|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU TỈNH BẠC LIÊU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 79/2024/DS – ST Ngày 23/8/2024 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Võ Phương Bình
Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Trường Hận và ông Trịnh Văn Mễn.
Thư ký phiên toà: Bà Hồng Thị Xuân - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Trần Mỹ Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 455/2023/ TLST-DS ngày 06 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 105/2024/QĐXXST-DS, ngày 12 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
1- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần N5
Địa chỉ: Số A, Trần Quang K, phường L, quận H, Thành phố Hà Nội. Địa chỉ liên hệ: Ngân hàng Thương mại Cổ phần N5, chi nhánh B (Địa chỉ: Số D, đường H, Phường A, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu).
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Quang D – Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Đậu Tuấn C – Giám đốc Ngân hàng Thương mại Cổ phần N5, chi nhánh B (theo Giấy uỷ quyền số 510/UQ-VCB-PC ngày 11/8/2023 của Ngân hàng Thương mại Cổ phần N5).
Ông Đậu Tuấn C uỷ quyền cho ông Mã Kim K1, sinh ngày 09/3/1985 – Chức vụ: Phó Trưởng phòng phụ trách phòng Khách hàng Ngân hàng Thương mại Cổ phần N5, chi nhánh B (theo Giấy uỷ quyền không số /UQ-BLI ngày 02/10/2023 của Ngân hàng Thương mại Cổ phần N5, chi nhánh B).
2
2- Bị đơn:
2.1- Ông Đồng Sĩ N, sinh ngày 18/4/1999. Nơi cư trú: Số F, Khóm A, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
2.2- Bà Lại Khả T, sinh ngày 10/12/1999. Nơi cư trú: Số H, Khóm G, Phường C, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
3- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
3.1- Bà Trần Thanh H, sinh ngày 16/7/1972.
Nơi cư trú: Số F, Khóm A, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
3.2- Ông Đồng Minh Q, sinh năm 1943.
3.3- Bà Phạm Thị M, sinh năm 1944.
3.4- Ông Đồng Văn M1, sinh năm 1977.
3.5- Bà Lâm Thanh T1, sinh năm 1980.
3.6- Bà Đồng Thị N1, sinh năm 1975.
3.7- Ông Lê Công T2, sinh năm 1976.
3.8- Ông Đồng Minh Đ, sinh năm 1972.
3.9- Anh Đồng Hoàng V, sinh năm 1998.
3.10- Chị Đồng Hoàng Q1, sinh năm 2002.
3.11- Em Đồng Thảo N2, sinh năm 2001.
3.12- Em Đồng Kim N3, sinh năm 2008.
Cùng nơi cư trú: Số F, Khóm A, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
3.13- Ông Trần Nam Đ1, sinh năm 1937.
3.14- Bà Đồng Thị T3, sinh năm 1940.
3.15- Bà Trần Thanh H1, sinh năm 1974.
3.16- Ông Phan Việt C1, sinh năm 1968.
3.17- Bà Trần Thanh T4, sinh năm 1970.
3.18- Ông Phạm Văn C2, sinh năm 1971.
3.19- P
3.20- Phan Việt Tính
3.21- Phạm Trần Anh Thư
3.22- Phạm Trần Minh T5
3
Cùng nơi cư trú: Số F, Khóm A, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
(Nguyên đơn có mặt. Bị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần N5, đại diện theo ủy quyền ông Mã Kim K1 trình bày: Vào ngày 07/07/2022, giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần N5 với Đồng Sĩ N và vợ là Lại Khả T có thoả thuận ký Hợp đồng cho vay số 564.TN/HĐTL.BL.22 và ngày 13/07/2022 ký Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số 01-564.TN/HĐTL.BL.22, theo đó Ngân hàng cho vợ chồng Đồng Sĩ N, Lại Khả T vay số tiền 14.000.000.000 đồng; mục đích vay “Thanh toán tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất”, thời hạn vay theo hợp đồng là 240 tháng.
Để đảm bảo khoản vay thì giữa các bên có ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 163/VCB.BLI.22 ngày 07/7/2022 và tài sản bảo đảm của bà Trần Thanh H theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 170/VCB.BLI.22 ngày 13/7/2022 để thế chấp quyền sử dụng đất theo: Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 182, tờ bản đồ số 4, diện tích 846,7 m², tại Khóm A, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu và Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 394, tờ bản đồ số 10, diện tích 300 m², tại đường T, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
Sau khi vay thì Đồng Sĩ N, Lại Khả T không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ như thoả thuận của hợp đồng, liên tiếp vi phạm nghĩa vụ đã cam kết, cố tình không hợp tác, không phối hợp xử lý tài sản bảo đảm làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng Thương mại Cổ phần N5 gây khó khăn lớn cho công tác thu hồi vốn và quá trình xử lý, thu hồi nợ của Ngân hàng Thương mại Cổ phần N5. Nay Ngân hàng Thương mại Cổ phần N5 yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Đồng Sĩ N và bà Lại Khả T:
- Phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần N5 toàn bộ số tiền theo Hợp đồng vay số 564.TN/HĐTL.BL.22 ngày 07/7/2022, Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số 01-564. TN/HĐTL.BL.22 ngày 13/7/2022 số tiền tạm tính đến hết ngày 23/8/2024 là 15.133.483.152 đồng (bao gồm: Dư nợ gốc là 13.335.136.550 đồng; lãi trong hạn 1.772.802.721 đồng; lãi quá hạn 25.543.881 đồng).
4
- Tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi thoả thuận theo hợp đồng tín dụng kể từ ngày 24/8/2024 cho đến ngày trả hết nợ gốc cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần N5.
- Nếu ông Đồng Sĩ N và bà Lại Khả T không thực hiện hoặc không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi bản án/ quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần N5 thông qua Ngân hàng Thương mại Cổ phần N5 chi nhánh B có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản bảo đảm của ông Đồng Sĩ N và bà Lại Khả T theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 163/VCB.BLI.22 ngày 07/7/2022 và tài sản bảo đảm của bà Trần Thanh H theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 170/VCB.BLI.22 ngày 13/7/2022 để thu hồi nợ theo quy định pháp luật là các quyền sử dụng đất: Thửa đất số 182, tờ bản đồ số 4, diện tích 846,7 m², tại số F, đường T, Khóm A, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu và thửa đất số 394, tờ bản đồ số 10, diện tích 300 m², tại Số F (trước đây là số F), đường T nối dài, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
Bị đơn ông Đồng Sĩ N tại Biên bản ghi lời khai trình bày: Thừa nhận các hợp đồng tín dụng, Hợp đồng thế chấp và khoản nợ như Ngân hàng Thương mại Cổ phần N5 trình bày, nhưng hiện tại tình hình kinh doanh chưa ổn định, nên chưa có khả năng trả nợ cho Ngân hàng, nên xin Ngân hàng cho trả dần khoản nợ với Ngân hàng, để tôi có điều kiện tiếp tục kinh doanh trả nợ Ngân hàng.
Bị đơn bà Lại Khả T: Vắng mặt không có ý kiến.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trần Thanh H tại Biên bản ghi lời khai ngày 05 tháng 12 năm 2023 trình bày: Theo yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần N5 yêu cầu Đồng Sĩ N và vợ bà Lại Khả T thanh toán số tiền tạm tính đến hết ngày 30/9/2023 là 14.391.490.461 đồng (bao gồm: Dư nợ gốc là 13.533.336.550 đồng; lãi trong hạn 853.218.506 đồng; lãi quá hạn 4.953.405 đồng). Tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi thoả thuận theo hợp đồng tín dụng kể từ ngày 01/10/2023 cho đến ngày trả hết nợ gốc cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần N5. Ngoài ra còn yêu cầu việc phát mãi tài sản của bà để thu hồi nợ khi không trả đầy đủ khoản nợ theo hợp đồng tín dụng trên. Nợ thì bà mới biết khoản này, nhưng Toà án cho bà cùng trao đổi cùng gia đình để xử lý khoản vay với Ngân hàng.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Đồng Văn M2, bà Lâm Thanh T1 tại Biên bản ghi lời khai ngày 03 tháng 5 năm 2024 trình bày: Theo yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần N5 yêu cầu Đồng Sĩ N và vợ bà Lại
5
Khả T thanh toán số tiền tạm tính đến hết ngày 30/9/2023 là 14.391.490.461 đồng (bao gồm: Dư nợ gốc là 13.533.336.550 đồng; lãi trong hạn 853.218.506 đồng; lãi quá hạn 4.953.405 đồng). Tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi thoả thuận theo hợp đồng tín dụng kể từ ngày 01/10/2023 cho đến ngày trả hết nợ gốc cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần N5. Ngoài ra còn yêu cầu việc phát mãi tài sản để thu hồi nợ khi không trả đầy đủ khoản nợ theo hợp đồng tín dụng trên. Nợ thì ông M2, bà T1 thừa nhận, nhưng hiện tại do người rút phần hùn nên nguồn tiền thu từ năng lượng mặt trời trả cho phần hùn, nên có vi phạm nghĩa vụ trả nợ với Ngân hàng. Tuy nhiên gia đình cũng đang tìm đối tác hoặc Ngân hàng để có biện pháp trả nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần N5, ông M2, bà T1 hoàn toàn đồng ý với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng.
Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan khác: Vắng mặt không có ý kiến.
Tại phiên toà Ngân hàng Thương mại Cổ phần N5 vẫn giữ nguyên yêu cầu, ý kiến của mình; xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với vốn gốc đã thanh toán với số tiền 198.200.000 đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu phát biểu quan điểm cho rằng:
- Về tố tụng: quá trình thụ lý giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình; bị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chưa tuân thủ quy định pháp luật
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 4 Điều 70; Điều 217; khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự, đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần N5 đối với số tiền vốn gốc là 198.200.000 đồng mà Ngân hàng Thương mại Cổ phần N5 đã rút tại phiên toà.
Căn cứ Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 317, 320, 325, 463, 466 Bộ luật Dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần N5, buộc ông Đồng Sĩ N và bà Lại Khả T trả cho Ngân hàng số tiền tính đến ngày 23/8/2024 là 15.133.483.152 đồng (bao gồm: Dư nợ gốc là 13.335.136.550 đồng; lãi trong hạn 1.772.802.721 đồng; lãi quá hạn 25.543.881 đồng) và tiền lãi thực tế phát sinh theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết cho đến khi trả hết nợ.
6
Trường hợp ông N, bà T không trả được nợ thì Ngân hàng TMCP N5 được quyền yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền bán đấu tài sản thế chấp là:
+ Quyền sử dụng đất diện tích 846,7m² thuộc thửa đất số 182, tờ bản đồ số 4 tọa lạc tại Khóm A, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu đã được UBND thành phố B cấp giấy chứng nhận QSDĐ số CT 295395 ngày 20/09/2019 cho ông Đồng Minh Q, bà Phạm Thị M đến ngày 06/7/2022 cập nhật chuyển nhượng sang tên cho ông Đồng Sĩ N và vợ là bà Lại Khả T và 01 căn nhà cấp III khung cột bê tông cốt thép, tường xây gạch bao quanh, mái lợp tole màu, nền lát gạch men, mái che phía trước, nền xi măng; 01 căn nhà cấp IV khung cột bê tông cốt thép, mái lợp tole xi măng, nền gạch men, tường xây gạch bao quanh, nhà vệ sinh ngoài; Dãy 04 phòng trọ khung cột sắt tiền chế, vách tường xây gạch + đóng thiếc, gác lững bằng vật liệu nhẹ; Mái che bên hông nhà; mái che phía trước nhà và 01 bàn ông thiên để thu hồi nợ.
Ông Đồng Minh Q, bà Phan Thị M3, Lâm Thanh T1, Đồng Sĩ N, Đồng Thị N1, Lê Công T2, Đồng Hoàng V, Đồng Hoàng Q1, Đồng Kim N3 được quyền ưu tiên nếu có nhu cầu mua QSDĐ tại thửa đất số 182, tờ bản đồ số 4 tọa lạc tại khóm A, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu khi Ngân hàng đề nghị xử lý tài sản thế chấp là QSDĐ nêu trên. Nếu ông Đồng Minh Q, bà Phan Thị M3, Lâm Thanh T1, Đồng Sĩ N, Đồng Thị N1, Lê Công T2, Đồng Hoàng V, Đồng Hoàng Q1, Đồng Kim N3 không có nhu cầu nhận chuyển nhượng QSDĐ nêu trên đã thế chấp thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án tiến hành kê biên, phát mãi tài sản bảo đảm là toàn bộ quyền sở hữu nhà và QSDĐ tại thửa đất số 182, tờ bản đồ số 4 tọa lạc tại khóm A, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu nhưng phải thanh toán trả lại cho Đồng Minh Q, bà Phan Thị M3, Lâm Thanh T1, Đồng Sĩ N, Đồng Thị N1, Lê Công T2, Đồng Hoàng V, Đồng Hoàng Q1, Đồng Kim N3 giá trị xây dựng của các công trình, tài sản trên đất thế chấp.
+ Quyền sử dụng đất diện tích 300 m² thuộc thửa đất số 394, tờ bản đồ số 10 và 01 căn nhà cấp 3 (01 trệt + 01 lầu) diện tích xây dựng 115,6m², diện tích sàn 197,7m² gắn liền với đất tọa lạc tại đường T, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu đã được UBND thành phố B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CP 595297 ngày 21/12/2018 cho bà Trần Thanh H và 01 căn nhà cấp IV khung cột bê tông cốt thép, mái lợp tol, nền gạch men; 01 căn nhà cấp IV khung cột bê tông cốt thép, mái lợp ngói, nền lát gạch men để thu hồi nợ.
7
Bà Trần Thanh H1, Phan Việt C1, Phan Xuân T6, Phạm Việt T7 được quyền ưu tiền nếu có nhu cầu mua QSDĐ gắn liền với căn nhà cấp IV khung cột bê tông cốt thép, mái lợp tol, nền gạch men tại thửa đất số 394, tờ bản đồ số 10 tọa lạc tại khóm A, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu khi Ngân hàng đề nghị xử lý tài sản thế chấp là QSDĐ nêu trên; bà Trần Thanh T4, Phạm Văn C2, Phạm Trần Anh T8 và Phạm Trần Minh T5 được quyền ưu tiền nếu có nhu cầu mua QSDĐ gắn liền với căn nhà cấp IV khung cột bê tông cốt thép, mái lợp ngói, nền lát gạch men tại thửa đất số 394, tờ bản đồ số 10 tọa lạc tại khóm A, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu khi Ngân hàng đề nghị xử lý tài sản thế chấp là QSDĐ nêu trên. Nếu bà Trần Thanh H1, Phan Việt C1, Phan Xuân T6, Phạm Việt T7, Trần Thanh T4, Phạm Văn C2, Phạm Trần Anh T8 và Phạm Trần Minh T5 không có nhu cầu nhận chuyển nhượng QSDĐ nêu trên đã thế chấp thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án tiến hành kê biên, phát mãi tài sản bảo đảm là toàn bộ quyền sở hữu nhà và QSDĐ tại thửa đất số 394, tờ bản đồ số 10 tọa lạc tại khóm A, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu nhưng phải thanh toán trả lại cho bà Trần Thanh H1, Phan Việt C1, Phan Xuân T6, Phạm Việt T7, Trần Thanh T4, Phạm Văn C2, Phạm Trần Anh T8 và Phạm Trần Minh T5 giá trị xây dựng của các công trình, tài sản trên đất thế chấp.
Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Ông Đồng Sĩ N và bà Lại Khả T phải chịu và hoàn trả lại cho Ngân hàng.
Về án phí dân sự có giá ngạch: Ông Đồng Sĩ N và bà Lại Khả T phải nộp án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu về việc tuân theo pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về thẩm quyền: Ngân hàng Thương mại Cổ phần N5 khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Đồng Sĩ N và bà Lại Khả T trả nợ theo Hợp đồng cho vay số 564.TN/HĐTL.BL.22 ngày 07/07/2022 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số 01-564.TN/HĐTL.BL.22 ngày 13/07/2022 đã ký kết. Ông Đồng Sĩ N và bà Lại Khả T có địa chỉ hiện nay tại thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. Theo quy định tại Điều 26; điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Bạc Liêu.
8
[2] Về thủ tục: Bị đơn là ông Đồng Sĩ N, bà Lại Khả T; những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là: Ông Đồng Minh Q, bà Phạm Thị M, ông Đồng Văn M1, bà Lâm Thanh T1, bà Đồng Thị N1, ông Lê Công T2, ông Đồng Minh Đ, anh Đồng Hoàng V, chị Đồng Hoàng Q1, Đồng Thảo N2, Đồng Kim N3, ông Trần Nam Đ1, bà Đồng Thị T3, bà Trần Thanh H1, ông Phan Việt C1, bà Trần Thanh T4, ông Phạm Văn C2, Phan Xuân T6, Phan Việt T9, Phạm Trần Anh T8, Phạm Trần Minh T5 đã được Tòa án triệu tập xét xử ngày 18/7/2024 và ngày hôm nay (ngày 23/8/2024) nhưng ông Đồng Sĩ N có đơn xin hoãn phiên toà; bà Lại Khả T, ông Đồng Minh Q, bà Phạm Thị M, ông Đồng Văn M1, bà Lâm Thanh T1, bà Đồng Thị N1, ông Lê Công T2, ông Đồng Minh Đ, anh Đồng Hoàng V, chị Đồng Hoàng Q1, Đồng Thảo N2, Đồng Kim N3, ông Trần Nam Đ1, bà Đồng Thị T3, bà Trần Thanh H1, ông Phan Việt C1, bà Trần Thanh T4, ông Phạm Văn C2, Phan Xuân T6, Phan Việt T9, Phạm Trần Anh T8, Phạm Trần Minh T5 không đến Tòa án. Căn cứ vào các Điều 227, 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trên.
[3] Về nội dung khởi kiện đối với hợp đồng tín dụng:
[3.1] Xác định yêu cầu khởi kiện:
Tại phiên toà đại diện Ngân hàng Thương mại Cổ phần N5 xác định bị đơn đã thanh toán được số tiền vốn gốc sau khi nguyên đơn khởi kiện với số tiền 198.200.000 đồng, nên xin rút yêu cầu khoản tiền này, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 4 Điều 70; Điều 217; khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự, đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần N5 đối với số tiền vốn gốc là 198.200.000 đồng.
[3.2] Về nội dung khởi kiện: Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần N5 yêu cầu ông Đồng Sĩ N và bà Lại Khả T trả nợ theo Hợp đồng cho vay số 564.TN/HĐTL.BL.22 ngày 07/07/2022 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số 01-564.TN/HĐTL.BL.22 ngày 13/07/2022 đã ký với Ngân hàng, với tổng số tiền tạm tính đến ngày 23/8/2024 là 15.133.483.152 đồng (bao gồm: Dư nợ gốc là 13.335.136.550 đồng; lãi trong hạn 1.772.802.721 đồng; lãi quá hạn 25.543.881 đồng) và tiền lãi phát sinh từ ngày 24/8/2024 cho đến khi thanh toán xong nợ.
[3.3] Xét Hợp đồng cho vay số 564.TN/HĐTL.BL.22 ngày 07/07/2022 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số 01-564.TN/HĐTL.BL.22 ngày 13/07/2022 được ký kết giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần N5 với ông Đồng Sĩ N và bà Lại Khả T, theo đó Ngân hàng cho vợ chồng Đồng Sĩ N, Lại Khả T vay số tiền 14.000.000.000
9
đồng; mục đích vay “Thanh toán tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất”, thời hạn vay theo hợp đồng là 240 tháng.
[3.4] Trong quá trình vay, từ ngày nhận nợ tính đến nay ông Đồng Sĩ N và bà Lại Khả T không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ như thoả thuận của hợp đồng. Ngân hàng Thương mại Cổ phần N5 Chi nhánh B đã làm việc trực tiếp và có văn bản yêu cầu ông Đồng Sĩ N4 bàLại Khả Trânthực hiện nghĩa vụ trả nợ nêu trên theo Hợp đồng cho vay số 564.TN/HĐTL.BL.22 ngày 07/07/2022, Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số 01-564.TN/HĐTL.BL.22 ngày 13/07/2022, nhưng tính đến nay ông Đồng Sĩ N4 bàLại Khả Trânvẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc, nợ lãi, liên tiếp vi phạm nghĩa vụ đã cam kết, cố tình không hợp tác, không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Ngân hàng Thương mại Cổ phần N5 yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Đồng Sĩ N và bà Lại Khả T phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng đã ký với Ngân hàng.
[3.5] Hội đồng xét xử xét thấy, Hợp đồng cho vay số 564.TN/HĐTL.BL.22 ngày 07/07/2022 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số 01-564.TN/HĐTL.BL.22 ngày 13/07/2022 được các bên tự nguyện ký kết, hình thức, nội dung thỏa thuận của các bên không trái quy định pháp luật, được các đương sự thừa nhận, nên đây là những chứng cứ không phải chứng minh theo quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ông Đồng Sĩ N và bà Lại Khả T đã vi phạm hợp đồng, không thực hiện đúng thỏa thuận đã giao kết trong hợp đồng nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Đồng Sĩ N và bà Lại Khả T trả nợ vay theo hợp đồng đã ký là có căn cứ, nên được chấp nhận.
[4] Xét về yêu cầu trả vốn lãi của Ngân hàng: Bị đơn ông Đồng Sĩ N và bà Lại Khả T đã vi phạm hợp đồng, không trả vốn, lãi theo thỏa thuận, nên số tiền nợ tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 23/8/2024) là 15.133.483.152 đồng (bao gồm: Dư nợ gốc là 13.335.136.550 đồng; lãi trong hạn 1.772.802.721 đồng; lãi quá hạn 25.543.881 đồng) như Ngân hàng yêu cầu đối với ông Đồng Sĩ N và bà Lại Khả T là hoàn toàn có căn cứ, nên cần buộc ông Đồng Sĩ N và bà Lại Khả T có trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng số nợ trên và tiền lãi trên tổng số nợ gốc phát sinh cho đến khi thanh lý hợp đồng vay là phù hợp.
[5] Xét yêu cầu xử lý tài sản thế chấp của Ngân hàng Thương mại Cổ phần N5:
[5.1] Xét các hợp đồng thế chấp:
10
Theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 163/VCB.BLI.22 ngày 07/7/2022 giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần N5 với ông Đồng Sĩ N, bà Lại Khả T đối với: Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CT 295395 do UBND thành phố B, tỉnh Bạc Liêu, cấp ngày 20/09/2019 cho ông Đồng Sĩ N và bà Lại Khả T tại thửa đất số 182, tờ bản đồ số 4, diện tích 846,7 m², tại Khóm A, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
Theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và nhà ở số 170/VCB.BLI.22 ngày 13/7/2022 giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần N5 với bà Trần Thanh H đảm bảo cho khoản vay theo hợp đồng tín dụng trên là: Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP 595297 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp ngày 21/12/2018 cho bà Trần Thanh H, tại thửa đất số 394, tờ bản đồ số 10, diện tích 300 m², tại Đường T, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
Hợp đồng thế chấp trên đã được các bên tự nguyện ký kết, thực hiện theo quy định pháp luật về đăng ký tài sản thế chấp tài sản nên các hợp đồng thế chấp có giá trị pháp lý, được các đương sự thừa nhận, nên đây là những chứng cứ không phải chứng minh theo quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[5.2] Tại bản vẽ mặt bằng hiện trạng sử dụng đất do Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường tỉnh B lập ngày 08/02/2024 thể hiện:
Tại thửa đất số 182, tờ bản đồ số 4, tại Khóm A, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu có diện tích: 846,7 m² (có 180,3m² thuộc hành lang quy hoạch lộ giới đường T).
Tại thửa đất số 394, tờ bản đồ số 10 (theo bản đồ năm 2017 thuộc một phần các thửa đất số 30, 31, 32, tờ bản đồ số 4), tại Đường T, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu có diện tích 354,1 m² (có diện tích 54,1m² ngoài Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CP 595297 cấp cho bà Trần Thanh H ngày 21/11/2018 (gồm: 26,3m² thuộc thửa đất số 30; 20,8m² thuộc thửa đất số 31; 7,0m² thuộc thửa đất số 32)).
[5.3] Đ, Lại Khả T không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ như thoả thuận của hợp đồng, Ngân hàng Thương mại Cổ phần N5 Chi nhánh B đã yêu cầu ông Đồng Sĩ N4 bàLại Khả Trânthực hiện nghĩa vụ trả nợ, xử lý tài sản bảo đảm để Ngân hàng Thương mại Cổ phần N5 thu hồi nợ nhưng ông Đồng Sĩ N và bà Lại Khả T cố tình trốn tránh nghĩa vụ trả nợ, nên Ngân hàng Thương mại Cổ phần N5 yêu cầu ông Đồng Sĩ N và bà Lại Khả T nếu không thực hiện hoặc không thực hiện đúng
11
nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi bản án của Toà án có hiệu lực pháp luật thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần N5 thông qua Ngân hàng Thương mại Cổ phần N5 chi nhánh B có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản bảo đảm của ông Đồng Sĩ N và bà Lại Khả T theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất là có cơ sở nên được chấp nhận.
[6] Theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 23/01/2024 thì trên đất có các tài sản sau:
[6.1] Tại thửa đất số 182, tờ bản đồ số 4, tại Khóm A, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu có:
+ 01 (Một) căn nhà loại III: Kết cấu khung cột bê tông cốt thép, tường xây gạch bao quanh (có dán gạch tường), gác lững bằng vật liệu nhẹ, mái lợp T10 màu (có đóng la phông trần phẳng), nền lát gạch men. Mức độ sử dụng tiện nghi đầy đủ.
Mái che phía trước + nền xi măng: Khung cột sắt tiền chế, mái lợp Tole.
+ 01 (Một) căn nhà loại IV: Kết cấu khung cột bê tông cốt thép, tường xây gạch bao quanh, mái lợp T10 xi măng (có đóng la phông trần phẳng), nền lát gạch men.
Nhà vệ sinh ngoài: Xây tường bao quanh, nền gạch nhám, mái lợp Tole.
+ Dãy 04 phòng trọ: Khung cột sắt tiền chế, vách xây tường gạch + đóng thiếc, gác lững bằng vật liệu nhẹ, mái lợp Tole thiếc, nền gạch men.
+ Mái che bên hông nhà: Khung cột sắt tiền chế, mái lợp Tole thiếc, nền lát gạch + xi măng.
+ Mái che phía trước nhà: Khung cột sắt tiền chế, mái lợp Tole thiếc, nền lát gạch.
+ Hàng rào phía trước 02 nhà: Cột xây gạch, khung song sắt.
+ 01 (Một) Bàn Thông thiên: Xây gạch.
Theo quy định tại điểm (f) khoản 4.1 Điều 4 của Hợp đồng thế chấp trên thì các tài sản trên vẫn thuộc tài sản đảm bảo theo hợp đồng tín dụng. Tuy nhiên, khi phát mãi tài sản ông Đồng Minh Q, bà Phan Thị M3, Lâm Thanh T1, Đồng Sĩ N, Đồng Thị N1, Lê Công T2, Đồng Hoàng V, Đồng Hoàng Q1, Đồng Kim N3 nếu có nhu cầu mua quyền sử dụng đất tại thửa đất số 182, tờ bản đồ số 4 tọa lạc tại Khóm A, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu khi Ngân hàng đề nghị xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất nêu trên thì được quyền ưu tiên mua lại. Nếu ông Đồng Minh Q, bà Phan Thị M3, Lâm Thanh T1, Đồng Sĩ N, Đồng Thị N1, Lê Công T2, Đồng Hoàng V, Đồng Hoàng Q1, Đồng Kim N3 không có nhu cầu nhận
12
chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án tiến hành kê biên, phát mãi tài sản bảo đảm là toàn bộ quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất tại thửa đất số 182, tờ bản đồ số 4 tọa lạc tại Khóm A, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu nhưng phải thanh toán trả lại cho Đồng Minh Q, bà Phan Thị M3, Lâm Thanh T1, Đồng Sĩ N, Đồng Thị N1, Lê Công T2, Đồng Hoàng V, Đồng Hoàng Q1, Đồng Kim N3 giá trị xây dựng của các công trình, tài sản trên đất thế chấp.
[6.2] Tại thửa đất số 394, tờ bản đồ số 10 (theo bản đồ năm 2017 thuộc một phần các thửa đất số 30, 31, 32, tờ bản đồ số 4), tại Đường T, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu có:
+ 01 căn nhà loại III (nhà có 02 tầng: 01 tầng trệt; 01 tầng lầu): Kết cấu khung cột bê tông cốt thép, tường xây gạch bao quanh, mái lợp T10 màu (có đóng la phông trần), nền gạch men; đổ sàn bê tông cốt thép tầng lầu. Mức độ sử dụng tiện nghi đầy đủ. Hiện do bà Trần Thanh H, ông Trần Nam Đ1, bà Đồng Thị T3 sử dụng.
+ 01 căn nhà loại IV: Kết cấu khung cột bê tông cốt thép, tường xây gạch bao quanh, mái lợp Tole, nền gạch men. Mức độ sử dụng tiện nghi đầy đủ. Hiện do bà Trần Thanh H1, ông Phan Việt C1, Phan Xuân T6, Phan Việt T11 sử dụng.
+ 01 căn nhà loại IV: Kết cấu khung cột bê tông cốt thép, tường xây gạch bao quanh, mái lợp ngói, nền lát gạch men. Mức độ sử dụng tiện nghi đầy đủ. Hiện do bà Trần Thanh T4, ông Phạm Văn C2, Phạm Trần Anh T8, Phạm Trần Minh T5 sử dụng.
Theo quy định tại điểm (f) khoản 4.1 Điều 4 của hợp đồng thế chấp trên thì các tài sản trên vẫn thuộc tài sản đảm bảo theo hợp đồng tín dụng. Tuy nhiên, khi phát mãi tài sản bà Trần Thanh H1, Phan Việt C1, Phan Xuân T6, Phạm Việt T7 được quyền ưu tiền nếu có nhu cầu mua quyền sử dụng đất gắn liền với căn nhà cấp IV khung cột bê tông cốt thép, mái lợp tol, nền gạch men tại thửa đất số 394, tờ bản đồ số 10 tọa lạc tại Khóm A, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu khi Ngân hàng đề nghị xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất nêu trên; bà Trần Thanh T4, Phạm Văn C2, Phạm Trần Anh T8 và Phạm Trần Minh T5 được quyền ưu tiên nếu có nhu cầu mua quyền sử dụng đất gắn liền với căn nhà cấp IV khung cột bê tông cốt thép, mái lợp ngói, nền lát gạch men tại thửa đất số 394, tờ bản đồ số 10 tọa lạc tại Khóm A, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu khi Ngân hàng đề nghị xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất nêu trên. Nếu bà Trần Thanh H1, Phan Việt C1, Phan Xuân T6, Phạm Việt T7, Trần Thanh T4, Phạm Văn C2, Phạm Trần Anh T8 và Phạm Trần Minh T5 không có nhu cầu nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án tiến hành kê biên, phát mãi tài sản bảo đảm là toàn bộ quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng
13
đất tại thửa đất số 394, tờ bản đồ số 10 tọa lạc tại Khóm A, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu nhưng phải thanh toán trả lại cho bà Trần Thanh H1, Phan Việt C1, Phan Xuân T6, Phạm Việt T7, Trần Thanh T4, Phạm Văn C2, Phạm Trần Anh T8 và Phạm Trần Minh T5 giá trị xây dựng của các công trình, tài sản trên đất thế chấp.
[7] Về chi phí xem xét thẩm định: Ông Đồng Sĩ N, bà Lại Khả T phải chịu 8.306.000 đồng, Ngân hàng Thương mại Cổ phần N5 không phải chịu, Ngân hàng Thương mại Cổ phần N5 đã dự nộp số tiền 8.306.000 đồng, nên được hoàn lại toàn bộ từ số tiền ông Đồng Sĩ N và bà Lại Khả T phải chịu trên.
[8] Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch ông Đồng Sĩ N và bà Lại Khả T phải nộp 123.133.483 đồng (của số tiền 15.133.483.152 đồng).
[9] Như đã nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu tại phiên tòa.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 70; Điều 91; Điều 217; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; điểm a, b khoản 1 Điều 238 và khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 91, Điều 95 Luật các Tổ chức Tín dụng;
Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí và lệ phí Tòa án.
Áp dụng Án lệ số 11/2017/AL về công nhận hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất mà trên đất có tài sản không thuộc sở hữu của bên thế chấp, được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 14 tháng 12 năm 2017 và được công bố theo Quyết định số 299/QĐ-CA ngày 28 tháng 12 năm 2017 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
Tuyên xử:
1/. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần N5 đối với ông Đồng Sĩ N và bà Lại Khả T.
2/. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần N5 đối với ông Đồng Sĩ N và bà Lại Khả T yêu cầu trả số tiền vốn gốc là 198.200.000 đồng.
3/. Buộc ông Đồng Sĩ N và bà Lại Khả T có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần N5 theo Hợp đồng cho vay số 564.TN/HĐTL.BL.22 ngày
14
07/07/2022 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số 01-564.TN/HĐTL.BL.22 ngày 13/07/2022 số tiền tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 23/8/2024) là 15.133.483.152 đồng (Mười lăm tỷ, một trăm ba mươi ba triệu, bốn trăm tám mươi ba nghìn, một trăm năm mươi hai đồng). Bao gồm: Dư nợ gốc là 13.335.136.550 đồng; lãi trong hạn 1.772.802.721 đồng; lãi quá hạn 25.543.881 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, ông Đồng Sĩ N và bà Lại Khả T còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận theo Hợp đồng cho vay số 564.TN/HĐTL.BL.22 ngày 07/07/2022 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số 01-564.TN/HĐTL.BL.22 ngày 13/07/2022 đã ký cho đến khi thanh toán xong khoản nợ với Ngân hàng Thương mại Cổ phần N5.
4/. Trường hợp ông Đồng Sĩ N và bà Lại Khả T không thanh toán các khoản nợ nêu trên, thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần N5 thông qua Ngân hàng Thương mại Cổ phần N5 chi nhánh B được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mãi các tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất đã thế chấp gồm:
Tài sản 1: Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CT 295395 do UBND thành phố B, tỉnh Bạc Liêu, cấp ngày 20/09/2019 cho ông Đồng Sĩ N và bà Lại Khả T tại thửa đất số 182, tờ bản đồ số 4, diện tích 846,7 m², tại Khóm A, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
Tài sản 2: Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP 595297 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp ngày 21/12/2018 cho bà Trần Thanh H, tại thửa đất số 394, tờ bản đồ số 10, diện tích 300 m², tại Đường T, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
Các tài sản trên đất gồm:
4.1- Tại thửa đất số 182, tờ bản đồ số 4, tại Khóm A, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu:
+ 01 (Một) căn nhà loại III: Kết cấu khung cột bê tông cốt thép, tường xây gạch bao quanh (có dán gạch tường), gác lững bằng vật liệu nhẹ, mái lợp T10 màu (có đóng la phông trần phẳng), nền lát gạch men. Mức độ sử dụng tiện nghi đầy đủ.
Mái che phía trước + nền xi măng: Khung cột sắt tiền chế, mái lợp Tole.
15
+ 01 (Một) căn nhà loại IV: Kết cấu khung cột bê tông cốt thép, tường xây gạch bao quanh, mái lợp T10 xi măng (có đóng la phông trần phẳng), nền lát gạch men.
Nhà vệ sinh ngoài: Xây tường bao quanh, nền gạch nhám, mái lợp Tole.
+ Dãy 04 phòng trọ: Khung cột sắt tiền chế, vách xây tường gạch + đóng thiếc, gác lững bằng vật liệu nhẹ, mái lợp Tole thiếc, nền gạch men.
+ Mái che bên hông nhà: Khung cột sắt tiền chế, mái lợp Tole thiếc, nền lát gạch + xi măng.
+ Mái che phía trước nhà: Khung cột sắt tiền chế, mái lợp Tole thiếc, nền lát gạch.
+ Hàng rào phía trước 02 nhà: Cột xây gạch, khung song sắt.
+ 01 (Một) Bàn Thông thiên: Xây gạch.
Nhưng phải thanh toán trả lại cho Đồng Minh Q, bà Phan Thị M3, Lâm Thanh T1, Đồng Sĩ N, Đồng Thị N1, Lê Công T2, Đồng Hoàng V, Đồng Hoàng Q1, Đồng Kim N3 giá trị xây dựng của các công trình, tài sản trên đất nêu trên.
4.2- Tại thửa đất số 394, tờ bản đồ số 10 (theo bản đồ năm 2017 thuộc một phần các thửa đất số 30, 31, 32, tờ bản đồ số 4), tại Đường T, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu:
+ 01 căn nhà loại III (nhà có 02 tầng: 01 tầng trệt; 01 tầng lầu): Kết cấu khung cột bê tông cốt thép, tường xây gạch bao quanh, mái lợp T10 màu (có đóng la phông trần), nền gạch men; đổ sàn bê tông cốt thép tầng lầu. Mức độ sử dụng tiện nghi đầy đủ. Hiện do bà Trần Thanh H, ông Trần Nam Đ1, bà Đồng Thị T3 sử dụng.
+ 01 căn nhà loại IV: Kết cấu khung cột bê tông cốt thép, tường xây gạch bao quanh, mái lợp Tole, nền gạch men. Mức độ sử dụng tiện nghi đầy đủ. Hiện do bà Trần Thanh H1, ông Phan Việt C1, Phan Xuân T6, Phan Việt T11 sử dụng.
+ 01 căn nhà loại IV: Kết cấu khung cột bê tông cốt thép, tường xây gạch bao quanh, mái lợp ngói, nền lát gạch men. Mức độ sử dụng tiện nghi đầy đủ. Hiện do bà Trần Thanh T4, ông Phạm Văn C2, Phạm Trần Anh T8, Phạm Trần Minh T5 sử dụng.
Nhưng phải thanh toán trả lại cho bà Trần Thanh H1, Phan Việt C1, Phan Xuân T6, Phạm Việt T7, Trần Thanh T4, Phạm Văn C2, Phạm Trần Anh T8 và Phạm Trần Minh T5 giá trị xây dựng của các công trình, tài sản trên đất là 02 căn nhà loại IV nêu trên.
16
5/. Quyền ưu tiên mua tài sản thế chấp:
5.1- Trong trường hợp ông Đồng Minh Q, bà Phan Thị M3, Lâm Thanh T1, Đồng Sĩ N, Đồng Thị N1, Lê Công T2, Đồng Hoàng V, Đồng Hoàng Q1, Đồng Kim N3 có nhu cầu nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại thửa đất số 182, tờ bản đồ số 4 tọa lạc tại Khóm A, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu có căn nhà gắn liền với đất nêu trên thì được quyền ưu tiên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất không phải trả giá trị các tài sản gắn liền trên đất.
5.2- Trong trường hợp bà Trần Thanh H1, Phan Việt C1, Phan Xuân T6, Phạm Việt T7 có nhu cầu nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất gắn liền với căn nhà cấp IV khung cột bê tông cốt thép, mái lợp tol, nền gạch men tại thửa đất số 394, tờ bản đồ số 10 tọa lạc tại Khóm A, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu thì được quyền ưu tiên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất không phải trả giá trị các tài sản gắn liền trên đất trên.
Trường hợp bà Trần Thanh T4, Phạm Văn C2, Phạm Trần Anh T8 và Phạm Trần Minh T5 có nhu cầu nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất gắn liền với căn nhà cấp IV khung cột bê tông cốt thép, mái lợp ngói, nền lát gạch men tại thửa đất số 394, tờ bản đồ số 10 tọa lạc tại Khóm A, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu thì được quyền ưu tiên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất không phải trả giá trị các tài sản gắn liền trên đất trên.
6/. Về chi phí xem xét thẩm định: Ông Đồng Sĩ N, bà Lại Khả T phải chịu 8.306.000 đồng (Tám triệu, ba trăm lẻ sáu nghìn đồng). Ngân hàng Thương mại Cổ phần N5 được nhận lại số tiền 8.306.000 đồng (Tám triệu, ba trăm lẻ sáu nghìn đồng) từ số tiền ông Đồng Sĩ N và bà Lại Khả T phải thi hành trên trong giai đoạn thi hành án.
7/. Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Ông Đồng Sĩ N và bà Lại Khả T phải nộp 123.133.483 đồng (Một trăm hai mươi ba triệu, một trăm ba mươi ba nghìn, bốn trăm tám mươi ba đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu. Ngân hàng Thương mại Cổ phần N5 đã dự nộp số tiền 61.196.000 đồng (Sáu mươi mốt triệu, một trăm chín mươi sáu nghìn đồng) theo biên lai thu số 0002114 ngày 06/11/2023, được hoàn lại tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án
17
dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành
Án sơ thẩm xử công khai, nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Những người vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Võ Phương Bình |
Bản án số 79/2024/DS – ST ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 79/2024/DS – ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU TỈNH BẠC LIÊU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: hợp đồng tín dụng
