TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 – AN GIANG TỈNH AN GIANG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 79/2025/HNGĐ-ST Ngày: 10/12/2025. V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, xin ly hôn và nuôi con chung" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo Ngân
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Thành Chúng;
- Bà Dương Thị Thúy Duy.
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Hà Thanh Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 15, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Trà Mi – Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 12 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 15, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 196/2025/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 10 năm 2025 về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 113/2025/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Trương Thị Trúc M, sinh năm 1987; CMND: [...] cấp ngày 19/9/2018; nơi cư trú: Ấp T, xã K, tỉnh An Giang; SĐT: 0891.870.07621 - Vắng mặt có đơn.
Bị đơn: Ông SUON YUOENG, sinh năm 1990; CMND: [...] cấp ngày 16/3/2015; Nơi ĐKHKTT: Ấp C, xã S, huyện K, tỉnh Kandal, Vương quốc C. Chỗ ở hiện nay: ấp T, xã K, tỉnh An Giang. SĐT: 0923.113.xxx – Vắng mặt có đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai cùng với các tài liệu, chứng cứ kèm theo và quá trình tố tụng tại Tòa án, bà Trương Thị Trúc M trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân của vợ chồng ông bà là tự tìm hiểu, cha mẹ hai bên đồng ý tiến tới hôn nhân, không tổ chức lễ cưới nhưng có thực hiện đăng ký kết hôn vào ngày 18/7/2020 tại Ủy ban nhân dân thị trấn L (nay là xã K).
Thời gian đầu chung sống hạnh phúc đến cuối năm 2024, vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung nên thường xuyên cãi vã, ông SUON YUOENG thường xuyên đánh bạc, không chăm lo cuộc sống gia đình. Ông bà đã ly thân từ thời gian đó cho đến nay.
Trong thời gian sống ly thân, ông SUON YUOENG không liên hệ hàn gắn, tới lui thăm con chung. Nay bà nhận thấy không thể tiếp tục chung sống, dù gia đình hai bên có hòa giải nhưng cũng không còn hạnh phúc nên bà M quyết định nộp đơn xin ly hôn với ông S YUOENG.
Về quan hệ con chung: Trong thời gian chung sống ông bà sinh được 01 (một) con chung tên Trương Quốc H, sinh năm ngày 03/02/2020, bà M đồng ý tiếp tục nuôi dạy con chung và không yêu cầu ông SUON YUOENG cấp dưỡng nuôi con chung.
Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bà yêu cầu không tiến hành hòa giải mà đưa vụ án ra xét xử do bà M quyết ly hôn, không còn tình cảm với ông SUON YUOENG.
Về tài liệu chứng cứ: Các tài liệu chứng cứ các đương sự giao nộp đã được thẩm tra và công khai trong quá trình hòa giải, các đương sự không có ý kiến gì về các tài liệu chứng cứ và tại phiên tòa không ai giao nộp bổ sung thêm tài liệu chứng cứ khác.
Trong quá trình thụ lý, hòa giải Tòa án đã tiến hành cấp tống đạt cho ông SUON YUOENG theo quy định nhưng ông S1 vẫn không có mặt theo các thông báo của Tòa án. Tòa án tiến hành xác minh nơi cư trú và tình trạng hôn nhân của bà M và ông SUON YUOENG để giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
Chứng cứ mà Tòa án thu thập được:
Theo Biên bản ghi nhận lời khai của bị đơn ông SUON YUOENG ngày 20/11/2025 thể hiện: Cha mẹ ông đều là người Việt Nam nhưng sinh sống và làm việc ở huyện K, tỉnh Kandal, Campuchia. Hiện ông đang sống tại ấp T, xã K, tỉnh An Giang. Ông có thể nghe, nói và viết Tiếng Việt mà không cần người phiên dịch.
Đối với yêu cầu ly hôn của bà M, ông không đồng ý, mâu thuẫn vợ chồng chưa trầm trọng, ông xác định còn tình cảm nên xin hàn gắn. Ông cho biết trong thời gian ly thân ông không hàn gắn với bà M do bị chặn số điện thoại, ông tìm đến nhà thì bà M cho rằng ông quấy rối và gọi Công an đến giải quyết, ông phải thường xuyên đi làm nên bỏ mặt. Thống nhất bà M về con chung, tài sản chung và nợ chung.
Theo Biên bản xác minh ngày 18/11/2025 của bà Trương Thị Thùy L là chị ruột của bà M cho biết sau khi kết hôn, ông S YUOENG và bà M chung sống và chăm lo làm ăn, bà M buôn bán nhỏ lẻ, ông SUON YUOENG làm công đoàn, cuộc sống tương đối hạnh phúc. Chung sống được khoảng 01 năm thì ông SUON YUOENG bắt đầu tụ tập bạn bè, cờ bạc gia đình khuyên ngăn nhưng ông SUON YUOENG vẫn không thay đổi, thậm chí ông còn lấy tài sản của gia đình đi bán để đánh bạc. Việc này đã diễn ra nhiều năm nhưng vì thương con nên bà M cố khuyên ngăn, chịu đựng nhưng không có kết quả. Đến cuối năm 2024, ông S YUOENG và bà M ly thân, nhận thấy chung sống cũng không hạnh phúc nên bà M mới nộp đơn xin ly hôn với ông S YUOENG. Đối với yêu cầu ly hôn của bà M và ông SUON YUOENG, bà không có ý kiến tùy ông SUON YUOENG và bà M quyết định.
Tại phiên tòa, bà M, ông SUON YUOENG vắng mặt có đơn nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt ông bà theo thủ tục chung.
Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát về tuân thủ pháp luật của Thẩm phán trong ghi lời khai, thủ tục xét xử vắng mặt, xác định quan hệ tranh chấp, tư cách người tham gia tố tụng... là hoàn toàn phù hợp với pháp luật tố tụng dân sự. Đối với thành phần Hội đồng xét xử không có thành viên nào thuộc đối tượng phải thay đổi, việc xét hỏi tại phiên tòa, thời hạn xét xử cũng như thủ tục xét xử vắng mặt được đảm bảo.
Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát về nội dung: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp: Bà M chung sống với ông SUON YUOENG đến năm 2024 thì không còn hạnh phúc nên bà khởi kiện yêu cầu được ly hôn, Tòa án thụ lý vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn, nuôi con chung là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về thẩm quyền giải quyết: ông SUON YUOENG có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại huyện K, tỉnh Kandal, Campuchia. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 5 Nghị quyết 01/2025/NQ-HĐTP hướng dẫn về việc tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 15 - tỉnh An Giang.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị Trúc M, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[3.1] Về hôn nhân: Bà M và ông S YUOENG tiến đến hôn nhân là do tự tìm hiểu, được hai bên gia đình đồng ý tiến hành tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn L (nay là xã K) vào năm 2020 nên phát sinh trách nhiệm pháp lý, phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên và được pháp luật bảo vệ theo Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Mặc dù Tòa án đã động viên và hòa giải nhưng bà M vẫn cương quyết xin được ly hôn với ông S YUOENG. Tại phiên hòa giải, bà M yêu cầu không tiến hành hòa giải do không còn tình cảm và tại phiên tòa hôm nay, bà M vắng mặt đã thể hiện việc không thể quay lại chung sống với ông SUON YUOENG. Ông SUON YUOENG cho rằng mâu thuẫn vợ chồng chưa đến mức trầm trọng xin được hàn gắn nhưng ông không có hành động cụ thể mà bỏ mặc tình cảm vợ chồng; bà M có thái độ kiên quyết không đồng ý tiếp tục chung sống.
Hội đồng xét xử xét thấy giữa bà M và ông S YUOENG có thời gian ly thân từ cuối năm 2024 đến nay nhưng cả hai không có giải pháp hàn gắn, bỏ mặt tình cảm vợ chồng, gia đình hai bên không can thiệp đã cho thấy mâu thuẫn của ông bà đã trầm trọng không thể hàn gắn được, đều này phù hợp với kết quả xác minh ngày 18/11/2025 của Tòa án về tình trạng hôn nhân của ông bà.
Trong quá trình tố tụng, ông SUON YUOENG đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và đã biết nội dung vụ án; ngoài ra, ông cũng đã được triệu tập hợp lệ đến Tòa án để tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, cũng như tham gia các phiên tòa xét xử sơ thẩm nhưng ông đều vắng mặt không có lý do và cũng không có ý kiến phản đối về yêu cầu khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ mà phía bà M cung cấp. Do đó, căn cứ Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xét thấy việc bà M trình bày là có cơ sở nên Hội đồng xét xử nhận định mâu thuẫn giữa bà M và ông S YUOENG đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu xin ly hôn của bà M là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[3.2] Về con chung: Có 01 (một) con chung tên Trương Quốc H, sinh ngày 03/02/2020, hiện nay con chung đang sống chung với bà M và gia đình. Nếu Tòa án giải quyết ly hôn bà M đồng ý tiếp tục nuôi con chung và không yêu cầu ông SUON YUOENG cấp dưỡng nuôi con chung.
Xét thấy, con chung từ khi sinh ra đến nay được bà M chăm sóc, phát triển tốt, việc thay đổi chỗ ở, hoàn cảnh sống đột ngột sẽ ảnh hưởng đến tâm sinh lý và sự phát triển của cháu sau này. Do đó, việc tiếp tục giao con chung cho bà M nuôi dưỡng là phù hợp với hoàn cảnh sống và quy định của pháp luật.
[3.3] Về cấp dưỡng: Theo quy định của pháp luật, khi ly hôn bên không nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên, bà M không yêu cầu ông SUON YUOENG cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử công nhận sự tự nguyện của bà.
Hội đồng xét xử giải thích cho các đương sự biết: Bà M cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông SUON YUOENG trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
[4] Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Bà M không yêu cầu Tòa án xem xét nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[5] Xét phát biểu của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Về án phí: Bà M là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm. Các đương sự không phải chịu án phí nào khác.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 4 Điều 147, các Điều 227, 228, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Điều 5 Nghị quyết 01/2025/NQ-HĐTP hướng dẫn về việc tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực;
Căn cứ Điều 27, Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH 14, ngày 30/12/2016;
Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị Trúc M.
1. Về hôn nhân: Bà Trương Thị Trúc M được ly hôn với ông SUON YUOENG.
2. Về con chung: Giao cháu Trương Quốc H, sinh ngày 03/02/2020 cho bà Trương Thị Trúc M tiếp tục nuôi dưỡng. Công nhận sự tự nguyện của bà M không yêu cầu ông SUON YUOENG cấp dưỡng nuôi con chung.
Bà M cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông SUON YUOENG trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
3. Về án phí: Bà Trương Thị Trúc M phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm được chuyển từ tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0006040 ngày 24/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang. Bà M đã nộp đủ. Các đương sự không phải chịu án phí nào khác.
4. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 10/12/2025), các đương sự được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Riêng thời hạn kháng cáo đối với người vắng mặt được tính kể từ ngày tống đạt hoặc niêm yết bản án tại nơi cư trú.
5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
* Nơi nhận:
| Nguyễn Thị Thảo Ngân |
Bản án số 79/2025/HNGĐ-ST ngày 10/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 79/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà M xin ly hôn với ông S
