|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH TỈNH SÓC TRĂNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 79/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 22/5/2025
“V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi
con khi ly hôn”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG
* Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Nhẫn
- Các Hội thẩm nhân dân:
1/. Ông Nguyễn Văn Sơn
2/. Bà Tăng Thị Bạch Vân
* Thư ký ghi biên bản phiên toà: Lý Hồng Trang, Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Kế Sách.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng tham gia
phiên tòa: Bà Quách Thị Đào - Kiểm sát viên.
Trong ngày 22 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng, mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 13/2025/TLST-HNGĐ ngày 11/02/2025, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 157/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 15/4/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 131/2025/QÐST-HNGĐ ngày 05/5/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kiều T, sinh ngày 09/9/1982. Địa chỉ: ấp P, xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng (có đơn xin vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Trần Trung C, sinh năm 1979. Địa chỉ: ấp P, xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 19/02/2025, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kiều T trình bày: Bà và ông C quen biết nhau, có tình cảm, được hai bên gia đình tổ chức đám cưới vào năm 2002 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng. Trong quá trình chung sống bà và ông C có 02 con chung tên: Trần Trung K, sinh ngày 05/05/2003 hiện đã trưởng thành và có cuộc sống riêng; Trần Trung N, sinh ngày 15/12/2012 hiện đang sống với bà nội. Trong thời gian đầu hai vợ chồng sống chung rất hạnh phúc. Tuy nhiên, gần đây hai vợ chồng bất đồng quan điểm sống thường xuyên cãi vã, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, vợ chồng không còn tiếng nói chung.
Nhận thấy hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nay bà T yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau; Về quan hệ hôn nhân: Yêu cầu ly hôn với ông Trần Trung C; Về con chung: Có 02 con chung tên Trần Trung K, sinh ngày 05/05/2003 hiện đã trên 18 tuổi, đã phát triển bình thường về mặt thể chất lẫn tinh thần nên không yêu cầu Toà án giải quyết. Đối với con chung tên Trần Trung N, sinh ngày 15/12/2012, bà T yêu cầu được trược tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi, không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung; Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn ông Trần Trung C đã được Tòa án thông báo hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông C đều vắng mặt không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà T.
- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Thẩm phán tiến hành các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của pháp luật, việc xác định tư cách tham gia tố tụng của đương sự và quan hệ pháp luật đang tranh chấp là chính xác, tại phiên tòa Hội đồng xét xử đúng thành phần, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà T và ông C được ly hôn; Về con chung, C1 02 con chung tên Trần Trung K, sinh ngày 05/05/2003 hiện đã trên 18 tuổi, đã phát triển bình thường về mặt thể chất lẫn tinh thần nên không yêu cầu Toà án giải quyết. Đối với con chung tên Trần Trung N, sinh ngày 15/12/2012, bà T yêu cầu được trược tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi. Đồng thời, theo biên bản ghi nhận ý kiến của con chung, thì cháu N có nguyện vọng được sống chung với mẹ, để đảm bảo về mọi mặt của cháu N, nên cần giao cháu N cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014. Bà T không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con chung; Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho ông C không ai được quyền ngăn cản; Về tài sản chung, nợ chung, bà T không yêu cầu giải quyết, nên không đặt ra xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Thị Kiều T có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt, ông Trần Trung C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng ông C vắng mặt không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Tòa án căn cứ vào khoản 1 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông C quen biết nhau, có tình cảm, được hai bên gia đình tổ chức đám cưới vào năm 2002 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng. Vì vậy, hôn nhân của ông, bà được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Bà T cho rằng Trong thời gian đầu hai vợ chồng sống chung rất hạnh phúc. Tuy nhiên, gần đây hai vợ chồng bất đồng quan điểm sống thường xuyên cãi vã, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, vợ chồng không còn tiếng nói chung, nên bà T làm đơn xin được ly hôn với ông C. Thấy rằng: Hôn nhân giữa bà T và ông C đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, không có biện pháp hàn gắn tình cảm, không còn quan tâm, chăm sóc nhau. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 39 Bộ luật Dân sự năm 2015, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà T, cho bà và ông C được ly hôn để mỗi người tạo lập cuộc sống mới.
[3] Về con chung: Bà T và ông C có hai người con chung tên Trần Trung K, sinh ngày 05/05/2003 hiện đã trên 18 tuổi, đã phát triển bình thường về mặt thể chất lẫn tinh thần nên không yêu cầu Toà án giải quyết. Đối với con chung tên Trần Trung N, sinh ngày 15/12/2012, bà T yêu cầu được trược tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi. Đồng thời, theo biên bản ghi nhận ý kiến của con chung, thì cháu N có nguyện vọng được sống chung với mẹ. Thấy rằng: Để đảm bảo về mọi mặt và ổn định tâm lý và môi trường sống của cháu, nên căn cứ vào Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, giao cháu Trần Trung N, sinh ngày 15/12/2012 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi.
[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Thị Kiều T không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung, nên không đặt ra xem xet.
[5] Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho ông C không ai được quyền ngăn cản.
[6] Về tài sản chung và nợ chung: Bà T không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[7] Về án phí: Bà Nguyễn Thị Kiều T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
[8] Như đã nhận định nêu trên, đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 4 Điều 147; Điều 266; khoản 1 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 5, Điều 271, Điều 273 và điểm a khoản 2 Điều 482 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Dân sự năm 2015; Khoản 1 Điều 56, các điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kiều T.
1/. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Kiều T được ly hôn với ông Trần Trung C.
2/. Về con chung: Giao cháu Trần Trung N, sinh ngày 15/12/2012 cho bà Nguyễn Thị K1 trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi. Đối với con chung Trần Trung K, sinh ngày 05/05/2003 hiện đã trên 18 tuổi, đã phát triển bình thường về mặt thể chất lẫn tinh thần bà T không yêu cầu Toà án giải quyết.
3/. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà T không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con chung.
4/. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho ông C, không ai được quyền ngăn cản.
5/. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị Kiều T không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không đặt ra xem xét.
6/. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Kiều T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai số 0009566, ngày 11/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng, Bà T đã nộp đủ tiền án phí.
7/. Báo cho các đương sự biết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc ngày niêm yết bản án, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
8/. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Văn Nhẫn |
Bản án số 79/2025/HNGĐ-ST ngày 22/05/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 79/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
