TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 79/2025/KDTM-PT Ngày: 14/4/2025 V/v Tranh chấp hợp đồng thi công |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Thanh Nhàn
Các Thẩm phán: Trương Thị Quỳnh Trâm
Bà Lưu Thị Đoan Trang
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Thy Thơ
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Lân – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án về kinh doanh thương mại thụ lý số: 272/2024/TLPT-KDTM ngày 27 tháng 12 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng thi công”.
Do Bản án sơ thẩm số 145/2024/KDTM-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 693/2025/QĐ-PT ngày 14 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 3475/2025/QĐ-PT ngày 20 tháng 03 năm 2025, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Công ty TNHH C, Trụ sở chính: số B Đường T, Tổ B, Khu phố E, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người đại diện theo pháp luật: ông Phan Văn T, Giám đốc Công ty TNHH C (vắng mặt)
- - Bị đơn: Công ty TNHH X, Trụ sở chính: số F Y, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Văn L, Giám đốc Công ty TNHH X (vắng mặt)
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Ông Nguyễn Văn L, Giám đốc Công ty TNHH X; Địa chỉ: C ấp F, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt)
- + Ông Phạm Xuân L1, thành viên Công ty TNHH X; Địa chỉ: Tổ G, ấp A, xã L, huyện L, Tỉnh Đồng Nai (vắng mặt)
- Người kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo nội dung Đơn khởi kiện và trình bày của nguyên đơn Công ty TNHH C, như sau
Công ty TNHH C (gọi tắt là Công ty C) và Công ty TNHH X (gọi tắt là Công ty X) ký Hợp đồng thi công số 0307/2023/HĐKT-TD ngày 03/7/2023, nội dung hợp đồng là phát quang, dọn dẹp mặt bằng, tận thu cây thuộc Dự án phức hợp – thương mại – đô thị cao cấp S tại xã L, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Tổng giá trị hợp đồng là 3.000.000.000 đồng, tỷ lệ đặt cọc trước là 10%; nhưng thực tế Công ty C chỉ đặt cọc trước 70.000.000 đồng.
Theo thoả thuận Hợp đồng, trong vòng một tháng, nếu Công ty X không có giấy phép và tiến hành thi công thì Công ty X phải hoàn trả tiền đặt cọc và bồi thường 50% giá trị tiền đặt cọc cho Công ty C.
Đến ngày hẹn ra giấy phép thi công là ngày 03/8/2023, Công ty X không xin được giấy phép, nhưng không trả lại tiền đặt cọc là 70.000.000 đồng và bồi thường 50% giá trị tiền đặt cọc là 35.000.000 đồng và liên tục hứa hẹn nhiều lần nhưng không thanh toán.
Công ty C đã liên hệ trực tiếp tại trụ sở chính của Công ty X tại số F Y, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, nhưng không có biển hiệu công ty và địa chỉ này không còn hoạt động. Công ty C khởi kiện yêu cầu Công ty X phải trả lại cho Công ty C khoản tiền đã nhận cọc là: 70.000.000 đồng, theo xác nhận chuyển khoản ngày 05/7/2023, số tiền 50.000.000 đồng tại Ngân hàng TMCP Q -Phòng giao dịch Quận A và xác nhận chuyển khoản ngày 07/7/2023, số tiền 20.000.000 đồng tại Ngân hàng TMCP K Chi nhánh N. Đồng thời yêu cầu Công ty X phải bồi thường số tiền 50% tiền đặt cọc tương đương 35.000.000 đồng.
* Bị đơn là Công ty TNHH X và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Nguyễn Văn L, ông Phạm Xuân L1: Vắng mặt tại cấp sơ thẩm và không gửi văn bản nêu ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại Bản án sơ thẩm số 145/2024/KDTM-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Công ty TNHH C.
- Buộc Công ty TNHH X có nghĩa vụ dân sự, thanh toán làm một lần ngay sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật, cho Công ty TNHH C, tổng cộng số tiền là: 70.000.000 đồng (Bảy mươi triệu đồng).
- Đối với trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng mà Công ty TNHH C và Công ty TNHH X có thỏa thuận về việc trả lãi thì quyết định kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, Công ty TNHH X còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Trường hợp Công ty TNHH X không thực hiện thanh toán, thanh toán không đủ số tiền 70.000.000 đồng (Bảy mươi triệu đồng) nêu trên, cho Công ty TNHH C, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn L, ông Phạm Xuân L1, là chủ sở hữu, là người góp vốn thành lập doanh nghiệp Công ty TNHH X, phải có trách nhiệm dùng phần vốn góp vào doanh nghiệp tiếp tục thanh toán nợ cho Công ty TNHH C.
Ngoài ra bản án còn tuyên về nghĩa vụ chịu án phí, quyền kháng cáo và quyền yêu cầu thi hành án của đương sự.
Ngày 11/10/2025, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú ban hành quyết định kháng nghị: nội dung kháng nghị toàn bộ bản án sơ thẩm vì có thiếu sót trong việc thu thập chứng cứ và xác định người tham gia tố tụng, không thể khắc phục nên đề nghị cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại.
* Tại phiên tòa Phúc thẩm:
Đại diện Viện kiểm sát trình bày kháng nghị:
- - Cấp sơ thẩm có thiếu sót trong việc thu thập chứng cứ khi chấp nhận chứng cứ do nguyên đơn xuất trình là giấy xác nhận chuyển khoản của Ngân hàng T1 với số tiền 20.000.000 đồng thể hiện số tài khoản gửi là 888899912020 và số tài khoản nhận là 020040184916 là không đúng với hợp đồng nhưng chưa được cấp sơ thẩm làm rõ những tài khoản này là của ai, có được các bên thỏa thuận chuyển qua tài khoản đối ứng này không.
- - Tại đơn khởi kiện nguyên đơn có yêu cầu bị đơn phải trả lại số tiền cọc là 70.000.000 đồng và bồi thường 50% tiền cọc tương đương số tiền 35.000.000 đồng nhưng tại phiên tòa nguyên đơn rút lại yêu cầu này, chỉ yêu cầu bị đơn trả lại số tiền là 70.000.000 đồng nhưng trong phần quyết định của bản án sơ thẩm đã tuyên: “Trường hợp Công ty TNHH X không thực hiện thanh toán, thanh toán không đủ số tiền 70.000.000 đồng nêu trên, cho Công ty TNHH C, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn L, ông Phạm Xuân L1, là chủ sở hữu, là người góp vốn thành lập doanh nghiệp Công ty TNHH X, phải có trách nhiệm dùng phần vốn góp vào doanh nghiệp tiếp tục thanh toán nợ cho Công ty TNHH C” là vượt quá yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Như vậy, bản án sơ thẩm tuyên xử nhưng không điều tra, xác minh thu thập tài liệu chứng cứ theo Điều 97 Bộ luật Tố tụng dân sự, tuyên xử vượt quá yêu cầu khởi kiện của đương sự là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng nên đề nghị cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại.
Công ty C, Công ty X, ông Nguyễn Văn L, ông Phạm Xuân L1: vắng mặt và không có văn bản trình bày ý kiến.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự của những người tiến hành tố tụng, những người tham gia tố tụng và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:
Việc chấp hành pháp luật tố tụng: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử và các đương sự đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa phúc thẩm.
Về nội dung: Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát quận T là có cơ sở nên đề nghị chấp nhận kháng nghị, hủy bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ, nội dung kháng nghị của Viện kiểm sát, lời trình bày của nguyên đơn, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
- Cấp sơ thẩm thụ lý giải quyết vụ án đúng theo thẩm quyền, xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là đúng theo quy định của Pháp luật Tố tụng.
- Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú còn trong thời hạn kháng nghị, có hình thức và nội dung đúng quy định nên được chấp nhận.
- Xét việc vắng mặt của đương sự tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa lần 1 ngày 20/03/2025 và vắng mặt tại phiên tòa lần 2 ngày 14/4/2025 mà không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
- Xét kháng nghị của Viện kiểm sát:
- Về thu thập chứng cứ: Tài liệu do nguyên đơn xuất trình để chứng minh đã chuyển tiền cho bị đơn với số tiền 70.000.000 đồng là 02 giấy xác nhận chuyển khoản, trong đó giấy xác nhận chuyển khoản của Ngân hàng M với số tiền 50.000.000 đồng thể hiện số tài khoản gửi và tài khoản nhận là đúng với quy định tại mục I, II của hợp đồng. Đối với giấy xác nhận chuyển khoản của Ngân hàng T1 với số tiền 20.000.000 đồng thể hiện số tài khoản gửi là 888899912020 và số tài khoản nhận là 020040184916 là không đúng với hợp đồng nhưng chưa được cấp sơ thẩm làm rõ. Tại phần nhận định của Bản án sơ thẩm đã căn cứ vào 02 tài liệu này để “xác định Công ty X đã thực tế nhận số tiền đặt cọc là 70.000.000 đồng của Công ty C” là có thiếu sót trong việc đánh giá chứng cứ vụ án. Kháng nghị của Viện kiểm sát là có cơ sở.
- Về tuyên án vượt quá yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Theo nội dung đơn khởi kiện và tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn yêu cầu buộc bị đơn có nghĩa thanh toán cho nguyên đơn số tiền là 70.000.000 đồng. Tuy nhiên, tại quyết định của bản án sơ thẩm đã tuyên “Trường hợp Công ty TNHH X không thực hiện thanh toán, thanh toán không đủ số tiền 70.000.000 đồng nêu trên, cho Công ty TNHH C, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn L, ông Phạm Xuân L1, là chủ sở hữu, là người góp vốn thành lập doanh nghiệp Công ty TNHH X, phải có trách nhiệm dùng phần vốn góp vào doanh nghiệp tiếp tục thanh toán nợ cho Công ty TNHH C.” là vượt quá yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Kháng nghị của Viện kiểm sát là có cơ sở.
- Ngoài ra cấp sơ thẩm xác định ông Phạm Xuân L1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng không thực hiện tống đạt các văn bản tố tụng cho ông L1 theo quy định của Điều 171 Bộ luật Tố tụng dân sự là có vi phạm về thủ tục tố tụng làm ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông L1 trong vụ án.
- Do việc thu thập chứng cứ và chứng minh chưa được cấp sơ thẩm thực hiện đầy đủ mà tại phiên tòa phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được và cấp sơ thẩm có vi phạm về tố tụng ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thuộc trường hợp phải hủy bản án sơ thẩm theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự. Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú là có cơ sở. Do vậy, cần áp dụng quy định tại khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự để hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
- Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
- Về án phí: Do bản án sơ thẩm bị hủy nên nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm được xác định lại khi giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điều 271, Điều 273, khoản 2 Điều 296, khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Tuyên xử:
- Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú:
- Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: sẽ được xác định khi giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
Hủy bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 145/2024/KDTM-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.
Chuyển hồ sơ về cho Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận: - TANDTC; - TAND Cấp cao tại TP.HCM; - VKSND Cấp cao tại TP.HCM; - VKSND TP.HCM; - TANDQ. Tân Phú; - Chi cục THADSQ.Tân Phú; - Cục THADS TP.Hồ Chí Minh - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ. | T.M HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thanh Nhàn |
Bản án số 79/2025/KDTM-PT ngày 14/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng thi công
- Số bản án: 79/2025/KDTM-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thi công
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 14/04/2025
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hủy bản án sơ thẩm
