|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 79/2024/HS-ST
Ngày: 24 - 4 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Ngọc Loan.
- Bà Phan Thị Thủy Tiên.
- Thư ký phiên toà: Ông Đặng Thanh Tùng - Thư ký Toà án nhân dân quận Thanh Xuân.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Trương Văn Tiến - Kiểm sát viên.
Trong ngày 24/4/2024, tại Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 46/2024/TLST - HS ngày 18/3/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2024/QĐXXST - HS ngày 10/4/2024 đối với bị cáo:
Hoàng Văn L, sinh ngày: 26/12/1991 tại Thanh Hóa.
Nơi thường trú: thôn L, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn B và bà Nguyễn Thị L1; có vợ là Mai Thị Thùy D và 01 con sinh năm 2022; tiền án: không; tiền sự: không;
Nhân thân:
- Ngày 30/8/2016, bị Tòa án nhân dân quận Đống Đa xử phạt 04 năm tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/02/2019 (Bản án số 344/HSST) (đã được xóa án tích).
- Ngày 23/3/2020, bị Tòa án nhân dân quận Đống Đa xử phạt 26 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/11/2021 (Bản án số 59/HSST) (đã được xóa án tích).
Bị cáo tạm giữ ngày 04/01/2024, tạm giam từ ngày 13/01/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H. Có mặt.
- Bị hại: Chị Trần Thanh T, sinh năm 1997; nơi cư trú: số A, ngách B K, phường H, quận T, thành phố Hà Nội. Vắng mặt và có đơn xin xử vắng mặt.
- Người làm chứng: Anh Nguyễn Hoàng N, chị Nguyễn Việt N1, anh Nguyễn Hữu Đ. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có việc làm ổn định nên vào khoảng 15 giờ ngày 03/01/2024, Hoàng Văn L bắt xe khách từ xã H, huyện H, Thanh Hóa ra bến xe G, Hà Nội để tìm việc làm. Khoảng 4h ngày 04/01/2024, L bắt xe ôm đi về cầu K, quận T, Hà Nội. Khi L đi bộ trên đường K thì phát hiện nhà số A ngách B đường K, phường H, quận T, Hà Nội không đóng cửa, đèn điện trong nhà vẫn sáng, L đi vòng quanh kiểm tra, khi không thấy ai bên trong, L đã lén lút đi vào nhà số A ngách B đường K để lục lọi tìm đồ có giá trị. Tại gác xép của ngôi nhà, bị cáo quan sát thấy có 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax màu tím đặt trên gối ở đầu giường là tài sản của chị Trần Thanh T. L đã dùng tay phải cầm chiếc điện thoại cất giấu vào trong túi quần phía trước bên phải rồi lập tức đi xuống cầu thang. Khi xuống cầu thang L thấy có 01 chiếc túi xách nữ để ở bậc cầu thang, L cầm theo chiếc túi này xuống tầng 1 lục soát và trộm cắp được 01 tờ tiền polime trị giá 200.000 đồng rồi vứt lại chiếc túi xách ở sàn nhà. Sau đó, L đi bộ ra đầu ngõ và bắt xe ôm ra khu vực đường N, quận H, Hà Nội để tìm chỗ bán chiếc điện thoại trên lấy tiền tiêu xài cá nhân. Do trời chưa sáng nên L vào quán Internet số A N, phường M, quận H, Hà Nội ngồi chơi game trên tầng lửng tại quán. Khoảng 05h30 phút cùng ngày, chị Trần Thanh T về nhà và phát hiện chiếc túi của mình ở dưới sàn nhà tầng 01, đồ đạc trọng nhà có dấu hiệu bị lục lọi và bị mất trộm chiếc Iphone 14 Promax nêu trên. Qua kiểm tra định vị trên Icloud, chị T xác định được chiếc điện thoại của mình đang ở địa chỉ số A N, phường M, H, Hà Nội. Chị T có nhờ bạn là anh Nguyễn Hữu Đ và chị Nguyễn Việt N1 giúp đỡ, cùng đến địa chỉ trên để tìm điện thoại. Khoảng 7h cùng ngày, chị T, anh Đ và chị N1 đến địa chỉ trên, đi lên tầng 2 quán Internet, thấy chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 14 Promax của chị T đang để trước mặt bàn L ngồi chơi game nên đã giữ L lại rồi gọi điện báo Công an phường M, quận H, Hà Nội đến đưa về trụ sở để làm rõ. Sau khi xác minh sơ bộ ban đầu, Công an phường M đã bàn giao cho Công an phường H để điều tra theo thẩm quyền.
Vật chứng thu giữ gồm:
- 01 chiếc điện thoại Iphone 14 Promax màu tím, số IMEI 1: 359265386640904, số IMEI 2: 359265386203133 bên trong lắp sim số: 0396.066.997
- 01 điện thoại Xiaomi Mi10s màu đen có số IMEI 1: 862375059413370, IMEI 2: 862375059413388, lắp sim số: 0333.060.104
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 02/KL - ĐG ngày 09/01/2024 của Hội đồng định giá thường xuyên trong Tố tụng hình sự - UBND quận T kết luận: 01 chiếc điện thoại Iphone 14 Promax, màu tím, số IMEI 1: 359265386640904, số IMEI 2: 359265386203133, dung lượng 128Gb, đã qua sử dụng có giá trị tại thời điểm tháng 01/2024 là: 21.000.000 đồng.
Bản Cáo trạng số 42/CT-VKSTX ngày 19/3/2024 Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội đã quyết định:
Truy tố bị cáo Hoàng Văn L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và luận tội có quan điểm vẫn giữ nguyên quan điểm như nội dung Bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về hình phạt: áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Văn L từ 18 tháng tù đến 20 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/01/2024, miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại bị cáo 01 điện thoại Xiaomi Mi10s màu đen có số IMEI 1: 862375059413370, IMEI 2: 862375059413388, lắp sim số: 0333.060.104
Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì đối với luận tội và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và nói lời sau cùng: đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật và xin được nhận mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]Về hành vi, quyết định tố tụng: trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an quận T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Đánh giá về hành vi của bị cáo theo tội danh, điểm, khoản, điều của Bộ luật hình sự mà Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân đã truy tố:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Văn L đều khai nhận: do bản thân bị cáo không có công ăn việc làm ổn định nên chiều ngày 03/01/2024, bị cáo bắt xe khách từ T Hà Nội. Đến 22h cùng ngày bị cáo vào quán game gần bến xe G chơi game. Khoảng 4h ngày 04/01/2024, bị cáo bắt xe ôm đi về cầu K, do không có tiền tiêu xài nên bị cáo đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Khi đang đi bộ thì bị cáo phát hiện nhà số A, ngách B K, phường H, quận T, thành phố Hà Nội không đóng cửa, bị cáo đi vòng quanh cửa nhà không thấy ai thì bị cáo đi vào trong tầng 1 lục lọi tìm đồ có giá trị để trộm cắp. Thấy tầng 1 không có tài sản có giá trị nên bị cáo đã đi lên tầng 2 thì thấy 01 chiếc điện thoại Iphone 14 Promax màu tím ở trên đầu giường, bị cáo đã đi đến trộm cắp chiếc điện thoại trên cất giấu vào túi quần phải rồi đi xuống cầu thang. Khi đang đi xuống cầu thang thì bị cáo thấy 1 chiếc túi xách và cầm theo xuống tầng 1 kiểm tra thấy bên trong có 200.000 đồng nên đã lấy số tiền trên và rời đi. Do trời chưa sáng nên bị cáo vào quán Internet ở đường N chơi game. Đến 7h cùng ngày thì có chị Trần Thanh T và bạn của chị T đến quán net tìm điện thoại. Khi chị T thấy điện thoại thì có hỏi bị cáo nhưng bị cáo không trả lời và bị cáo bị lôi xuống tầng 1 của quán Internet, sau đó Công an đến đưa bị cáo về trụ sở làm việc.
Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và những người làm chứng; lời khai của bị cáo cũng phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận: khoản 4 giờ ngày 04/01/2024, tại nhà số A, ngách B đường K, phường H, quận T, thành phố Hà Nội. Hoàng Văn L có hành vi trộm cắp 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 14 Promax màu tím trị giá 21.000.000 đồng và số tiền 200.000 đồng của chị Trần Thanh T, tổng giá trị tài sản mà bị cáo trộm cắp là: 21.200.000 đồng.
Hành vi của bị cáo Hoàng Văn L đã phạm vào tội "Trộm cắp tài sản", tội danh và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó, bản Cáo trạng số 42/CT-VKSTX ngày 19/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội và lời buộc tội của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, luận tội tại phiên tòa là có đủ cơ sở, cần được chấp nhận.
[3] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
*Về nhân thân của bị cáo: bị cáo là người có nhân thân xấu khi đã 02 lần bị Tòa án xử phạt về tội Trộm cắp tài sản.
*Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
*Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo Hoàng Văn L thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại chị Trần Thanh T có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4 ]Về trách nhiệm dân sự: các tài sản mà bị cáo đã trộm cắp được của chị Trần Thanh T bao gồm số tiền 200.000 đồng và chiếc điện thoại Iphone 14 Promax màu tím, chị T đã nhận lại toàn bộ tài sản nêu trên. Chị T không có yêu cầu, đề nghị gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[5] Về hướng xử lý đối với bị cáo: hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, bị cáo là người đã thành niên có đầy đủ nhận thức và đã 02 lần bị Tòa án xử phạt về hành vi trộm cắp tài sản. Do đó, cần phải bị xử lý thật nghiêm trước pháp luật, như vậy mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và góp phần đấu tranh phòng, chống tội phạm trong giai đoạn hiện nay. Mặc dù bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, và bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân xấu. Xét thấy, cần thiết phải áp dụng mức hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, cách ly bị cáo Hoàng Văn L ra khỏi xã hội một thời gian mới có điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội. Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo.
[6] Về vật chứng của vụ án: đối với chiếc điện thoại Xiaomi Mi10s màu đen có số IMEI 1: 862375059413370, IMEI 2: 862375059413388, lắp sim số: 0333.060.104 đã thu giữ của bị cáo. Xét thấy, đây là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo chiếc điện thoại trên.
[7] Về án phí: bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[8] Về quyền kháng cáo: bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm b khoản 1 Điều 46; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
- Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 260; Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: tuyên bố bị cáo Hoàng Văn L phạm tội "Trộm cắp tài sản".
2. Về hình phạt: xử phạt bị cáo Hoàng Văn L 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/01/2024.
3. Về các biện pháp tư pháp: trả lại bị cáo Hoàng Văn L 01 điện thoại Xiaomi Mi10s màu đen có số IMEI 1: 862375059413370, IMEI 2: 862375059413388, lắp sim số: 0333.060.104
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/4/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T và Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Xuân).
4. Về án phí: bị cáo Hoàng Văn L phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thanh Huyền |
Bản án số 79/2024/HS-ST ngày 24/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 79/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hoàng Văn L phạm tội Trộm cắp tài sản
