|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ N TỈNH KHÁNH HÒA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 79/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 22-7-2024
V/v tranh chấp ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ N, TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Quốc Thịnh
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Nguyễn Chung
- Ông Trương Tha
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Gia Linh – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã N.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã N tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Hải – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã N, tỉnh Khánh Hòa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 881/2023/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 67a/2024/QÐST-HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2024 và Thông báo dời ngày xét xử số 06 ngày 04/7/2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Dương Thị Kim H, sinh năm 1990;
- Nơi cư trú: Thôn Mỹ Giang, xã P, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa; Có đơn xin xét xử vắng mặt;
- - Bị đơn: Ông Nguyễn Cảnh S, sinh năm 1986;
- Nơi ĐKNKTT: Xóm 11, xã V, huyện C, tỉnh Nghệ An
- Chổ ở hiện nay: Thôn Mỹ Giang, xã P, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Dương Thị Kim H trình bày:
Bà và ông Nguyễn Cảnh S, sinh năm 1986 tự nguyện kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã P cấp giấy chứng nhận kết hôn số 55 ngày 12/9/2011. Quá trình chung sống ông bà có với nhau hai con chung là Nguyễn Viết Kh, sinh ngày 05/12/2011 và Nguyễn Thị Ngọc Qu, sinh ngày 31/8/2018.
Thời gian đầu cuộc sống hôn nhân của hai vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc nhưng đến đầu năm 2022 phát sinh mâu thuẫn do tính tình hai bên không hợp nhau, không tìm được tiếng nói chung. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Nguyễn Cảnh S
Về con chung: Bà tự nguyện trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng hai con chung là Nguyễn Viết Kh, sinh ngày 05/12/2011 và Nguyễn Thị Ngọc Qu, sinh ngày 31/8/2018 đến tuổi trưởng thành. Bà không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà không yêu cầu giải quyết tài sản chung và xác định không có nợ chung với ông S.
Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng cố tình vắng mặt không có lý do nên Tòa án không thể tiến hành các thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã N tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau:
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và nguyên đơn đã chấp hành đúng và đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn không chấp hành nhưng đã được Tòa án tống đạt hợp lệ, công khai đảm bảo quyền lợi hợp pháp. Căn cứ vào Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đúng quy định
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Dương Thị Kim H; về con chung: Giao hai con chung là Nguyễn Viết Kh, sinh ngày 05/12/2011 và Nguyễn Thị Ngọc Qu, sinh ngày 31/8/2018 cho bà Dương Thị Kim H trực tiếp chăm nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành. Ông S không phải cấp dưỡng nuôi con chung; về tài sản chung và nợ chung: Bà H không yêu cầu giải quyết tài sản chung và xác định không có nợ chung với ông S nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Ngày 27/6/2024, nguyên đơn bà Dương Thị Kim H có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn là ông Nguyễn Cảnh S đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[2] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Dương Thị Kim H yêu cầu giải quyết ly hôn với ông Nguyễn Cảnh S hiện cư trú tại: Thôn Mỹ Giang, xã P, thị xã N, tỉnh Kh Hòa nên quan hệ pháp luật trong vụ án được xác định là tranh chấp về quan hệ hôn nhân và gia đình và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã N theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà Dương Thị Kim H và ông Nguyễn Cảnh S kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 55 ngày 12/9/2011 vì vậy đây là hôn nhân hợp pháp.
Qua lời trình bày của bà Dương Thị Kim H, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hôn nhân phải trên cơ sở tự nguyện, giữa vợ chồng có sự yêu thương, chăm sóc lẫn nhau, tuy nhiên quan hệ hôn nhân giữa bà H, ông S không hạnh phúc vì lý do tính tình không còn phù hợp, mạnh ai nấy sống, không ai quan tâm chăm sóc ai. Mặt khác, trong suốt quá trình tố tụng, ông S cố tình vắng mặt không đến Tòa, điều này đủ cơ sở xác định ông S không còn quan tâm đến bà H. Như vậy, đời sống chung của bà H, ông S không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, yêu cầu xin ly hôn của bà H là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về con chung: Theo tài liệu giấy khai sinh và lời khai của bà H thì bà H và ông S có hai con chung là Nguyễn Viết Kh, sinh ngày 05/12/2011 và Nguyễn Thị Ngọc Qu, sinh ngày 31/8/2018. Bà H tự nguyện trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng hai con chung đến tuổi trưởng thành. Đồng thời, cháu Kh có nguyện vọng được ở với mẹ và hiện 02 cháu đang ở với bà H, vì vậy để đảm bảo quyền lợi mọi mặt cũng như bảo đảm sự phát triển toàn diện và cuộc sống ổn định cho con chung, Hội đồng xét xử xét nên giao hai con chung cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Bà H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[5] Về tài sản chung và nợ chung: Bà H không yêu cầu giải quyết tài sản chung và xác định không có nợ chung với ông S nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[6] Về án phí: Bà H phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
[7] Xét về quan điểm giải quyết vụ án của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã N là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận toàn bộ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, Điều 278 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Dương Thị Kim H.
- Về hôn nhân: Bà Dương Thị Kim H được ly hôn ông Nguyễn Cảnh S.
- Về con chung: Giao hai con chung là Nguyễn Viết Kh, sinh ngày 05/12/2011 và Nguyễn Thị Ngọc Qu, sinh ngày 31/8/2018 cho bà Dương Thị Kim H trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng sau khi ly hôn. Ông Nguyễn Cảnh S không phải cấp dưỡng nuôi hai con chung.
Ông Nguyễn Cảnh S có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.
Vì lợi ích của con chung khi cần thiết các đương sự có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con chung hoặc mức cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về án phí: Bà Dương Thị Kim H phải nộp 300.000 (ba trăm ngàn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà bà H đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ký hiệu BLTU/23 số 0005377 ngày 26 tháng 12 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Bà H đã nộp đủ án phí.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Quy định chung: Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Quốc Thịnh |
Bản án số 79/2024/HNGĐ-ST ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ N TỈNH KHÁNH HÒA về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 79/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ N TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Dương Thị Kim H. Bà Dương Thị Kim H được ly hôn ông Nguyễn Cảnh S.
