Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 79/2025/HS - ST

Ngày: 22/5/2025.

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG, TỈNH HẢI DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu.

- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Tiến; Nguyễn Thị Bích Thảo.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Minh Ngọc - Thư ký Tòa án nhân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 68/2025/TLST - HS ngày 05/5/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70A/2025/QĐXXST -HS ngày 09 tháng 5 năm 2025 đối với các bị cáo:

Nguyễn Văn D, sinh năm 1990; ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn L,xã L, huyện G, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Như L. Có vợ là Phạm Thanh G và 01 con sinh năm 2025.

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/01/2025, chuyển tạm giam từ ngày 27/01/2025 đến nay tại Trại giam công an tỉnh H. (Có mặt tại phiên tòa).

*Người làm chứng: Chị Nguyễn Thị Mai T, A Nguyễn Văn Q, Chị Vũ Thị D1, Anh Phạm Trung H1; Chị Ngô Thị N; Anh Vũ Văn C. ( Đều vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn D và Phạm Trung H1, sinh năm 1983 ở số nhà 1 B, phường T, TP . quen biết nhau từ trước. Theo lời khai của D: Do có nhu cầu sử dụng ma tuý tổng hợp, khoảng 11 giờ ngày 22/01/2025, D đến khu vực chợ T2, phường C, TP . gặp và mua được 02 túi ma túy loại Ketamine và 01 viên ma túy tổng hợp loại MDMA của H1 với số tiền 3.300.000đ (Ba triệu ba trăm nghìn đồng). D cất giấu số ma tuý mua được trong người, hẹn sẽ trả tiền sau rồi đi về.

Khoảng 14 giờ 00 phút cùng ngày, D mang theo số ma tuý đã mua được và 01 đĩa sứ màu trắng đi đến thuê phòng 302 khách sạn B ở Lô O, khu đô thị mới phía Nam, xã L, TP . để sử dụng. Đến nơi, D sử dụng điện thoại Iphone 12Promax, lắp sim số 0985.643.333 gọi đến số điện thoại 0366.082.xxx của chị Nguyễn Thị Mai T - sinh ngày 15/10/2007 ở khu E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hải Dương (là bạn của D), rủ chị T đến cùng sử dụng ma tuý, chị T đồng ý. Khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, chị T đến phòng 302 khách sạn B thì D lấy 01 viên ma túy tổng hợp loại MDMA cho vào nước cocacola để D và chị T sử dụng. Sau đó, D lấy 01 túi ma tuý Ketamine đổ lên đĩa sứ màu trắng mang đi từ trước, lấy 01 tờ tiền polime mệnh giá 20.000đ cuộn thành ống hút, lấy 01 thẻ nhựa là giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Văn D làm dụng cụ “xào ke” để D và chị T sử dụng.

Khoảng 17 giờ cùng ngày, D sử dụng tài khoản zalo “D giầy da” liên hệ đến tài khoản zalo “B Quyến” của anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1994 ở khu L-phường T- TP . (là bạn D) bảo Q đến khách sạn Bảo A chở D đi có việc. Khi đó, chị T sử dụng mạng xã hội Z bảo chị Trần Thị Thu T1 (tự khai)- sinh năm 2007 ở xã Y, huyện G, tỉnh Hải Dương đến phòng 302 khách sạn B để chở T về. Khoảng 18 giờ cùng ngày, anh Q chở D về khách sạn, D rủ anh Q lên phòng để cùng sử dụng ma túy, anh Q đồng ý rồi đi về nhà. Khoảng 18 giờ 15 phút cùng ngày, anh Q đi đến phòng 302 của khách sạn B thì D lấy 01 túi ma tuý loại Ketamine còn lại đổ vào đĩa sứ, lấy thẻ nhựa để “xào ke” để D, anh Q và chị T cùng sử dụng ma tuý. Khi cả nhóm đang ngồi sử dụng ma tuý ở trên giường thì chị T1 đến. Thấy vậy, D rủ chị T1 cùng sử dụng ma tuý, chị T1 đồng ý rồi sử dụng bằng hình thức hít trực tiếp vào cơ thể. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, khi D, chị T, anh Q, chị T1 đang cùng nhau sử dụng ma tuý thì bị tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy- Công an tỉnh H phối hợp với Công an xã L kiểm tra, phát hiện bắt quả tang, thu giữ trên giường trong phòng 302 khách sạn B 01 đĩa sứ màu trắng bên trên đĩa có chất bám dính màu trắng, 01 túi nilon màu trắng kích thước khoảng (02 x 02) cm bên trong có chất bám dính màu trắng, 01 thẻ nhựa cứng là giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Văn D, bên trên thẻ có bám dính chất màu trắng, 01 ống hút được cuộn bằng tờ tiền polime mệnh giá 20.000đ bên trên có chất bám dính màu trắng, 01 bật lửa gas màu đỏ. D, anh Q, chị T, T1 khai là dụng cụ để sử dụng ma tuý. Ngoài ra, còn thu giữ 01 điện thoại di động hiệu iPhone 12Promax, lắp sim số 0985.643.333. Quá trình bắt giữ có sự chứng kiến của chị Vũ Thị D1.

Tại Phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể ngày 22/01/2025 của Cơ quan CSĐT- Công an tỉnh H xác định: Nguyễn Văn D, Nguyễn Thị Mai T dương tính với ma tuý loại Ketamine, MDMA; Trần Thị Thu T1, Nguyễn Văn Q dương tính ma tuý loại Ketamine.

Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn D ở thôn L, xã L, huyện G, tỉnh Hải Dương ngày 24/01/2025 thể hiện: Không thu giữ được đồ vật, tài sản gì.

Tại Kết luận giám định số 137/KL-KTHS ngày 24/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận:

  • Mẫu chất tinh thể màu trắng bám dính trên bề mặt đĩa sứ màu trắng, được niêm phong trong hộp bìa Catton, ký hiệu M1 gửi đến giám định, là ma túy, loại Ketamine. Lượng mẫu bám dính rất nhỏ nên không xác định được khối lượng.
  • Mẫu chất tinh thể màu trắng bám dính bên trong túi nilon màu trắng, được niêm phong trong hộp bìa Catton, ký hiệu M1 gửi đến giám định, là ma túy, loại Ketamine. Lượng mẫu bám dính rất nhỏ nên không xác định được khối lượng.
  • Mẫu chất tinh thể màu trắng bám dính bên trên bề mặt thẻ nhựa cứng là giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Văn D, được niêm phong trong hộp bìa Catton, ký hiệu M1 gửi đến giám định, là ma túy, loại Ketamine. Lượng mẫu bám dính rất nhỏ nên không xác định được khối lượng.
  • Mẫu chất tinh thể màu trắng bám dính trong lòng ống hút được cuộn bằng tờ tiền polymer mệnh giá 20.000đ niêm phong trong phong bì ký hiệu M2 gửi đến giám định là ma tuý, loại Ketamine. Lượng mẫu bám dính rất nhỏ nên không xác định được khối lượng.

Tại Kết luận giám định số 48/KL - KTHS ngày 25/02/2025 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận: 01 tờ tiền polyme mệnh giá 20.000 đồng gửi giám định là tiền thật.

Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Văn D đã thành khẩn khai nhận hành vi chuẩn bị địa điểm, dụng cụ, chất ma tuý để tổ chức cho Nguyễn Thị Mai T, Nguyễn Văn Q, Trần Thị Thu T1 sử dụng trái phép chất ma tuý phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, các kết luận giám định, biên bản kiểm tra, giải trình điện thoại, lời khai của người làm chứng anh Nguyễn Văn Q, chị Nguyễn Thị Mai T, Trần Thị Thu T1, chị Vũ Thị D1.

Tại bản cáo trạng số 65/CT-VKS ngày 28/4/2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Nguyễn Văn D về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm a, b, c khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo Nguyễn Văn D đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Điểm a, b, c khoản 2 Điều 255; Điểm s khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn D.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn D từ 08 năm 06 tháng tháng đến 09 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 22/01/2025.

Hình phạt bổ sung: không áp dụng.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS:

  • Tịch thu cho tiêu hủy: 01 hộp bìa catton ký hiệu T1 niêm phong số 137/KL – KTHS của Phòng K Công an tỉnh H, bên trong gồm 01 đĩa sứ màu trắng, 01 bật lửa ga màu đỏ; 01 vỏ túi nilon màu trắng, 01 phòng bì niêm phong số 48/ KL - KTHS của phòng K Công an tỉnh H.
  • Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 20.000đ.
  • Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại Iphone 12 Promax lắp sim số 0985.643.333 và 01 thẻ nhựa cứng là giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Văn D.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Văn D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, lời khai của người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:

Trong khoảng thời gian từ 14 giờ 30 phút đến 17 giờ 00 phút ngày 22/01/2025, tại phòng 302 khách sạn B thuộc lô OT4B- 40, khu đô thị mới phía Nam, xã L, thành phố H, Nguyễn Văn D chuẩn bị địa điểm, dụng cụ và chất ma tuý loại Ketamine và MDMA để tổ chức cho Nguyễn Thị Mai T, sinh ngày 15/10/2007 sử dụng trái phép chất ma tuý. Tiếp đến, trong khoảng thời gian từ 18 giờ 15 phút đến 19 giờ 30 phút cùng ngày, tại phòng 302 khách sạn B, D đã chuẩn bị địa điểm, dụng cụ và chất ma tuý loại Ketamine để tổ chức cho T, anh Nguyễn Văn Q và Trần Thị Thu T1, sinh năm 2007 (tự khai) sử dụng trái phép chất ma tuý thì bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh H phối hợp với Công an xã L phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu tới tình hình an ninh chính trị tại địa phương, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân. Việc tổ chức sử dụng ma túy còn là mầm mống làm phát sinh một số loại tội phạm khác, gây ảnh hưởng nặng nề cho sức khỏe của con người và kinh tế của gia đình người sử dụng nhưng để thỏa mãn nhu cầu cá nhân, bị cáo vẫn cố ý sử dụng trái phép chất ma túy.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc cung cấp ma túy, địa điểm, dụng cụ để tổ chức thực hiện việc sử dụng trái phép chất ma túy là những hành vi vi phạm, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Trong cùng một ngày bị cáo hai lần tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, cho nhiều người sử dụng và cho Nguyễn Thị Mai T, sinh ngày 15/10/2007 là người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi sử dụng trái phép chất ma túy nên hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy với các tình tiết định khung “Phạm tội 02 lần trở lên; đối với 02 người trở lên; đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi” theo điểm a, b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên có căn cứ, đúng pháp luật.

[3]. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4]. Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5]. Xét tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo cần áp dụng một hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt biết tôn trọng, chấp hành pháp luật và phòng ngừa chung trong xã hội.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo làm lao động tự do, không có nghề nghiệp ổn định và không có tài sản gì có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Về vật chứng: Đối với: 01 hộp bìa catton ký hiệu T1 niêm phong số 137/KL - KTHS của Phòng K Công an tỉnh H, bên trong gồm 01 đĩa sứ màu trắng, 01 bật lửa ga màu đỏ; 01 vỏ túi nilon màu trắng, 01 phòng bì niêm phong số 48/ KL - KTHS của phòng K Công an tỉnh H là công cụ bị cáo sử dụng vào việc phạm tội và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu cho tiêu hủy.

- Đối với 01 thẻ nhựa cứng là giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Văn D, mặc dù bị cáo dùng giấy phép lái xe để xào ma túy ketamine, tuy nhiên đây là giấy tờ tùy thân của bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo.

- Đối với 01 (một) điện thoại 01 điện thoại Iphone 12 Promax thu giữ của Nguyễn Văn D; 01 tờ tiền Polyme mệnh giá 20.000đ (Hai mươi nghìn đồng). Quá trình điều tra xác định bị cáo dùng điện thoại vào việc gọi điện cho Nguyễn Thị Mai T đến khách sạn B để tổ chức cho T sử dụng trái phép chất ma túy và dùng số tiền 20.000đ làm công cụ sử dụng ma túy cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

- Đối với sim điện thoại số 0985.643.xxx cần tịch thu cho tiêu hủy, đồng thời đề nghị nhà mạng viễn thông Vietel thu hồi số thuê bao di động số 0985643333 và tịch thu số tiền còn lại trong sim (nếu có).

[8] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[9] Về vấn đề khác: Quá trình điều tra, không có căn cứ xác định anh Phạm Trung H1 đã bán trái phép chất ma tuý cho Nguyễn Văn D, việc D chuyển số tiền 3.300.000đ cho chị Ngô Thị N (vợ của H1) là để trả nợ, không liên quan đến việc mua ma tuý; không xác định được tên, tuổi địa chỉ của người khai tên Trần Thị Thu T1- sinh năm 2007 ở thôn T- xã Y- huyện G- tỉnh Hải Dương; Anh Vũ Văn C và chị Vũ Thị D1 (là chủ sở hữu và quản lý khách sạn B), khi phát hiện D, Nguyễn Văn Q, Nguyễn Thị Mai T, Trần Thị Thu T1 có biểu hiện nghi vấn sử dụng trái phép chất ma túy đã thông báo cho Cơ quan Công an để giải quyết kịp thời nên không có căn cứ xử lý.

Đối với Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn Q, Nguyễn Thị Mai T có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, ngày 31/01/2025, Công an T đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a, b, c khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự ; Điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2, khoản 3 Điều 106; Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 2 Điều 53 Luật viễn thông; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy".
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 22/01/2025.
  3. Về xử lý vật chứng:
    • - Tịch thu cho tiêu hủy: 01 hộp bìa catton ký hiệu T1 niêm phong số 137/KL - KTHS của Phòng K Công an tỉnh H, bên trong gồm 01 đĩa sứ màu trắng, 01 bật lửa ga màu đỏ; 01 vỏ túi nilon màu trắng, 01 phòng bì niêm phong số 48/ KL - KTHS của phòng K Công an tỉnh H.
    • - Trả lại bị cáo 01 thẻ nhựa cứng là giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Văn D.
    • - Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại Iphone 12 Promax thu giữ của Nguyễn Văn D; 01 tờ tiền Polyme mệnh giá 20.000đ (Hai mươi nghìn đồng).
    • - Tịch thu tiêu huỷ sim điện thoại số 0985.643.xxx, đề nghị nhà mạng viễn thông V thu hồi số thuê bao di động 0985.643.333 và tịch thu số tiền còn lại trong sim (nếu có).

    (Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố H và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Dương ngày 19/5/2025).

  4. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn D phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND thành phố Hải Dương;
  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - Cơ quan CSĐT- Công an Tỉnh Hải Dương;
  • - Cơ quan THAHS Công an Tỉnh Hải Dương;
  • - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Hải Dương
  • - Chi cục THADS thành phố Hải Dương;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Thu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 79/2025/HS - ST ngày 22/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG, TỈNH HẢI DƯƠNG về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 79/2025/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG, TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Dương tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger