Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THOẠI SƠN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 79/2024/HS-ST

Ngày 22 tháng 8 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Trần Văn Hân Em.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Diệp Thị Thu Nguyệt và ông Lê Minh Thắng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Khuyên - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham gia phiên tòa: Ông Dương Ngọc Sử - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 56/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 8 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. Danh Hùng D, sinh ngày 12/11/1993. Nơi cư trú: khóm P, thị trấn P, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Danh Hùng L (đã chết) và bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1972; anh, em ruột có 03 người, bị cáo là người thứ nhất; vợ tên Lê Thị N, sinh năm 1996; con: Lê Chí T, sinh năm 2015.

    Tiền án: có 01 tiền án, tại bản án sơ thẩm số: 01/2022/HS-ST ngày 24/01/2022, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xử phạt 01 năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 01/9/2022 chấp hành xong hình phạt tù. Tiền sự: không.

    Nhân thân:

    • - Ngày 04/5/2013, bị Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh An Giang ra Quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, trong thời hạn 24 tháng, đến ngày 03/3/2015 chấp hành xong quyết định.
    • - Ngày 15/6/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 20 tháng, đến ngày 19/10/2019 chấp hành xong quyết định.
    • - Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/3/2024 cho đến nay (có mặt).
  2. Lê Văn H (H1), sinh ngày 16/7/1993. Nơi cư trú: khóm P, thị trấn P, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Phật Giáo H; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Hùng D1, sinh năm 1966 và bà Cù Thị Nuôi N1, sinh năm 1969; chị em ruột có 04 người, bị cáo là người thứ ba; bị cáo chưa có vợ con. Tiền án, tiền sự: không.

    Nhân thân:

    • - Ngày 19/5/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 12 tháng, đến ngày 15/12/2018 chấp hành xong quyết định.
    • - Ngày 15/02/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 18 tháng, đến ngày 29/4/2020 chấp hành xong quyết định.
    • - Tại bản án sơ thẩm số: 25/2021/HS-ST ngày 31/3/2021, bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xử phạt 09 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 24/9/2021 chấp hành xong hình phạt tù.
    • - Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/3/2024 cho đến nay (có mặt).

    Người bào chữa của bị cáo Lê Văn H: bà Văng Thị V - Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm Trợ giúp Pháp lý Nhà nước tỉnh A (có mặt).

Bị hại:

  1. Bà Phan Thị T1, sinh ngày 15/10/1979. Nơi cư trú: khóm T, thị trấn P, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt).
  2. Ông Cao Văn Đ, sinh ngày 01/01/1993. Nơi cư trú: ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1970. Nơi cư trú: khóm P, thị trấn P, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt).
  2. Ông Nguyễn Thành C, sinh ngày 18/8/1998. Nơi cư trú: ấp V, xã V, huyện V, thành phố Cần Thơ (vắng mặt).

Người làm chứng: bà Trần Thị S và bà Phan Thị V1 (đều vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 03 giờ 21 phút ngày 24/3/2024, D điều khiển xe mô tô biển số 67B1-822.92 đến khu vực khóm T, thị trấn P thấy cửa rào nhà bà T1 không đóng, cửa nhà khóa ổ khóa ngoài nên D dùng thanh kim loại mang theo cạy phá ổ khóa rồi đi vào trong nhà lấy bộ lư bằng kim loại đồng trên tủ thờ đem ra trước nhà nhặt lấy 01 cái bao màu trắng, bỏ bộ lư vào. D điều khiển xe mô tô chở bộ lư về nhà cất giấu trên gác rồi điều khiển xe đến nhà Lê Văn H ở khóm P, thị trấn P, huyện T, rủ H đi trộm xe mô tô, Hòa đồng ý. D tiếp tục điều khiển xe chở H đến nhà T1. D đi vào trong nhà khách dẫn xe mô tô biển số 67D1-226.11 ra ngoài để H cầm lái, còn D điều khiển xe mô tô 67B1-822.92 đẩy xe mô tô 67D1-226.11 đến nhà của Nguyễn Thành C, ở ấp V, xã V, huyện V, thành phố Cần Thơ bán xe này cho C 4.000.000 đồng, nhưng không cho C biết xe lấy trộm. D cho H 1.500.000 đồng rồi cả hai mỗi người hùn 1.300.000 đồng đưa cho C đi mua ma túy đá và heroin về sử dụng.

Đến khoảng 10 giờ ngày 24/3/2024, T1 đến Công an thị trấn P trình báo về việc bị mất trộm tài sản nêu trên. Khoảng 16 giờ cùng ngày, biết hành vi lấy trộm xe mô tô bị phát hiện nên H đến Công an thị trấn P đầu thú và giao nộp 01 biển số 67D1-226.11. Nguyễn Thành C giao nộp xe mô tô không biển số, hiệu Honda, loại Wave S.

Vật chứng thu giữ gồm có: 01 xe mô tô, hiệu Honda, loại Wave S, số máy JC52F4458285, số khung 5217CY302793; 01 biển số 67D1-226.11; 01 xe mô tô biển số 67B1-822.92, số máy VMSACB-H013714, số khung RLGKH9H013714; 01 bộ lư đồng vuông, loại II gồm: 01 chân lư kích thước (60 x 40)cm, 02 chân đèn kích thước (50 x 25)cm; 01 mũ bảo hiểm màu đỏ, đen; 01 mũ bảo hiểm màu trắng; 01 thanh kim loại, màu đen, loại tròn, dài khoảng 39cm, đường kính khoảng 20mm, có một đầu bị bẻ cong.

Tại Kết luận định giá tài sản số 17/KL-HĐĐGTS, số 19/KL-HĐĐGTS cùng ngày 29/3/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện T, xác định: 01 bộ lư đồng vuông, loại II gồm: 01 chân lư kích thước (60 x 40)cm, 02 chân đèn kích thước (50 x 25)cm, trị giá là 4.500.000 đồng; 01 xe mô tô biển số 67D1-226.11, hiệu Honda, loại Wave S, số máy JC52F4458285, số khung 5217CY302793, trị giá là 8.000.000 đồng. Tổng tài sản trị giá 12.500.000 đồng.

Ngày 12/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trao trả xe mô tô biển số 67D1-226.11 cho ông Cao Văn Đ; trả 01 bộ lư đồng vuông cho bà Phan Thị T1.

Tại Cáo trạng số 61/CT-VKSTS ngày 08/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn đã truy tố các bị cáo Danh Hùng D, Lê Văn H (H1) về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm các bị cáo Danh Hùng D, Lê Văn H khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu.

Bị hại ông Cao Văn Đ, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thành C và những người làm chứng đều vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra trình bày phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Ông Đ đã nhận lại tài sản nên không yêu câu gì thêm.

Bị hại bà Phan Thị T1 trình bày: sau khi phát hiện tài sản trong nhà bị mất, trích xuất camera thấy khoảng 03 giờ 21 phút ngày 24/3/2024, có hai thanh niên cạy ổ khóa và mở cửa đi vào bên trong nhà lấy trộm một bộ lư bằng đồng rồi đi ra ngoài, khoảng 10 phát sau hai thanh niên đó tiếp tục đi vào trong nhà lấy trộm thêm một xe mô tô biển số 67D1-226.11. Đến khoảng 10 giờ ngày 24/3/2024, bà T1 đến Công an thị trấn P trình báo vụ việc mất trộm tài sản nêu trên. Bà T1 đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu gì thêm; về hình phạt, đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị L1 trình bày: bà thấy D không có phương tiện đi lấy thuốc uống cai nghiện ở thành phố L nên L1 cho D 1.000.000 đồng để mua xe (loại phế liệu) về sử dụng. D mua xe không có giấy tờ. Bà không biết việc D sử dụng xe mô tô đi trộm cắp tài sản. Bà L1 không yêu cầu gì về xe mô tô và không yêu cầu nhận lại mũ bảo hiểm bị thu giữ.

Đại diện Viện Kiểm sát luận tội đối với các bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Danh H2 D mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Lê Văn H (Hóa) mức án từ 09 tháng đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: do các bị hại Phan Thị T1, Cao Văn Đ đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì nên không xem xét. Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, tịch thu tiêu hủy 01 thanh kim loại màu đen, loại tròn, dài khoảng 39cm, đường kính khoảng 20mm, có một đầu bị bẻ cong; 01 mũ bảo hiểm màu trắng; 01 mũ bảo hiểm màu đỏ, đen; tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 xe mô tô biển số 67B1-822.92, số máy VMSACB-H013714, số khung RLGKH9H013714.

Người bào chữa của bị cáo Hòa đồng ý với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về việc truy tố, xét xử bị cáo H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo H với mức khởi điểm mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị. Về trách nhiệm dân sự, do các bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì thêm nên không đề cập đến.

Bị cáo H nhất trí với bản luận cứ nêu trên của người bào chữa. Các bị cáo không bào chữa và tranh luận gì khác, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về tố tụng:
    • - Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
    • - Tại phiên tòa bị hại ông Cao Văn Đ, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thành C và những người làm chứng vắng mặt, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại gì đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, 293 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
  2. Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo Danh Hùng D, Lê Văn H đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ; các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ căn cứ kết luận:

    Ngày 24/3/2024, bị cáo Danh H2 D thực hiện hành vi lấy trộm 01 bộ lư đồng vuông, loại II gồm: 01 chân lư kích thước (60 x 40)cm, 02 chân đèn kích thước (50 x 25)cm, trị giá 4.500.000 đồng của bà Phan Thị T1. Sau đó, cùng ngày 24/3/2024, bị cáo D rủ Lê Văn H lấy trộm xe mô tô biển số 67D1-226.11, trị giá 8.000.000 đồng của ông Cao Văn Đ. Tổng trị giá tài sản chiếm đoạt là 12.500.000 đồng.

    Hành vi phạm tội nêu trên của các bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, có khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

  3. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, làm cho quần chúng nhân dân bất bình. Do đó, cần phải xử phạt các bị cáo mức án nghiêm để răn đe và phòng ngừa chung.
  4. Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

    Các bị cáo Danh Hùng D, Lê Văn H là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bản thân nhận thức rõ hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật nhưng để có tiền tiêu xài cá nhân và sử dụng ma túy, các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Các bị cáo là người có nhân thân xấu, đều đã bị kết án về hành vi cùng loại tội nhưng lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, chứng tỏ các bị cáo rất coi thường pháp luật, không biết ăn năn hối cải để hoàn lương. Sau khi bị cáo D lấy trộm bộ lư đồng đem đi cất giấu thì tiếp tục rủ rê, lôi ké bị cáo H cùng thực hiện hành vi trộm cắp xe mô tô biển số 67D1-226.11. Bị cáo D là người chủ mưu, thực hiện với vai trò chính; bị cáo H có vai trò giúp sức. Do đó, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội mà mình đã gây ra.

    • - Về tình tiết tăng nặng: bị cáo Duy thực h phạm tội 02 lần và đã bị kết án về hành vi cùng loại tội, tiền án đó chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý là tái phạm. Do đó, lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h, g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Bị cáo Lê Văn H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
    • - Về tình tiết giảm nhẹ: sau khi phạm tội bị cáo H đã đầu thú; tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà các bị cáo D, H đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản trộm cắp đã trả lại cho bị hại và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

    Xét thấy, hiện tại trên địa bàn huyện T tội phạm trộm cắp tài sản có chiều hướng gia tăng, đây là nguyên nhân làm mất ổn định tình hình an ninh chính trị tại địa phương. Do đó, việc buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cách ly khỏi xã hội là cần thiết, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa để buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo các bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội. Mức hình phạt tù có thời hạn mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là tương xứng với tính chất mức độ phạm tội mà các bị cáo đã gây ra, đề nghị này được Hội đồng xét xử chấp nhận.

  5. Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Tuy nhiên, các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, hiện điều kiện hoàn cảnh kinh tế còn khó khăn nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
  6. Về trách nhiệm dân sự: sau khi vụ án xảy ra, các bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.
  7. Về xử lý vật chứng: đối với 01 thanh kim loại màu đen, 01 mũ bảo hiểm màu trắng đã thu giữ của bị cáo D không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu để tiêu hủy. Đối với xe mô tô biển số 67B1-822.92, số máy VMSACB-H013714, số khung RLGKH9H013714, đây là vật chứng bị cáo D đã sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu bán phát mại sung ngân sách Nhà nước. Đối với 01 mũ bảo hiểm màu đỏ, đen của bà Nguyễn Thị Lê k yêu cầu nhận lại, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
  8. Đối với hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Thành C, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra Công văn thông tin đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V, thành phố Cần Thơ xử lý theo thẩm quyền là phù hợp với quy định pháp luật.
  9. Về các vấn đề khác: các bị cáo Danh Hùng D, Lê Văn H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Danh Hùng D, Lê Văn H (H1) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Danh Hùng D 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 24 tháng 3 năm 2024).
  2. Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Lê Văn H (H1) 09 tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 24 tháng 3 năm 2024).
  3. Căn cứ Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:
    • - Tịch thu tiêu hủy 01 (một) thanh kim loại vằng, màu đen, loại tròn, dài khoảng 39cm, đường kính khoảng 20mm, có một đầu bị bẻ cong; 01 (một) mũ bảo hiểm màu trắng; 01 (một) mũ bảo hiểm màu đỏ đen (tất cả đã qua sử dụng).
    • - Tịch thu bán phát mại sung vào ngân sách Nhà nước 01 (một) xe gắn máy BS: 67B1-822.92, màu bạc, số máy: VMSACB-H013714, số khung: RLGKH9H013714 (đã qua sử dụng).

    (Đặc điểm theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 08/7/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh An Giang và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang).

  4. Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Danh Hùng D, Lê Văn H (Hóa) mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh An Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh An Giang;
  • - Viện kiểm sát tỉnh An Giang;
  • - Phòng PV 06 - Công an tỉnh An Giang;
  • - Viện kiểm sát huyện Thoại Sơn;
  • - Chi cục THA DS huyện Thoại Sơn;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Trần Văn Hân Em

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 79/2024/HS-ST ngày 22/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 79/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Danh Hùng D và đồng phạm phạm tôi Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger