Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 2

TỈNH AN GIANG

Bản án số: 79/2025/HS-ST

Ngày 12 tháng 11 năm 2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

———————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2– AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Ông Lâm Thanh Điền

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Dương Tấn Đấu

2/ Bà Nguyễn Tường Diễm Linh Giang

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Trà My– Thư ký Tòa án nhân dân Khu Vực 2- An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu Vực 2- An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Vinh- Kiểm sát viên.

Trong ngày 12 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu Vực 2- An Giang đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 62/2025/TLST- HS, ngày 28 tháng 9 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 123/2025/QĐXXST- HS, ngày 27 tháng 10 năm 2025, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Văn T. Giới tính: Nam.

Tên gọi khác: Không có.

Sinh ngày 15 tháng 8 năm 1988, tại: P- An Giang.

Nơi ĐKTT: Khu phố 4- Dương Đông, đặc khu Phú Quốc, tỉnh An Giang.

Chỗ ở: Khu phố 4- Dương Đông, đặc khu Phú Quốc, tỉnh An Giang.

Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không.

Nghề nghiệp: Không. Trình độ học vấn: 3/12

Cha: Nguyễn Văn T1, sinh năm 1966, còn sống.

Mẹ: Lâm Thị B, sinh năm 1955, còn sống.

Bị cáo không có anh, chị, em.

Vợ: Đặng Thị Thùy L, sinh năm 1990.

Con: 01 người, sinh năm 2010.

* Tiền án: 02 lần.

Lần 1: Ngày 10/9/2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc xử phạt 12 tháng tù, về tội: Trộm cắp tài sản, theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, tại bản án số 88/2021/HS-ST. Ngày 02/4/2022, chấp hành xong hình phạt tù, chưa đống án phí, chưa được xóa án tích.

Lần 2: Ngày 07/6/2023, bị Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội: Trộm cắp tài sản, theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, tại bản án số 70/2023/HS-ST. Ngày 26/4/2024, chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xóa án tích.

Tiền sự: Chưa có.

Từ ngày 16/5/2025 đến ngày 02/6/2025, thực hiện hành vi: Trộm cắp tài sản. Đến ngày 04/6/2025, đầu thú và bị tạm giữ, ngày 12/6/2025, bị khởi tố, tạm giam theo lệnh số A172. Hiện bị can đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực P:

2. Họ và tên: Nguyễn Tuấn A. Giới tính: Nam.

Tên gọi khác: Không có.

Sinh ngày 14 tháng 9 năm 1984, tại: P- An Giang.

Nơi ĐKTT: Khu phố 1- Dương Đông, đặc khu Phú Quốc, tỉnh An Giang.

Chỗ ở: Khu phố 1- Dương Đông, đặc khu Phú Quốc, tỉnh An Giang.

Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không.

Nghề nghiệp: Kinh doanh. Trình độ học vấn: 9/12

Cha: Nguyễn Văn L1, sinh năm 1965, còn sống.

Mẹ: Nguyễn Thị Bích T2, sinh năm 1969, còn sống.

Em R: 02 người, lớn sinh năm 1985, nhỏ sinh năm 1990.

Vợ: Trần Kim L2, sinh năm 1985.

Con: 07 người, L3 sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2021.

* Tiền án, tiền sự: Chưa có.

Về nhân thân: Ngày 02/02/2010, bị Tòa án nhân dân huyện phú Q xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội: “Cố ý gây thương tích” theo khoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999, tại bản án số 06/2010/HS-ST. Ngày 22/12/2010, chấp hành xong hình phạt tù, đã xóa án tích.

3. Họ và tên: Dư Hữu Đ. Giới tính: Nam.

Tên gọi khác: Không có.

Sinh ngày 18 tháng 4 năm 1995, tại: P- An Giang.

Nơi ĐKTT: Khu phố Cây Thông Ngoài Cửa Dương, đặc khu Phú Quốc, tỉnh An Giang.

Chỗ ở: Khu phố Cây Thông Ngoài Cửa Dương, đặc khu Phú Quốc, tỉnh An Giang.

Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không.

Nghề nghiệp: Không. Trình độ học vấn: 1/12

Cha: Dư Hữu C, sinh năm 1965, còn sống.

Mẹ: Trần Thị T3, sinh năm 1968, còn sống.

Chị, em: 03 người, lớn nhất sinh năm 1993, nhỏ nhất sinh năm 2009.

Bị cáo chưa có vợ, con.

* Tiền án, tiền sự: Chưa có.

(Các bị cáo có mặt tại phiên tòa).

* Bị hại:

1/ Ông Huỳnh Thúc Phú L4, sinh năm 1988

Địa chỉ: Khu phố B- D, đặc khu P, tỉnh An Giang.

2/ Ông Hồ Hoàng T4, sinh năm 1994

Địa chỉ: Khu phố S, đặc khu P, tỉnh An Giang.

3/ Bà Phạm Thị Diệu H, sinh năm 1997

Địa chỉ: Khu phố A- D, đặc khu P, tỉnh An Giang.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Ông Trần Văn Út H1, sinh năm 1973

2/ Ông Nguyễn Đức T5, sinh năm 1986

Cùng địa chỉ: Khu phố A - D, đặc khu P, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ ngày 16/5/2025 đến ngày 02/6/2025, Nguyễn Tuấn A, Nguyễn Văn T và Dư Hữu Đ đã thực hiện các vụ trộm cắp tài sản của người dân trên địa bàn thành phố P, tỉnh Kiên Giang (nay là đặc khu P, tỉnh An Giang) cụ thể như sau:

- Lần thứ nhất: Vào khoảng 15 giờ 30 phút, ngày 16/5/2025, Nguyễn Tuấn A điều khiển xe mô tô, không nhớ biển số (mượn của H2 chưa rõ nhân thân) chở Nguyễn Văn T chạy ngang qua ngân hàng H3 thuộc khu phố A, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (nay là khu phố A- D, đặc khu P, tỉnh An Giang). T nhìn thấy xe mô tô, nhãn hiệu Sirius, màu xám, biển số 68M7-329.96 của anh Huỳnh Thúc Phú L4 có gắn chìa khóa trên xe đậu cặp bên ngân hàng H3, nên T kêu Tuấn A dừng xe lại đẻ T lấy trộm xe mô tô. Tuấn A dừng xe lại cho T xuống xe rồi tiếp tục điều khiển xe chạy đến khu vực sân bay cũ thuộc khu phố D, phường D, thành phố P chờ T. Lúc này khoảng 15 giờ 40 phút cùng ngày, T đi đến lấy trộm xe mô tô của anh L4 chạy đến gặp Tuấn A. Sau đó, cả hai chạy xe về nhà của T tại khu phố D, phường D bỏ biển số xe. Đến khoảng 10 giờ ngày 17/5/2025, T điều khiển xe trộm của anh L4 chở Tuấn A đến vựa thu mua phế liệu của ông Trần Văn Út H1 tại khu phố A, phường D bán cho ông H1 được 2.000.000 đồng (khi mua xe ông H1 không biết tài sản do trộm cắp mà có). Số tiền trên Tuấn A và T chia nhau mỗi người được 1.000.000 đồng và tiêu xài cá nhân hết. Sau khi biết được xe mô tô mua của Tuấn A là do trộm cắp mà có nên ông H1 đem giao nộp cho Cơ quan điều tra. (Bút lục số: 12, 14, 16, 19, 20 và 21).

- Lần thứ hai: Vào khoảng 00 giờ 15 phút ngày 29/5/2025, Nguyễn Tuấn A rủ Dư Hữu Đ đi trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài thì Đ đồng ý. Sau đó, Tuấn A điều khiển xe mô tô, không nhớ biển số (mượn của H2 chưa rõ nhân thân) chở Đ chạy đến trước nhà trọ “Châu Xuyên” thuộc ấp S, xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (nay là khu phố S, đặc khu P, tỉnh An Giang) Tuấn A nhìn thấy xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter 150, màu xám, biển số 67M1-809.99 của anh Hồ Hoàng T4 để phía trước nhà trọ. Lúc này khoảng 01 giờ cùng ngày, Tuấn A đi bộ đến lấy trộm xe của anh Hoàng T4 dắt ra đường và ngồi trên xe vừa trộm được để Đ điều khiển xe đẩy về nhà của Đ thuộc ấp C, xã C, thành phố P (nay là khu phố C, đặc khu P) cất giấu. Đến khoảng 17 giờ ngày 01/6/2025, Tuấn A điều khiển xe mô tô trộm của anh Hoàng T4 chạy đến gặp Nguyễn Đức T5 tại khu phố A, phường D được 5.500.000 đồng (khi mua T5 không biết xe do trộm cắp mà có). Sau đó, Tuấn A chia cho Đ 1.000.000 đồng. Số tiền trên Tuấn A và Đ tiêu xài cá nhân hết. Ngày 02/6/2025, anh T5 biết xe mô tô mua của Tuấn A là do trộm cắp mà có nên đã giao nộp cho Cơ quan điều tra. (Bút lục số: 108, 110, 112, 114, 116, 118, 120, 122 và 125).

- Lần thứ ba: Vào khoảng 22 giờ, ngày 01/6/2025, Nguyễn Tuấn A cùng với Nguyễn Văn T đi xe mô tô (mượn của H2 chưa rõ nhân thân) đến nhà của Dư Hữu Đ tại khu phố C, đặc khu P chơi. Sau đó, Tuấn A rủ Đ và T đi tìm xe mô tô lấy trộm bán lấy tiền chia nhau tiêu xài thì tất cả đồng ý. Do không đủ xe đi nên Đ ở nhà, Tuấn A nói với Đ khi trộm xe được không có chìa khóa thì kêu Đ lại mở khóa, thì Đ1 đồng ý. Sau đó, T điều khiển xe mô tô chở Tuấn A chạy đi tìm xe mô tô lấy trộm, khi chạy ngang qua nhà trọ “Quốc M” thuộc khu phố A, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (nay là khu phố A D, đặc khu P, tỉnh An Giang) Tuấn A nhìn thấy xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu xám, biển số 68P1-045.57 của chị Phạm Thị Diệu H để trước cửa phòng trọ. Lúc này khoảng 02 giờ ngày 02/6/2025, T đứng ngoài canh đường, Tuấn A đi bộ vào lấy trộm xe mô tô của chị H dẫn ra ngoài và ngồi trên xe vừa trộm được để T điều khiển xe đẩy đi khoảng 700m cất giấu bên đường. Sau đó, T chở Tuấn A về nhà của Đ, lúc này khoảng 03 giờ cùng ngày, Tuấn A nói với Đ đã lấy trộm được xe mô tô nhưng không có chìa khóa nên kêu Đ đến nơi cất giấu để mở khóa xe. Sau đó, Đ điều khiển xe mô tô của Tuấn A chở Tuấn A đi đến nơi cất giấu xe, Đ nối dây điện xe mô tô trộm được, Tuấn A chạy xe trộm về cất giấu tại lùm cây bên cạnh nhà Đ rồi cả hai đi ngủ. Đến khoảng 07 giờ cùng ngày, Tuấn A điều khiển xe trộm được chạy đến khu phố C, đặc khu P để cặp bên hông nhà của người dân cất giấu để tìm nơi tiêu thụ. Sau đó, Tuấn A biết tin Công an đang truy tìm. Ngày 04/6/2025, Nguyễn Tuấn A, Nguyễn Văn T và Dư Hữu Đ đến Cơ quan điều tra đầu thú. Đến ngày 12/6/2025, Nguyễn Tuấn A, Nguyễn Văn T và Dư Hữu Đ bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K (nay là Công an tỉnh A) khởi tố, tạm giam để điều tra.

* Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu:

- 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu xám - bạc, số máy 5C63-6111622, số khung 630CY6116114, biển số 68P1-045.57, đã qua sử dụng.

- 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, màu xám - đen, số máy G3D4E946345, số khung RLCUG1010KY1178203, biển số 67M1-809.99, đã qua sử dụng.

- 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu xám, số máy 5C63243643, số khung RLCS5C6309Y243634, không có biển số, đã qua sử dụng.

- 01 (một) cái USB, trên thân có ghi chữ DT101 G2, dung lượng 04GB, màu xanh, đã qua sử dụng. (Đã đưa vào hồ sơ vụ án).

- 01 (một) cái USB, trên thân có ghi chữ Kington, dung lượng 08GB, màu trắng, đã qua sử dụng. (Đã đưa vào hồ sơ vụ án).

- 01 (một) cái USB, trên thân có ghi chữ Hoco, dung lượng 64GB, màu đen, đã qua sử dụng. (Đã đưa vào hồ sơ vụ án).

* Tại bản kết luận định giá về tài sản số: 143/KL-HĐĐGTS ngày 19 tháng 8 năm 2025 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thường xuyên tỉnh An Giang, kết luận:

- 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu xám, số máy 5C63243643, số khung RLCS5C6309Y243634, không có biển số, đã qua sử dụng. Kết luận về giá trị tài sản là 4.375.000 đồng (bốn triệu ba trăm bảy mươi lăm nghìn đồng).

- 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, màu xám - đen, số máy G3D4E946345, số khung RLCUG1010KY1178203, biển số 67M1-809.99, đã qua sử dụng. Kết luận về giá trị tài sản là 16.750.000 đồng (mười sáu triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).

- 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu xám - bạc, số máy 5C63-6111622, số khung 630CY6116114, biển số 68P1-045.57, đã qua sử dụng. Kết luận về giá trị tài sản là 5.500.000 đồng (năm triệu năm trăm nghìn đồng).

Tổng giá trị tài sản là 26.125.000 đồng. (Bút lục số: 134, 135).

Bản cáo trạng số: 53/CT– VKSPQ ngày 24 tháng 9 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc đã truy tố các bị cáo Nguyễn Tuấn A, Nguyễn Văn T và Dư Hữu Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Truy tố các bị cáo Nguyễn Tuấn A và Dư Hữu Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173 BLHS; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, 17, 58 và Điều 38 BLHS;

Xử phạt: Nguyễn Văn T từ 02 (Hai) năm tù đến 02 (Hai) 06 (Sáu) tháng tù.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173 BLHS; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, 17, 58 và Điều 38 BLHS;

Xử phạt: Nguyễn Tuấn A từ 18 (Mười tám) tháng tù đến 24 (Hai mươi bốn) tháng tù.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173 BLHS; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, 17, 58 và Điều 38 BLHS;

Xử phạt: Dư Hữu Đông từ 09 (Chín) tháng tù đến 12 (Mười hai) tháng tù.

* Về xử lý vật chứng:

Tất cả tài sản mà các bị cáo đã trộm bao gồm: 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu xám - bạc, số máy 5C63-6111622, số khung 630CY6116114, biển số 68P1-045.57; 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, màu xám - đen, số máy G3D4E946345, số khung RLCUG1010KY1178203, biển số 67M1-809.99; 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu xám, số máy 5C63243643, số khung RLCS5C6309Y243634, không có biển số đã qua sử dụng và cũng đã trả lại cho chủ sở hữu. Đề nghị HĐXX miễm xét.

* Về trách nhiệm dân sự: Sau khi vụ án xảy ra, bị hại Huỳnh Thúc Phú L4, Hồ Hoàng T4 và Phạm Thị Diệu H đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm. Các bị cáo đã trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn Ú Hết 2.000.000 đồng và ông Nguyễn Đức T5 5.500.000 đồng, ông H1 và ông T5 không yêu cầu bồi thường gì thêm. Đề nghị HĐXX miễn xét.

Tại phiên tòa:

Các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Tuấn A và Dư Hữu Đ thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản của người khác là sai và vi phạm pháp luật.

Lời nói sau cùng của các bị cáo trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P (nay là Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh A), Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân thành phố P (nay là Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2- An Giang), Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự và không bị khiếu nại. Tại phiên tòa những người tham gia tố tụng không có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Bị hại và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt, việc vắng mặt của Bị hại và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án, do đó căn cứ vào khoản 1 Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự. Hội đồng xét xử thống nhất xét xử vắng mặt bị hại và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

[3] Về hành vi bị truy tố của bị cáo:

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Tuấn A và Dư Hữu Đ thừa nhận:

Từ ngày 16/5/2025 đến ngày 02/6/2025, tại Khu phố A; Khu phố A và ấp S, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (nay là Khu phố S, đặc khu P, tỉnh An Giang), các bị cáo Nguyễn Tuấn A, Nguyễn Văn T và Dư Hữu Đ nhiều lần trộm cắp xe mô tô. Trong đó, Nguyễn Tuấn A tham gia 03 lần trộm xe của anh Huỳnh Thúc Phú L4, anh Hồ Hoàng T4 và chị Phạm Thị Diệu H trị giá 26.125.000 đồng; Nguyễn Văn T tham gia 02 lần trộm xe của anh Huỳnh Thúc Phú L4 và chi Phạm Thị Diệu H trị giá 9.875.000 đồng; Dư Hữu Đ tham gia 02 lần trộm xe của anh Hồ Hoàng T4 và chị Phạm Thị Diệu H trị giá 22.250.000 đồng. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra cũng như lời khai của bị hại có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận hành vi của các bị cáo Nguyễn Văn T đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 2 Điều 173 BLHS năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Nguyễn Tuấn A và Dư Hữu Đ đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 như kết luận của Viện kiểm sát là hoàn toàn có căn cứ và đúng quy định pháp luật.

[4] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:

Hành vi trộm cắp tài sản của các bị cáo Nguyễn Tuấn A, Nguyễn Văn T và Dư Hữu Đ đã xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác một cách trái pháp luật, tổng tài sản mà các bị cáo trộm cắp có giá trị lần lượt là: Nguyễn Tuấn A tham gia 03 lần trộm xe của anh Huỳnh Thúc Phú L4, anh Hồ Hoàng T4 và chị Phạm Thị Diệu H trị giá 26.125.000 đồng; Nguyễn Văn T tham gia 02 lần trộm xe của anh Huỳnh Thúc Phú L4 và chi Phạm Thị Diệu H trị giá 9.875.000 đồng; Dư Hữu Đ tham gia 02 lần trộm xe của anh Hồ Hoàng T4 và chị Phạm Thị Diệu H trị giá 22.250.000 đồng đã làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương và gây hoang mang trong dư luận quần chúng nhân dân, đây là hành vi nguy hiểm cho xã hội. Vì vậy, cần phải xử các bị cáo một mức án nghiêm để đủ sức răn đe, phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này.

Trong đó, xét vai trò của bị cáo Nguyễn Văn T là cao hơn các bị cáo khác, do bị cáo là người trực tiếp rủ ghê, lôi kéo các bị cáo khác cùng thực hiện hành vi phạm tội, kế đến là bị cáo Nguyễn Tuấn A đã 3 lần cùng với nguyễn Văn T thực hiện hành vi trộm cắp và cuối cùng là Dư Hữu Đ đã 02 lần cùng với Nguyễn Văn T thực hiện hành vi phạm tội.

[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội nhiều lần được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năng hối cải; Các bị cáo đã bồi thường, khắc phục hậu quả xong cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 BLHS nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ để xem xét cho các bị cáo khi lượng hình.

[6] Về các vấn đề khác:

* Về xử lý vật chứng: Tất cả tài sản mà các bị cáo trộm cắp đã trao trả cho chủ sở hữu. HĐXX miễm xét.

* Về trách nhiệm dân sự: Sau khi vụ án xảy ra, bị hại Huỳnh Thúc Phú L4, Hồ Hoàng T4 và Phạm Thị Diệu H đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm. Các bị cáo đã trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn Ú Hết 2.000.000 đồng và ông Nguyễn Đức T5 5.500.000 đồng, ông H1 và ông T5 không yêu cầu bồi thường gì thêm nên HĐXX miễn xét.

[7]. Về quan điểm của Viện kiểm sát: Về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và xử lý vật chứng mà vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là có căn cứ, HĐXX xem xét khi lượng hình.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ pháp luật:

    - Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173 BLHS; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, 17, 58 và Điều 38 BLHS;

    - Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

    - Xử phạt: Nguyễn Văn T 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày 04/6/2025 ngày mà bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam.

  2. Căn cứ pháp luật:

    - Áp dụng khoản 1 Điều 173 BLHS; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, 17, 58 và Điều 38 BLHS;

    - Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tuấn A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

    - Xử phạt: Nguyễn Tuấn A 01 (Một) năm tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày 04/6/2025 ngày mà bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam.

  3. Căn cứ pháp luật:

    - Áp dụng khoản 1 Điều 173 BLHS; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, 17, 58 và Điều 38 BLHS;

    - Tuyên bố: Bị cáo Dư Hữu Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

    - Xử phạt: Dư Hữu Đ 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày 04/6/2025 ngày mà bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam.

7. Về xử lý vật chứng: Tất cả tài sản mà các bị cáo trộm cắp đã trao trả cho chủ sở hữu. HĐXX miễm xét.

8. Về trách nhiệm dân sự: Sau khi vụ án xảy ra, bị hại Huỳnh Thúc Phú L4, Hồ Hoàng T4 và Phạm Thị Diệu H đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm. Các bị cáo đã trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn Ú Hết 2.000.000 đồng và ông Nguyễn Đức T5 5.500.000 đồng, ông H1 và ông T5 không yêu cầu bồi thường gì thêm nên HĐXX miễn xét.

9. Về án phí: Căn cứ Điều 135 và Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội. Bị cáo Nguyễn Huy T6 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm tại Cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền.

10. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai báo cho các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Bị hại và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản sao bản án hoặc được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử lại vụ án theo trình tự phúc thẩm.

Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh An Giang;

- Sở Tư pháp tỉnh An Giang;

- VKSND tỉnh An Giang;

- VKSND Khu Vực 2- An Giang;

- CQTHAHS Đặc Khu Phú Quốc;

- Phòng THADS Khu Vực 2 - An Giang;

- CQCSĐT CA tỉnh An Giang;

- Phòng nghiệp vụ công an tỉnh An Giang;

- Bị cáo;

- Bị hại;

- Lưu hồ sơ vụ án./.

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Lâm Thanh Điền

Tải xuống tệp đính kèm gốc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 79/2025/HS-ST ngày 12/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 TỈNH AN GIANG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 79/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: TRỘM CẮP TÀI SẢN
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger