tội đánh bạc theo Bản án số 115/2017/HSST. Nguyễn Văn V đã chấp hành xong bản án và đương nhiên được xóa án tích.
  • - Ngày 28/8/2014, bị Công an huyện T (nay là Công an thị xã N) xử phạt vi phạm hành chính về hành vi cố ý gây thương tích.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 22/01/2024 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã N. (có mặt)

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị Đ – Sinh năm 1991; Nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt)

* Người làm chứng:

  • - Anh Nguyễn Hữu B – Sinh năm 2001; Nơi cư trú: Tổ dân phố N, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt)
  • - Anh Lê Công M – Sinh năm 2001; Nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 07/01/2024, Nguyễn Hữu B, sinh năm 2001, trú tại tổ dân phố N, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa sử dụng số điện thoại 0813.406.xxx gọi đến số điện thoại 0964.014.xxx của Nguyễn Văn V hỏi mua 300.000 đồng “Cỏ Mỹ” để sử dụng, V đồng ý và hẹn B đến nhà của V để lấy. Sau đó, B cùng đi với Lê Công M, sinh năm 2001, trú tại tổ dân phố T, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa đến nhà V, B đưa tiền cho V thì được V đưa cho B 03 điếu thuốc tự chế và 01 túi ni lông màu trắng, viền đỏ chứa sợi thảo mộc khô “Cỏ Mỹ”. Sau khi mua được “Cỏ Mỹ”, B mang đến khu vực bãi đất trống gần đó lấy ra một điếu sử dụng thì cảm thấy đau đầu, khó chịu, gây ra ảo giác, cảm giác mạnh giống như ma túy nên B đã đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã N trình báo sự việc và giao nộp 02 điếu “Cỏ Mỹ” còn lại và túi nilon chứa sợi thảo mộc và được Cơ quan Cảnh sát điều tra niêm phong trong phong bì ký hiệu B1.

Ngày 07/01/2024, Cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn V tại tổ dân phố T, phường T, thị xã N, thu giữ:

  • - 32 túi nilon màu trắng viền màu đỏ (Niêm phong trong phong bì ký hiệu B); 78 mảnh giấy có dòng kẻ (Niêm phong trong phong bì ký hiệu G);
  • - Tiền Việt Nam đồng: 2.650.000 đồng (gồm 2.000.000 đồng niêm phong trong phong bì ký hiệu K và 650.000 đồng Niêm phong trong phong bì ký hiệu N);
  • - 01 túi nilon màu vàng bên trong chứa vỏ cây thuốc lá T, vỏ bao thuốc lá Thăng L1, các mảnh giấy được xé ra từ điếu thuốc lá, các đầu lọc điếu thuốc lá được đựng trong 01 hộp giấy dán kín bởi chữ ký, chữ viết của những người tham gia và hình dấu của Công an phường T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPhone 6S, số I: 355414072094372, bên trong lắp sim số 0929.549.888, đã qua sử dụng (Niêm phong trong phong bì ký hiệu ĐT);
  • - 01 cái kéo kim loại và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu hồng, bên trong lắp sim điện thoại 096401793.

Ngày 08/01/2024, Nguyễn Văn V đến Công an thị xã N đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi bán “Cỏ Mỹ” cho Nguyễn Hữu B như đã nêu trên, đồng thời giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu hồng, bên trong lắp sim điện thoại 0964.017.xxx, là chiếc điện thoại mà V đã sử dụng để liên lạc giao dịch bán “Cỏ Mỹ” cho B.

Tại Bản kết luận giám định số 125/KL-KTHS ngày 10 tháng 01 năm 2024, Phòng K Công an tỉnh T kết luận:

  • • Tìm thấy chất ma túy, loại: MDMB-FUBINACA trong các sợi thảo mộc màu nâu đựng trong 02 (Hai) vật hình ống niêm phong (ký hiệu B1) gửi giám định. Tổng khối lượng các sợi thảo mộc màu nâu là 2,086g (Hai phẩy không tám sáu gam).
  • • Tìm thấy chất ma túy, loại: MDMB-FUBINACA trong các sợi thảo mộc màu nâu đựng trong túi nilon màu trắng viền màu đỏ. Tổng khối lượng các sợi thảo mộc màu nâu là 1,628g (Một phẩy sáu hai tám gam).

Hiện Phòng K chưa có mẫu chuẩn định lượng MDMB-FUBINACA nên không xác định được hàm lượng, khối lượng MDMB-FUBINACA trong các mẫu gửi giám định.

Tại Kết luận giám định số 219/KL-KTHS ngày 16 tháng 01 năm 2024, Phòng K Công an tỉnh T xác định: Toàn bộ tiền thu giữ gửi giám định là tiền thật.

Tại Kết luận giám định số 220/KL-KTHS ngày 16 tháng 01 năm 2024, Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Phát hiện được 02 dấu vết đường vân không đủ yếu tố giám định trên tờ tiền mệnh giá 500.000đ và tờ tiền mệnh giá 200.000đ trong phong bì ghi chữ “K”.

Tại Bản cáo trạng số 63/CT-VKSNS ngày 02/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Nguyễn Văn V về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm a,b khoản 1 Điều 47 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 3; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án; đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V từ 26 tháng đến 28 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung; Tịch thu nộp ngân sách 300.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu hồng, số sê - ri 1: 354275382179067, bên trong lắp sim điện thoại 0964.014.xxx, trên sim có ghi số 8984048000064484920; Tịch thu tiêu hủy 1,811 gam các sợi thảo mộc màu nâu của 02 của 02 vật hình ống đều có kích thước dài khoảng 10cm; 1,345gam các sợi thảo mộc màu nâu của túi nilon màu trắng viền đỏ. 32 túi nilon màu trắng viền màu đỏ; 78 mảnh giấy có dòng; 01 túi nilon màu vàng bên trong chứa vỏ cây thuốc lá T, vỏ bao thuốc lá Thăng L1, các mảnh giấy được xé ra từ điếu thuốc lá, các đầu lọc điếu thuốc lá được đựng trong 01 hộp giấy dán kín và 01 cái kéo kim loại; Trả lại cho Nguyễn Thị Đ 2.350.000 đồng; Buộc bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không tranh luận với quan điểm luận tội của Đại diện Viện kiểm sát và xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Phân tích những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội:

Tại phiên tòa, Nguyễn Văn V khai nhận: Xuất phát từ động cơ vụ lợi nên ngày 07/01/2024, tại tổ dân phố T, phường T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa, Nguyễn Văn V đã bán cho anh Nguyễn Hữu B, sinh năm 2001, trú tại tổ dân phố N, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa, gồm 03 điếu thuốc tự chế từ các sợi thảo mộc “Cỏ Mỹ” và một túi nilon sợi thảo mộc màu nâu “Cỏ Mỹ”, kết quả giám định trong sợi thảo mộc có chứa chất ma tuý loại MDMB- FUBINACA (không xác định được hàm lượng và khối lượng ma túy) với giá 300.000 đồng. Sau khi anh B sử dụng 01 điếu Cỏ Mỹ, 02 điếu còn lại và túi sợi thảo mộc, B đã giao nộp cho cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã N, qua giám định có tổng khối lượng là 3,714 gam.

Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và phù hợp với lời khai người làm chứng. Do đó có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo có đủ các dấu hiệu cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Về nguồn gốc sợi thảo mộc “Cỏ M1” bán cho B, quá trình điều tra V khai đã mua của một đối tượng không quen biết có khoản Facebook “Đattomato”; việc giao nhận hàng và thanh toán tiền thông qua xe khách. Do thời gian đã lâu nên V không nhớ thông tin về người bán sợi thảo mộc “Cỏ Mỹ” và xe khách nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xác minh, mở rộng vụ án.

[3] Xét tính chất mức độ hành vi và hậu quả thấy rằng: Hiện nay trên địa bàn thị xã N nói riêng, cũng như trên toàn quốc nói chung, tình trạng mua bán, tàng trữ và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, đặc biệt là sợi thảo mộc “Cỏ Mỹ” đang diễn ra khá phức tạp và có chiều hướng gia tăng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, vi phạm chế độ độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước, làm gia tăng tệ nạn nghiện ma túy và cũng làm phát sinh

nhiều tệ nạn xã hội khác. Hành vi của bị cáo làm cho nhân dân hoang mang, lo sợ. Vì vậy, cần phải tuyên cho bị cáo một hình phạt thật nghiêm và cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

[4] Xét về nhân thân và trách nhiệm hình sự:

  • - Tiền án, tiền sự: không;
  • - Về nhân thân: Ngày 15/9/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Tĩnh Gia (nay là Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn) xử phạt 09 tháng cải tạo không giam giữ về tội đánh bạc. Ngày 28/8/2014, bị Công an huyện T (nay là Công an thị xã N) xử phạt vi phạm hành chính về hành vi cố ý gây thương tích.
  • - Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã ra đầu thú, thành khẩn khai báo hành vi phạm tội. Do đó bị cáo được áp dụng điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS làm tình tiết giảm nhẹ, lượng giảm cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được tính khoan hồng của pháp luật.

[5] Xét về phần hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Xét về vật chứng:

  • - Đối với 1,811 gam các sợi thảo mộc màu nâu của 02 vật hình ống đều có kích thước dài khoảng 10cm và 1,345gam các sợi thảo mộc màu nâu của túi nilon màu trắng viền đỏ, là mẫu vật còn lại sau giám định. 32 túi nilon màu trắng viền màu đỏ; 78 mảnh giấy có dòng kẻ; 01 túi nilon màu vàng bên trong chứa vỏ cây thuốc lá T, vỏ bao thuốc lá Thăng L1, các mảnh giấy được xé ra từ điếu thuốc lá, các đầu lọc điếu thuốc lá được đựng trong 01 hộp giấy dán kín và 01 cái kéo kim loại, hiện đang được nhập kho Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn theo phiếu nhập kho số NK2024/78 ngày 14/5/2024, đây là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và những vật không có giá trị sử dụng, nên cần căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS để tịch thu tiêu hủy số ma túy và toàn bộ vật chứng nêu trên cùng vỏ bao niêm phong.
  • - Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu hồng, số sê - ri 1: 354275382179067, bên trong lắp sim điện thoại 0964.014.xxx, trên sim có ghi số 8984048000064484920, hiện đang được nhập kho Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn theo phiếu nhập kho số NK2024/78 ngày 14/5/2024. Chiếc điên thoại bị cáo dùng để giao dịch bán ma túy. Do đó căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS, để tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
  • - Đối với số tiền 300.000 đồng mà bị cáo V đã bán ma túy cho anh Nguyễn Hữu B. Số tiền này đang được tạm gửi tại kho bạc nhà nước N, theo biên bản giao nhận tài sản số 07 ngày 12/3/2024 giữa Công an thị xã NKho bạc nhà nước N. Đây là số tiền bị cáo có được do thực hiện hành vi phạm tội mà có. Do đó căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm b khoản 2 Điều 106 BLTTHS, để tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
  • - Đối với số tiền 2.350.000 đồng thu giữ của bị cáo V. Số tiền này đang được tạm gửi tại kho bạc nhà nước N, theo biên bản giao nhận tài sản số 07 ngày 12/3/2024 giữa Công an thị xã NKho bạc nhà nước N. Đây là số tiền của Vợ chồng V, không liên quan đến hành vi phạm tội. Do đó căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS để trả lại cho chị C1 Nguyễn Thị Đ ( vợ của bị cáo V) là hoàn toàn chính xác.
  • - Đối với chiếc điện thoại di động Iphone 6S, sau khi kiểm tra các thông tin, dữ liệu có trong điện thoại ngày 08/01/2024 không phát hiện dữ liệu, thông tin có liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho Nguyễn Văn V theo quy định của pháp luật. Do đó Hội đồng xét xử miễn xét.

[7] Xét về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điều 3; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm a, b khoản 1 Điều 47 và Điều 38 của Bộ luật hình sự; Điểm a, b khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 3; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án và điểm 1 mục I bản danh mục án phí, lệ phí Tòa án.
  • - Tuyên bố: Nguyễn Văn V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • - Xử phạt: Nguyễn Văn V 27 (Hai mươi bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/01/2024.
  • - Về vật chứng:
    • + Tịch thu tiêu hủy 1,811 gam các sợi thảo mộc màu nâu của 02 vật hình ống đều có kích thước dài khoảng 10cm; 1,345gam các sợi thảo mộc màu nâu của túi nilon màu trắng viền đỏ (là mẫu vật còn lại sau giám định). 32 túi nilon màu trắng viền màu đỏ; 78 mảnh giấy có dòng kẻ; 01 túi nilon màu vàng bên trong chứa vỏ cây thuốc lá T, vỏ bao thuốc lá Thăng L1, các mảnh giấy được xé ra từ điếu thuốc lá, các đầu lọc điếu thuốc lá được đựng trong 01 hộp giấy dán kín và 01 cái kéo kim loại, hiện đang được nhập kho Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn theo phiếu nhập kho số NK2024/78 ngày 14/5/2024,
    • + Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu hồng, số sê- ri 1: 354275382179067, bên trong lắp sim điện thoại 0964.014.xxx, trên sim có ghi số 8984048000064484920, hiện đang được nhập kho Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn theo phiếu nhập kho số NK2024/78 ngày 14/5/2024.
    • + Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 300.000 đồng; Số tiền này đang được tạm gửi tại kho bạc nhà nước N, theo biên bản giao nhận tài sản số 07 ngày 12/3/2024 giữa Công an thị xã NKho bạc nhà nước N.
    • + Trả lại cho chị Chị Nguyễn Thị Đ 2.350.000 đồng; Số tiền này đang được tạm gửi tại kho bạc nhà nước N, theo biên bản giao nhận tài sản số 07 ngày 12/3/2024 giữa Công an thị xã NKho bạc nhà nước N.
  • - Án phí: Bị cáo Nguyễn Văn V phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo; vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - VKSND thị xã Nghi Sơn;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - CQĐT Công an thị xã Nghi Sơn;
  • - CQTHA HS Công an thị xã Nghi Sơn;
  • - Chi cục THADS thị xã Nghi Sơn;
  • - TAND tỉnh Thanh Hoá;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

(Đã ký)

Nguyễn Văn Bắc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 79/2024/HS-ST ngày 24/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 79/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NGày 07/01/2024 Nguyễn Văn V đã bán trái phép cho anh Nguyễn Hữu B 03 điếu thuốc tự chế từ các sợi thảo mộc ( cỏ mỹ) và 01 túi ny lon chứa các sợi thảo mộc ( cỏ mỹ) với giá 300.000đ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger