|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 79/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 21/3/2025
“V/v Ly hôn”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hà
Các Hội thẩm nhân dân 1. Ông Lý Đình Đạt.
2. Ông Đặng Ngọc Long.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Vân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Dũng - Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 21/3/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 10/2025/TLST-HNGĐ ngày 13/01/2025 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2025/QĐXX-ST ngày 21/01/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 30/2025/QĐ-ST ngày 21/02/2024 giữa các đương sự:
*Nguyên đơn: Anh Hoàng Thế A, sinh năm 1988 (có mặt).
Nơi cư trú: Số nhà B, ngõ C, đường C, phường T, thành phố B.
*Bị đơn: Chị Đoàn Thị T, sinh năm 1988 (có mặt).
Nơi cư trú: Thôn T, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Hiện đang lao động tại nước ngoài.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện về việc xin ly hôn và bản tự khai ngày 06/01/2025, các lời khai tiếp theo tại Tòa án, nguyên đơn là anh Hoàng Thế A trình bày:
Về hôn nhân: Anh với chị Đoàn Thị T trước khi kết hôn hai bên có được tự do tìm hiểu và có đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường L (nay là phường T) thành phố B, tỉnh Bắc Giang ngày 03/11/2011. Sau khi kết hôn chị T về gia đình anh làm dâu, vợ chồng chung sống hạnh phúc. Quá trình chung sống vợ chồng thường hay xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, đến năm 2023 thì chị T đi nước ngoài lao động kể từ đó vợ chồng không còn quan tâm và liên lạc gì với nhau nữa. Nay anh xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên đề nghị Tòa giải quyết cho anh được ly hôn với chị Đoàn Thị T.
Về con chung: Không có nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về tài sản, công nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do tính chất công việc nên anh không tham gia phiên họp kiểm tra tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, các phiên tòa xét xử vụ án tranh chấp Hôn nhân gia đình giữa anh và chị T được. Vì vậy, anh đề nghị được vắng mặt trong phiên họp kiểm tra tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, trong các phiên tòa xét xử vụ án ly hôn giữa anh và chị Đoàn Thị T.
Bị đơn chị Đoàn Thị T hiện đang lao động tại nước ngoài, không có địa chỉ cụ thể. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật đối với chị T, đến nay Tòa án không nhận được thông tin của chị T.
+ Tòa án đã tiến hành làm việc với bà Trần Thị T1 là mẹ đẻ của chị Đoàn Thị T. Bà Trần Thị T1 trình bày: bà là mẹ đẻ của chị Đoàn Thị T, chị T hiện nay không có mặt tại địa phương, chị T hiện đang làm việc tại nước ngoài. Chị T ở nước ngoài vẫn thường xuyên liên lạc về cho gia đình qua điện thoại. Về địa chỉ của chị T ở nước ngoài thì bà không được biết nên không cung cấp cho Tòa án án được. Về việc anh Hoàng Thế A có đơn xin ly hôn với chị T thì quan điểm của chị T là đồng ý ly hôn với anh Hoàng Thế A.
Về con chung: không có nên không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung, công nợ chung: không có nên không yêu cầu giải quyết.
Tại phiên tòa nguyên đơn anh Hoàng Thế A vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt, chị Đoàn Thị T vắng mặt không có lý do.
Thay mặt Hội đồng xét xử thông qua đơn khởi kiện, bản tự khai của anh Hoàng Thế A; Biên bản làm việc với mẹ đẻ của chị T là bà Trần Thị T1 và thông qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu về việc tuân theo pháp luật về tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án.
Về việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn anh Hoàng Thế A có đơn xin xét xử vắng mặt thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn chị Đoàn Thị T không có địa chỉ cụ thể ở nước ngoài Tòa án đã niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng đối với chị T; Căn cứ vào Điều 10 Nghị quyết số 01/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Tòa án nhân dân Tối cao xử vắng mặt chị Đoàn Thị T là đúng.
-Về nội dung: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 51, 53, 56; khoản 2 Điều 123; Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 273; Điều 150 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 479 BLTTDS; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Hoàng Thế A.
Về hôn nhân: Cho anh Hoàng Thế A được ly hôn chị Đoàn Thị T.
Anh Hoàng Thế A phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà. Sau khi thảo luận và nghị án. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: anh Hoàng Thế A là nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự quyết định xét xử vắng mặt anh Hoàng Thế A.
Đối với bị đơn chị Đoàn Thị T vắng mặt tại phiên tòa: Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã tiến hành làm việc với mẹ đẻ của chị T là bà Trần Thị T1 để giao thông báo thụ lý vụ án, yêu cầu bà T1 thông báo cho chị T biết về việc Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đang thụ lý vụ án tranh chấp Hôn nhân gia đình giữa anh Hoàng Thế A và chị Đoàn Thị T; Yêu cầu chị T viết bản tự khai, lời khai về cho Tòa án; Yêu cầu bà T1 cung cấp địa chỉ cụ thể của chị T ở nước ngoài. Bà Trần Thị T1 trình bày: chị T ở nước ngoài vẫn thường xuyên liên lạc về cho bà. Tuy nhiên, bà T1 vẫn không cung cấp địa chỉ, tin tức của chị T cho Tòa án. Nhận thấy đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng cho bị đơn theo quy định của pháp luật. Vì vậy, căn cứ vào Điều 10 Nghị quyết số 01/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Tòa án nhân dân Tối cao; khoản 2 điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn chị Đoàn Thị T theo thủ tục chung.
[2].Về thẩm quyền: anh Hoàng Thế A là nguyên đơn có đơn xin ly hôn anh Vũ Quang T2, anh T2 hiện đang lao động tại nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ (theo Công văn số 1574/QLXN-P3 ngày 22/01/2025 của Cục Q1-Bộ C1), thì chị T đã xuất cảnh ngày 05/12/2023 hiện chưa có thông tin nhập cảnh về Việt Nam, địa chỉ cuối cùng của chị T ở Việt Nam là: thôn T, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Như vậy, đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình có đương sự ở nước ngoài thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang, theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3]. Về hôn nhân: anh Hoàng Thế A và chị Đoàn Thị T kết hôn ngày 03/11/2011 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường L (nay là phường T) thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, anh Hoàng Thế A đề nghị được ly hôn với chị Đoàn Thị T.
Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Hoàng Thế A. Hội đồng xét xử thấy: Sau khi tổ chức lễ cưới thì anh chị về chung sống với nhau, quá trình chung sống vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, đến năm 2023 thì chị T đi nước ngoài lao động, kể từ đó vợ chồng không còn quan tâm liên lạc gì với nhau nữa. Xét thấy tình cảm vợ chồng giữa anh Hoàng Thế A và chị T đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Hoàng Thế A. Xử cho anh Hoàng Thế A được ly hôn với chị Đoàn Thị T
[4]. Về con chung: Vợ chồng anh anh Hoàng Thế A và chị Đoàn Thị T không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[5]. Về tài sản, công nợ: anh Hoàng Thế A không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[6]. Về án phí: anh Hoàng Thế A phải nộp 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ Luật Tố tụng dân sự; và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.
[7]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271; Điều 273 và khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 56 và khoản 2 Điều 123; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; khoản 4 Điều 147; khoản 3 điều 153; Điều 271; Điều 273; khoản 1 và khoản 2 Điều 479 Bộ Luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27; Điều 44 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử:
1.Về hôn nhân: cho anh Hoàng Thế A được ly hôn với chị Đoàn Thị T.
2.Về án phí: anh Hoàng Thế A phải nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0000324 ngày 13/01/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Xác nhận anh Hoàng Thế A đã nộp đủ.
3. Về quyền kháng cáo bản án: anh Hoàng Thế A vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được tống đạt Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định.
Chị Đoàn Thị T hiện đang ở nước ngoài vắng mặt tại phiên tòa có thời hạn kháng cáo Bản án là 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Hà |
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: /2025/HNGĐ-ST
Ngày : 24/02/2025
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hà
Các Hội thẩm nhân dân 1.Ông Tô Văn Đ
2.Lý Đình Đ1
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng V - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: ....... - Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 24/02/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 333/2024/TLST-HNGĐ ngày 29/11/2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 306/2024/QĐXX-ST ngày 24/12/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số ../2024/QĐ-ST ngày 24/01/2024 giữa các đương sự:
*Nguyên đơn: Chị Bằng Thị L, sinh năm: 1996 (vắng mặt)
Nơi thường trú: Thôn P, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
*Bị đơn: Anh Hoàng Văn T3, sinh năm: 1991 (vắng mặt)
Nơi thường trú: Thôn P, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
(Hiện nay đang ở nước ngoài).
+Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Ông Hoàng Văn B, sinh năm 1954 (vắng mặt)
Nơi thường trú: Thôn P, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện về việc xin ly hôn và bản tự khai ngày 08/11/2024, các lời khai tiếp theo tại Tòa án, nguyên đơn chị Bằng Thị L trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Hoàng Văn T3 trước khi kết hôn được tự do tìm hiểu và tự nguyện tiến tới hôn nhân có đăng ký kết hôn ngày 06/11/2013 tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn chị về nhà anh T3 làm dâu cuộc sống vợ chồng hạnh phúc. Do điều kiện kinh tế gia đình, nên đến năm 2018 thì anh T3 đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, thời gian đầu thì vợ chồng vẫn thường xuyên liên lạc và quan tâm đến nhau, sau đó do vợ chồng thường xuyên sống xa cách nhau lên tình cảm vợ chồng không còn. Kể từ đó vợ chồng phát sinh mâu thuẫn không còn liên lạc và quan tâm đến nhau nữa và từ năm 2023 chị đã về nhà bố mẹ đẻ sinh sống. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, nên đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang giải quyết cho chị được ly hôn anh Hoàng Văn T3.
Về con chung: Chị và anh T3 có 02 con chung là cháu Hoàng Thị Như Q, sinh ngày 03/9/2014 và cháu Hoàng Minh V1, sinh ngày 24/6/2019. Hiện nay cháu Q đang đang ở với chị, con cháu V1 đang ở cùng anh T3 và ông bà nội. Ly hôn chị đề nghị giao cháu Hoàng Thị Như Q cho chị nuôi dưỡng và giao cháu Hoàng Minh V1 cho anh Hoàng Văn T3 nuôi dưỡng, trong thời gian anh T3 ở nước ngoài thì giao cháu Hoàng Minh V1 cho ông Hoàng Văn B là bố đẻ anh T3 chăm sóc, nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản, công nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do tính chất công việc nên chị không tham gia phiên họp kiểm tra tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, các phiên tòa xét xử vụ án tranh chấp Hôn nhân gia đình giữa chị và anh T3 được. Vì vậy, chị đề nghị được vắng mặt trong phiên họp kiểm tra tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, trong các phiên tòa xét xử vụ án ly hôn giữa chị và anh Hoàng Văn T3.
Bị đơn anh Hoàng Văn T3 hiện đang lao động tại nước ngoài, không có địa chỉ cụ thể. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật đối với anh T3, đến nay Tòa án không nhận được thông tin của anh T3.
+Tòa án đã tiến hành làm việc với ông Hoàng Văn B là bố đẻ của anh T3. Ông Hoàng Văn B trình bày: Tôi là bố đẻ của anh Hoàng Văn T3, anh T3 hiện nay không có mặt tại địa phương, anh T3 hiện đang làm việc tại nước ngoài. Anh T3 ở nước ngoài vẫn thường xuyên liên lạc về cho gia đình qua điện thoại. Về địa chỉ của anh T3 ở nước ngoài thì ông không được biết nên không cung cấp cho Tòa án án được. Về việc chị L có đơn xin ly hôn với anh T3 thì quan điểm của anh T3 là đồng ý ly hôn với chị L.
Về con chung: vợ chồng anh T3, chị L có 2 con chung là cháu Hoàng Thị Như Q, sinh ngày 03/9/2014 và cháu Hoàng Minh V1, sinh ngày 24/6/2019. Ly hôn thì quan điểm của anh T3 là đồng ý giao cháu Q cho chị L nuôi dưỡng và anh đồng ý nuôi dưỡng cháu Hoàng Minh V1, trong thời gian anh ở nước ngoài thì giao cháu Hoàng Minh V1 cho ông Hoàng Văn B là bố đẻ anh chăm sóc, nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con anh không có ý kiến gì.
Về tài sản chung, công nợ chung: không có.
+Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Hoàng Văn B trình bày: Ông là ông nội của cháu Hoàng Thị Như Q, sinh ngày 03/9/2014 và cháu Hoàng Minh V1, sinh ngày 24/6/2019, cháu Hoàng Minh V1 từ khi anh T3 đi nước ngoài và từ khi chị L về nhà bố mẹ đẻ sinh sống thì cháu Hoàng Minh V1 vẫn ở với ông, cháu được ông chăm sóc, đưa đón đi học và cháu phát triển bình thường, con trai ông là anh Hoàng Văn T3 vẫn thường xuyên liên lạc về cho gia đình và thường xuyên gửi tiền về cho ông và gia đình để nuôi dưỡng chăm sóc cháu V1. Ông đồng ý nhận nuôi cháu Hoàng Minh V1 trong thời gian anh Hoàng Văn T3 ở nước ngoài.
Tại biên bản lấy lời khai cháu Hoàng Thị Như Q trình bày: Cháu là con của bố Hoàng Văn T3 và mẹ Bằng Thị L, hiện nay cháu đang ở cùng với mẹ Bằng Thị L. Nếu bố mẹ cháu ly hôn thì nguyện vọng của cháu là được ở với mẹ là Bằng Thị L.
Tại phiên tòa nguyên đơn chị Bằng Thị L, ông Hoàng Văn B vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh Hoàng Văn T3 vắng mặt không có lý do.
Thay mặt Hội đồng xét xử thông qua đơn khởi kiện, bản tự khai của chị L, ông B; Biên bản làm việc với ông Hoàng Văn B; Biên bản lấy lời khai của cháu Hoàng Thị Như Q và thông qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu về việc tuân theo pháp luật về tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án.
Về việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn chị Bằng Thị L, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Hoàng Văn B có đơn xin xét xử vắng mặt thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn anh Hoàng Văn T3 không có địa chỉ cụ thể ở nước ngoài Tòa án đã niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng đối với anh T3; Căn cứ vào Điều 10 Nghị quyết số 01/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao xử vắng mặt anh T3 là đúng.
-Về nội dung: Đề nghị HĐXX áp dụng điều 51, 53, 56; Điều 81, 82, 83; Điều 104 và khoản 2 điều 123; Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 điều 28; khoản 3 điều 35; điểm c khoản 1 điều 37; khoản 4 điều 147; khoản 2 điều 227; khoản 1 điều 228; 238; điều 271; điều 273; khoản 2 điều 479 BLTTDS; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bằng Thị L. Xử cho Bằng Thị L được ly hôn anh Hoàng Văn T3.
Về con chung: Giao con chung là cháu Hoàng Thị Như Q, sinh ngày 03/9/2014 cho chị Bằng Thị L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Giao cháu Hoàng Minh V1, sinh ngày 24/6/2019 cho anh Hoàng Văn T3 trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Nhưng tạm giao cháu Hoàng Minh V1, sinh ngày 24/6/2019 cho ông Hoàng Văn B nuôi dưỡng, chăm sóc trong thời gian anh T3 ở nước ngoài. Các đương sự không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét, giải quyết.
Chị Bằng Thị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà. Sau khi thảo luận và nghị án. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Chị Bằng Thị L là nguyên đơn, ông Hoàng Văn B là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự quyết định xét xử vắng mặt chị Bằng Thị L, ông Hoàng Văn B.
Đối với bị đơn anh Hoàng Văn T3 vắng mặt tại phiên tòa: Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã tiến hành làm việc với bố đẻ của anh T3 là ông Hoàng Văn B để giao thông báo thụ lý vụ án, yêu cầu ông B thông báo cho anh T3 biết về việc Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đang thụ lý vụ án tranh chấp Hôn nhân gia đình giữa chị Bằng Thị L và anh Hoàng Văn T3; Yêu cầu anh T3 viết bản tự khai, lời khai về cho Tòa án; Yêu cầu ông B cung cấp địa chỉ cụ thể của anh T3 ở nước ngoài. Ông Hoàng Văn B trình bày: Anh T3 vẫn thường xuyên liên lạc về gia đình. Tuy nhiên, ông B không cung cấp địa chỉ, tin tức của anh T3 cho Tòa án. Nhận thấy đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng cho bị đơn theo quy định của pháp luật. Vì vậy, căn cứ vào Điều 10 Nghị quyết số 01/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; khoản 2 điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn anh Hoàng Văn T3 theo thủ tục chung.
[2].Về thẩm quyền: Chị Bằng Thị L là nguyên đơn có đơn xin ly anh Hoàng Văn T3, anh T3 hiện đang lao động tại nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ (theo Công văn số 29295/QLXNC-P3 v/v cung cấp thông tin xuất nhập cảnh ngày 10/12/2024 của Cục Q1-Bộ C1), thì anh T3 đã nhiều lần xuất nhập cảnh, lần xuất cảnh gần nhất là ngày 15/3/2023 hiện chưa có thông tin nhập cảnh trở lại, địa chỉ cuối cùng của anh T3 ở Việt Nam là: Thôn P, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Như vậy, đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình có đương sự ở nước ngoài thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang, theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3]. Về quan hệ Hôn nhân: Chị Bằng Thị L và anh Hoàng Văn T3 có đăng ký kết hôn ngày 06/11/2013 tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang, được Ủy ban nhân dân xã Q cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn. Đây là hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Bằng Thị L. Hội đồng xét xử thấy: Sau khi kết hôn chị L anh T3 chung sống với nhau hạnh phúc, do điều kiện kinh tế đến năm 2018 thì anh T3 đi nước ngoài lao động, thời gian đầu vợ chồng thường xuyên liên lạc và quan tâm đến nhau, sau do vợ chồng sống xa cách nhau lâu ngày nên dẫn đến xảy ra mâu thuẫn vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, từ năm 2023 chị L đã về nhà bố mẹ đẻ sinh sống từ đó đến nay. Xét thấy tình cảm giữa chị L và anh T3 đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bằng Thị L. Xử cho chị Bằng Thị L được ly hôn anh Hoàng Văn T3.
[4]. Về nuôi con chung: Chị Bằng Thị L và anh Hoàng Văn T3 có 02 con chung là cháu Hoàng Thị Như Q, sinh ngày 03/9/2014 và cháu Hoàng Minh V1, sinh ngày 24/6/2019. Ly hôn chị L đề nghị được giao cháu Hoàng Thị Như Q cho chị nuôi dưỡng và giao cháu Hoàng Minh V1 cho anh T3 nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con chung, chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
Xét yêu cầu khởi kiện của chị Bằng Thị L về yêu cầu nuôi con chung, Hội đồng xét xử thấy từ khi chị L về nhà mẹ đẻ sinh sống và có đem theo cháu Hoàng Thị Như Q về sốn cùng, còn cháu Hoàng Minh V1 thì vẫn ở cùng với ông Hoàng Văn B là bố đẻ anh T3. Các cháu vẫn được chị L và ông B chăm sóc phát triển bình thường. Do vậy chị L đề nghị giao cháu Hoàng Thị Như Q cho chị nuôi dưỡng và giao cháu Hoàng Minh V1 cho anh T3 nuôi dưỡng là có căn cứ và phù hợp với điều kiện thực tế. Do đó Hội đồng xét xử áp dụng điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bằng Thị L. Giao con chung là cháu Hoàng Thị Như Q, sinh ngày 03/9/2014 cho chị Bằng Thị L là người trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc, và giao cháu cháu Hoàng Minh V1, sinh ngày 24/6/2019 cho anh Hoàng Văn T3 là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi các con chung tròn 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật là phù hợp với điều kiện thực tế cũng như quyền và lợi ích về mọi mặt của con chung. Tuy nhiên hiện nay anh T3 đang đi lao động tại nước ngoài nên cần tạm giao cháu Hoàng Minh V1 cho ông Hoàng Văn B chăm sóc trong thời gian anh T3 ở nước ngoài.
Chị Bằng Thị L và anh Hoàng Văn T3 có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở chị L, anh T3 thực hiện quyền này.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do chị L không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[5] .Về tài sản, công nợ: Chị Bằng Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[6]. Về án phí: Chị Bằng Thị L phải nộp 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ Luật Tố tụng dân sự; và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.
[7]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271; Điều 273 và khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 56; Điều 81, 82, 83 và khoản 2 Điều 123; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1 điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273; khoản 1, 2 Điều 479 Bộ Luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử:
1.Về hôn nhân: Cho chị Bằng Thị L được ly hôn với anh Hoàng Văn T3.
2.Về con chung: Giao cho anh Hoàng Văn T3 là người trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc, giáo dục con chung là cháu Hoàng Minh V1, sinh ngày 24/6/2019 và giao cho chị Bằng Thị L là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Hoàng Thị Như Q, sinh ngày 03/9/2014 đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Nhưng tạm giao cho ông Hoàng Văn B trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục cháu Hoàng Minh V1 trong thời gian anh Hoàng Văn T3 ở nước ngoài.
Chị Bằng Thị L và anh Hoàng Văn T3 có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở chị L, anh T3 thực hiện quyền này.
3.Về án phí: Chị Bằng Thị L phải nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0000216 ngày 28/11/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị L đã nộp đủ.
4.Về quyền kháng cáo bản án: Chị Bằng Thị L vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được tống đạt Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định.
Anh Hoàng Văn T3 hiện đang ở nước ngoài vắng mặt tại phiên tòa có thời hạn kháng cáo Bản án là 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Hoàng Văn B vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định.
Án xử công khai sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Hà |
Bản án số 79/2025/HNGĐ-ST ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về ly hôn
- Số bản án: 79/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: gày 21/3/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 10/2025/TLST-HNGĐ ngày 13/01/2025 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2025/QĐXX-ST ngày 21/01/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 30/2025/QĐ-ST ngày 21/02/2024 giữa các đương sự: *Nguyên đơn: Anh Hoàng Thế A, sinh năm 1988 Nơi cư trú: Số nhà B, ngõ C, đường C, phường T, thành phố B. *Bị đơn: Chị Đoàn Thị T, sinh năm 1988 Nơi cư trú: Thôn T, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Hiện đang lao động tại nước ngoài.
