|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 79/2024/HS-ST Ngày: 22-5-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Xuân Lộc
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Hồng Hải
- Ông Dương Đức Chung
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Quỳnh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Cúc - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Ủy ban nhân dân xã T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 32/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Lê Văn T (tên gọi khác: Không), sinh ngày 20 tháng 4 năm 1990 tại tỉnh Thái Nguyên; nơi thường trú: xóm N, xã T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Sán Dìu; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Hồng T1 và bà Trương Thị H; có vợ là Nguyễn Thị H1 (đã ly hôn), vợ chồng có 01 con chung sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: không có;
Nhân thân: Ngày 27/7/2021 bị Ủy ban nhân dân xã T áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn trong thời hạn 03 tháng tại Quyết định số 12 ngày 27/7/2021, đã chấp hành xong vào ngày 27/11/2021.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/01/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trương Thị H, sinh năm: 1967; địa chỉ: xóm N, xã T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Có mặt.
- Người chứng kiến:
- Ông Hoàng Văn Đ, sinh năm: 1982; địa chỉ: tổ dân phố T, phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.
- Ông Nguyễn Minh S, sinh năm: 1980; địa chỉ: tổ dân phố T, phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 08 giờ 30 phút ngày 04/01/2024, tổ công tác của Công an phường B, thành phố P đang làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát tại khu vực tổ dân phố T, phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên thì phát hiện Lê Văn T có biểu hiện nghi vấn tàng trữ trái phép chất ma tuý. Tiến hành kiểm tra, tổ công tác phát hiện trong lòng bàn tay trái của T đang cầm 01 (một) gói giấy bạc, bên trong có chứa chất rắn dạng bột màu trắng đục. Tổ công tác còn phát hiện 01 (một) gói giấy màu trắng, bên trong có 01 (một) xi lanh và 01 (một) gói giấy bạc, bên trong có chứa chất rắn dạng bột màu trắng đục, thu giữ tại mép đường bê tông cách vị trí T bị bắt khoảng 03 mét. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T và tạm giữ, niêm phong vật chứng. Ngoài ra tổ công tác còn tạm giữ của Lê Văn T 01 xe máy điện nhãn hiệu KAISHI màu đỏ đen, không có biển kiểm soát.
Cùng ngày, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P phối hợp với Phòng K Công an tỉnh T tiến hành mở niêm phong phong bì ký hiệu A, cân khối lượng số chất rắn dạng bột màu trắng đục được 0,139 gam và niêm phong trong phong bì ký hiệu K1 gửi giám định. Mở niêm phong phong bì ký hiệu B, cân khối lượng chất rắn dạng bột màu trắng đục được 0,036 gam và niêm phong trong phong bì ký hiệu K2 gửi giám định.
Tại Kết luận giám định số 183/KL-KTHS ngày 12/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Chất rắn dạng bột màu trắng đục trong bì niêm phong ký hiệu K1 gửi giám định là chất ma tuý, loại Heroine (H); Khối lượng thu giữ ban đầu là 0,139 gam. Chất rắn dạng bột màu trắng đục trong bì niêm phong ký hiệu K2 gửi giám định là chất ma tuý, loại Heroine (H); Khối lượng thu giữ ban đầu là 0,036 gam.
Quá trình điều tra, Lê Văn T khai nhận: Vào khoảng 07 giờ 30 phút ngày 04/01/2024, T đi xe máy điện nhãn hiệu KAISHI màu đỏ đen, không có biển kiểm soát từ nhà thuộc xóm N, xã T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên đến khu vực tổ dân phố T, phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên để tìm mua ma tuý về sử dụng cho bản thân. Khi đến khu vực đường dân sinh thuộc tổ dân phố T, phường B, T gặp một người nữ giới (không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể) đeo khẩu trang và đội mũ đang đứng ở bờ mương giáp đường bê tông. Biết người nữ giới này có bán ma tuý nên T đã hỏi mua một gói ma tuý thì người nữ giới trên đồng ý. Thời đưa cho người nữ giới 100.000 đồng, người nữ giới cầm tiền rồi chỉ T ra chỗ bờ mương cách chỗ T đứng khoảng 03 mét. Thời hiểu ý là người bán đã để sẵn ma tuý ở đó chỉ việc đi ra lấy. Thời đi bộ ra thì thấy 01 gói giấy màu trắng, bên trong có 01 gói giấy bạc, bên trong gói giấy bạc là ma tuý loại Heroine đang được để trên một viên gạch trên bờ mương. Người nữ giới bán ma tuý cho T xong thì rời đi. Sau đó, T dùng móng tay chia đôi số ma tuý Heroine trong giấy bạc đồng thời dùng tay chia đôi mảnh giấy bạc. Thời gói một gói Heroine trong giấy bạc rồi cầm trong bàn tay trái, chỗ còn lại T lấy xilanh đã mang theo sẵn rồi đổ một ít ma tuý Heroine vào xilanh sử dụng luôn, phần còn lại chưa sử dụng hết T lại gói vào mảnh giấy bạc rồi dùng gói giấy màu trắng gói xilanh cùng số ma tuý chưa sử dụng hết đút vào túi áo ngực bên trái phía trước Thời đang mặc. Sau đó T lấy xe máy điện đi về thì thấy lực lượng Công an phường B đến kiểm tra. Thời lấy gói giấy bên trong có xilanh và ma tuý từ trong túi áo ngực vứt ra bên cạnh chỗ T đứng, còn gói ma tuý đang cầm trong tay T chưa kịp vứt thì lực lượng Công an đến bắt quả tang. Quá trình làm việc Thời đã tự nguyện giao nộp gói ma tuý Thời cầm trong tay đồng thời Công an cũng thu giữ gói giấy bên dưới đất bên trong có chứa xilanh và gói giấy bạc chứa ma tuý T đã sử dụng trước đó.
Tại bản cáo trạng số 42/CT-VKSPY ngày 26/02/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Lê Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, vật chứng thu giữ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Trương Thị H khai không biết việc Lê Văn T sử dụng xe máy điện của mình để đi mua ma tuý. Bà H đề nghị được trả lại chiếc xe máy điện để quản lý, sử dụng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51; điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt Lê Văn T từ 18 đến 24 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy các vật chứng là ma tuý còn lại sau giám định và vỏ bao gói kèm theo.
Trả lại cho bà Trương Thị H 01 xe máy điện để quản lý, sử dụng do bà H không biết bị cáo T sử dụng xe để đi mua ma tuý.
Ngoài ra còn đề nghị án phí đối với bị cáo và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất để sớm có cơ hội được trở về hòa nhập cộng đồng và thành người có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên toà là khách quan, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong quá trình điều tra, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 08 giờ 30 phút ngày 04/01/2024 tại khu vực đường dân sinh thuộc tổ dân phố T, phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên, Lê Văn T đã tàng trữ trái phép 0,175 gam ma tuý, loại Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị lực lượng Công an phường B phát hiện, bắt quả tang.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý, sử dụng các chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương và đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng số 42/CT-VKSPY ngày 26/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ.
“Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:...
c) Heroine ... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;...".
[3] Xét các yếu tố về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy rằng:
- Về nhân thân: Năm 2021 bị cáo bị áp dụng biện pháp giáo dục tại thị trấn thời hạn là 03 tháng do mắc nghiện ma tuý, bị cáo đã chấp hành xong quyết định.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
[4] Về hình phạt đối với bị cáo: Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các yếu tố về nhân thân, Hội đồng xét xử thấy rằng cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo, mới đảm bảo được tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời răn đe, giáo dục phòng ngừa chung. Xét thấy, mức án mà Đại diện viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp được chấp nhận.
Hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng, phạm tội không có mục đích mua bán trục lợi nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Về vật chứng vụ án: Toàn bộ số ma tuý của bị cáo bị thu giữ và vỏ bao gói kèm theo là vật cấm lưu thông, không còn giá trị sử dụng nên cần xử lý tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 xe máy điện Lê Văn T sử dụng để đi mua ma tuý. Quá trình điều tra xác định, xe máy là tài sản của bà Trương Thị H, mẹ của T. Bà H không biết T sử dụng xe máy để đi mua ma tuý nên cần trả lại cho bà Trương Thị H chiếc xe máy điện để quản lý, sử dụng.
[6] Về án phí và chi phí tố tụng: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7] Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[8] Về nguồn gốc số ma túy Heroine, Lê Văn T khai mua của một người nữ giới không rõ tên tuổi, địa chỉ tại khu vực tổ dân phố T, phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P tiếp tục điều tra, xác minh xử lý sau.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 47; Điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự;
Căn cứ Điều 106, Điều 136, Điều 329, Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên bố:
- Về tội danh: Bị cáo Lê Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Về hình phạt:
- Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Lê Văn T 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 04 tháng 01 năm 2024.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
- Về xử lý vật chứng:
- - Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu K1 ghi hoàn trả 0,129 gam mẫu K1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói; 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu K2 ghi hoàn trả 0,026 gam mẫu K2 còn lại sau giám định và vỏ bao gói; 01 phong bì niêm phong có kí hiệu L ghi mẫu lưu Lê Văn T.
- - Trả lại cho bà Trương Thị H 01 xe máy điện nhãn hiệu KAISHI, màu sơn đỏ đen, không có biển kiểm soát, có số khung RL9Y8EKHDLAW00011, xe cũ, đã qua sử dụng.
- Về án phí sơ thẩm:
- Về quyền kháng cáo:
Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án.
(Tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố P với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên ngày 07/3/2024).
Buộc bị cáo Lê Văn T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Hoàng Xuân Lộc |
Bản án số 79/2024/HS-ST ngày 22/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 79/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tàng trữ
