|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 79/2025/HS-ST Ngày: 02/04/2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Công Hách
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Cờ
Bà Vũ Thị Mai
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phúc Hoài - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 04 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 62/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 03 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2025/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 03 năm 2025, đối với các bị cáo:
1. Đặng Việt H, sinh năm 2001; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT: Thôn A, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình; Chỗ ở hiện nay: Số B, ngõ C T, phường K, quận Đ, Hà Nội; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Tham gia đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông: Đặng Công H1 và bà Nguyễn Thị H2; Vợ, con: chưa; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo hiện đang áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt)
2. Nguyễn Đình T, sinh năm 1993; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Chỗ ở: Không cố định; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Tham gia đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông: Nguyễn Đình T1 và bà Nguyễn Thị T2; Vợ: Mai Thu H3; Con: Có 01 con sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Ngày 27/6/2023, Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm xử phạt 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 20 tháng về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (Bản án 145/HSST/2023);
Bị cáo đầu thú, tạm giữ và tạm giam từ ngày 07/01/2025; Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố H (Có mặt)
Người bị hại:
Anh Nguyễn Quốc C sinh năm 2002; Địa chỉ: Số E ngõ B N, phường P, quận T, thành phố Hà Nội. (Có đơn xin xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 07/01/2025 anh Nguyễn Quốc C (sinh năm 2002, trú tại T, Đ, T, Thái Bình đến Công an phường K trình báo về việc: Khoảng 15 giờ ngày 06/12/2024 tại tầng 01 nhà số B ngõ C T, phường K, quận Đ, Hà Nội bị mất trộm xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, biển kiểm soát 17B8-528.**
Ngày 07/01/2025 Đặng Việt H và Nguyễn Đình T đến Công an phường K đầu thú và khai nhận: Trưa ngày 06/12/2024, Đặng Việt H đi từ phòng trọ tầng 2 (địa chỉ số B, ngõ C T, phường K, quận Đ, Hà Nội xuống cổng thì phát hiện thấy chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, biển kiểm soát 17B8-528.** để trong sân tầng 01 số B, ngõ C T, phường K, quận Đ, Hà Nội vẫn đang cắm chìa khóa điện và không có người trông giữ nên nảy sinh ý định trộm cắp. H quay lại phòng trọ ở tầng 2 thay quần áo cộc tay thể thao để giả vờ đi đá bóng và chuẩn bị 01 balo bên trong có 01 bộ quần áo dài tay, màu đen. Sau đó, H đeo ba lô đi đến trước nhà số I ngách A ngõ C T, Đ, Hà Nội thay quần áo đã chuẩn bị trong balo. Sau khi thay xong quần áo, H quay lại nhà trọ (số B, ngõ C T vẫn thấy xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, biển kiểm soát 17B8-528.** còn cắm chìa khóa điện nên H ngồi lên xe nổ máy và điều khiển xe đi đến dựng trước nhà số F ngách A ngõ C Trồi đi bộ quay lại trước nhà số I ngách A ngõ C T thay quần áo lúc trước ra để trong balo. Sau đó, H lấy ba lô và quay lại vị trí dựng xe rồi điều khiển đến bãi xe chợ T4 gửi. Ngày 08/12/2024, H dùng tài khoản facebook tên “Hoàng M đăng bán chiếc xe trên trong nhóm facebook “Mua bán xe không giấy tờ Hà Nội” và nhóm facebook “Xe không giấy tờ Miền B Sau đó, Nguyễn Đình T dùng tài khoản facebook tên “Nguyên Nguyen” nhắn tin hỏi mua chiếc xe máy trên với giá 7.000.000 đồng, H đồng ý bán và hẹn giao dịch tại khu vực cổng chợ T4 Khoảng 13 giờ cùng ngày (08/12/2024), T đến nơi và gọi qua ứng dụng M1 cho H để mang xe ra. Sau khi xem xe T biết xe không có giấy tờ đăng ký (T biết rõ là xe do phạm tội mà có) nhưng vẫn mua với giá 7.000.000 đồng. Sau khi mua được xe mô tô trên, T tiếp tục đăng bán trên facebook và cho một nam giới với giá 7.800.000 đồng tại Vườn hoa Đại học T5
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 01/KL-HĐĐGTS của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Q kết luận:
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, biển kiểm soát 17B8-528.** đã qua sử dụng, chưa thu hồi định giá 16.329.280 đồng.
Vật chứng vụ án
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra thu giữ những đồ vật, tài sản sau:
- Thu giữ của Đặng Việt H: 01 điện thoại kiểu dáng Samsung, sáng màu, đã qua sử dụng, số Imei: 356825/07/166809/9; 01 bộ quần áo dài tay, màu đen; 01 bộ quần áo thể thao ngắn tay, màu xanh; 01 balo bằng vải màu đen.
- Thu giữ của Nguyễn Đình T: 01 điện thoại kiểu dáng Samsung Galaxy S10 Plus, màu trắng đã qua sử dụng, số Imei 1: 356261103508162, Imei 2: 356262103508160.
Trách nhiệm dân sự
Quá trình điều tra, Đặng Việt H và gia đình đã bồi thường số tiền 16.000.000 đồng cho anh Nguyễn Quốc C. Anh C đã nhận và không có yêu cầu bồi thường, đồng thời xin giảm nhẹ hình phạt cho H
Đối với đối tượng nam giới mua xe mô tô của T không biết nhân thân của đối tượng nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để làm rõ.
Bản Cáo trạng số 65/CT-VKS ngày 12/03/2025, Viện kiểm sát nhân dân quận Đ đã truy tố bị cáo Đặng Việt H về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; Truy tố bị cáo Nguyễn Đình T về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và thừa nhận bản Cáo trạng truy tố là đúng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đ sau khi phân tích, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 điều 173; Điểm b, i, s, khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Điều 38; Điều 47; Điều 65 Bộ luật hình sự;
- Xử phạt: Bị cáo Đặng Việt H từ 10 đến 14 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 20 đến 28 tháng .
- Áp dụng khoản 1 Điều 323; Điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 47, Điều 55, 56 Bộ luật hình sự;
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đình T từ 14 đến 18 tháng tù. Tổng hợp hình phạt 10 tháng tù treo của Bản án số 145/2023/ HSST ngày 27/6/2023 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm (chuyển mức hình phạt tù giam) buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là từ 24 đến 28 tháng.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không xem xét.
Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu sung quỹ nhà nước hai chiếc điện thoại thu giữ của bị cáo H bị cáo T do liên quan đến hành vi phạm tội.
- Tịch thu tiêu hủy quần áo, ba lô của bị cáo H do không còn giá trị sử dụng.
- Miễn áp dụng hình bổ sung đối với các bị cáo.
Bị cáo Thưởng lời bất chính 800.000 đồng nên buộc truy thu sung quỹ Nhà nước.
Các bị cáo, bị hại đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Đ Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về tội danh: Tại phiên tòa các bị cáo Đặng Việt H, Nguyễn Đình T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với nội dung cáo trạng đã nêu. Xét lời khai của các bị cáo là thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp lời khai của bị hại, người liên quan và vật chứng thu được của vụ án, đồng thời căn cứ vào các kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Đ có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng trưa ngày 06/12/2024 tại tầng 01 nhà số B ngõ C T, phường K, quận Đ, Hà Nội Đặng Việt H có hành vi Trộm cắp tài sản (01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, biển kiểm soát 17B8-528.** có trị giá 16.329.280 đồng) của anh Nguyễn Quốc C (sinh năm 2002, trú tại T, Đ, T, Thái Bình Ngày 08/12/2024 Đặng Việt H đã đem bán cho Nguyễn Đình T với giá 7.000.000 đồng. Khi giao dịch mua bán T biết rõ là tài sản do phạm tội mà có. Hiện, anh Nguyễn Quốc C đã nhận bồi thường và không có yêu cầu gì.
Hành vi của bị cáo Đặng Việt H đã cấu thành tội Trộm cắp tài sản; Hành vi của bị cáo Nguyễn Đình T đã cấu thành tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.
Viện kiểm sát nhân dân quận Đ truy tố Đặng Việt H theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, Nguyễn Đình T theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
[3]. Về trách nhiệm hình sự và hình phạt: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã cố ý trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, xâm phạm trật tự trị an xã hội nên cần phải xử phạt nghiêm mới đủ tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.
Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét:
Bị cáo H sau khi phạm tội đã đầu thú, thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, tỏ ra ăn năn, hối cải; Nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Tự nguyện bồi thường thiệt hại; Bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng nên cho bị cáo cải tạo ngoài xã hội cũng đủ tác dụng giáo dục và răn đe, phòng ngừa chung.
Bị cáo T có tiền án năm 2023, bị Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm xử phạt 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 20 tháng về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Tuy nhiên, bị cáo phạm tội mới trong thời gian thử thách nên bị chuyển toàn bộ mức hình phạt án treo của bản án trước thành hình phạt tù giam.
Bị cáo chưa được xóa án tích nên phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Bị cáo T có nhân thân xấu, đã được cải tạo giáo dục song không thay đổi nhận thức tiếp tục phạm tội thể hiện sự coi thường pháp luật của bị cáo nên cần cách ly ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo trở thành người có ích và răn đe phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, HĐXX xem xét: Bị cáo đầu thú; Tại cơ quan điều và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, ăn năn, hối cải để giảm cho bị cáo một phần hình phạt.
Các bị cáo không có điều kiện kinh tế nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 173 và khoản 5 Điều 323 Bộ luật hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu bồi thường gì khác nên không xem xét.
Tịch thu sung quỹ nhà nước hai chiếc điện thoại thu giữ của bị cáo H bị cáo T do liên quan đến hành vi phạm tội.
Tịch thu tiêu hủy quần áo, ba lô của thu giữ của bị cáo H do không còn giá trị sử dụng.
Miễn áp dụng hình bổ sung đối với các bị cáo.
Bị cáo Thưởng lời bất chính 800.000 đồng nên buộc truy thu sung quỹ Nhà nước.
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Bị hại được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Đặng Việt H phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
Bị cáo Nguyễn Đình T phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”
*Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điểm b, i, s, khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 47; Điều 65 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Đặng Việt H 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân UBND xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình giám sát giáo dục trong thời gian thử thách của bản án.
Trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
*Áp dụng khoản 1 Điều 323; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47; Điều 55, 56 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đình T 15 (Mười lăm) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 10 (Mười) tháng tù treo của Bản án số 145/2023/HSST ngày 27/6/2023 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, TP Hà Nội. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 25 (Hai mươi lăm) tháng tù (T3 đi thời hạn tạm giam từ ngày 10/02/2023 đến ngày 27/6/2023). Thời hạn tù tính từ ngày 07/01/2025.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu bồi thường gì khác nên không xem xét.
*Áp dụng: Điều 106, 135, 136, 331, 333, 336, 337 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo T truy thu số tiền thu lời bất chính là 800.000 đồng để sung quỹ Nhà nước.
Không áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo.
Tịch thu sung quỹ nhà nước:
- 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung sáng màu đã qua sử dụng số IMEI: 3568250716680099. Không kiểm tra chất lượng máy và nội dung bên trong;
- 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu trắng đã qua sử dụng số IMEI: 356261103508162. Không kiểm tra chất lượng máy và nội dung bên trong;
Tịch thu tiêu hủy:
- 01 (Một) bộ quần áo thể thao ngắn tay màu xanh đã qua sử dụng.
- 01 (Một) bộ quần áo dài tay màu đen đã qua sử dụng.
- 01 (Một) ba lô bằng vải màu đen đã qua sử dụng.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng số 169 ngày 14/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Đ ).
Các bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án.
Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA TRẦN CÔNG HÁCH |
Bản án số 79/2025/HS-ST ngày 02/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự (trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có)
- Số bản án: 79/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm căp - Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
