|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 79/2025/HS-ST
Ngày 05 - 3 - 2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Nam.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Bửu Huệ
- Bà Bùi Thị Thúy Lan
Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Ngọc Linh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Phùng Thị Thảo, Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 3 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm phòng xử án A trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương và điểm cầu thành phần phòng hỏi cung Phân trại tạm giam khu vực thành phố D, tỉnh Bình Dương mở phiên tòa trực tuyến xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 38/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2025/QĐXXST-HS ngày 21/02/2025, đối với bị cáo:
Lê Minh H (tên gọi khác: D), sinh năm 1984 tại tỉnh Tiền Giang; thường trú: Ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang; nghề nghiệp: Thợ hồ; trình độ học vấn: 0/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Lê Văn H1, sinh năm 1959 và bà Đoàn Kiều T, sinh năm 1960; bị cáo có 04 anh em, lớn là bị cáo, nhỏ sinh năm 1991; bị cáo chưa có vợ con; tiền án: Ngày 02/8/2007, bị Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang xử phạt 03 (ba) năm 10 (mười) tháng 13 (mười ba) ngày tù về tội Trộm cắp tài sản và tội Trốn khỏi nơi giam giữ tại Bản án số 360/2007/HSST (tổng hợp bản án số 06/2007/HSST ngày 08/3/2007 của Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang), chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/8/2010; Ngày 23/02/2011, bị Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang xử phạt 03 (ba) năm tù về tội Trộm cắp tài sản tại Bản án số 03/2011/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/10/2013; Ngày 20/3/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai xử phạt 13 (mười ba) năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Trộm cắp tài sản, Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản tại Bản án số 47/2015/HSST (tổng hợp Bản án số 203/2014/HSST ngày 07/11/2014 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai và Bản án số 19/2015/HSPT ngày 04/02/2015 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai), chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/9/2023, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/10/2024 cho đến nay. Có mặt.
- Bị hại: Anh Nguyễn Trung K, sinh năm 1992; thường trú: Khu B, thị trấn H, huyện H, tỉnh Phú Thọ; chỗ ở hiện nay: Số A, đường N, khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có mặt.
- Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị Đ. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Minh H là đối tượng không có nghề nghiệp ổn định. Khoảng đầu tháng 8/2024, H đến thuê phòng trọ tại địa chỉ: Số A, N, khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương ở, cùng chung dãy trọ với anh Nguyễn Trung K. Đến ngày 29/8/2024, do không có tiền tiêu xài và trả tiền trọ, H nảy sinh ý định giả vờ mượn xe mô tô của anh K để đi đón bạn nhưng thực tế là lấy xe mô tô bán lấy tiền để tiêu xài.
Thực hiện ý định trên, vào khoảng 07 giờ 30 phút ngày 29/8/2024, H đi qua phòng trọ của anh K nói dối “mượn xe mô tô để đi đón bạn ở khu công nghiệp S”. Anh K đồng ý và giao xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển số 19F1-326.98 cùng chìa khoá xe mô tô cho H. Sau đó, H điều khiển xe mô tô trên đi từ phòng trọ đến khu vực thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Đến khoảng 08 giờ ngày 30/8/2024, H điều khiển xe mô tô đi đến khu vực gần Cổng khu du lịch S, phường T, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh để tìm chỗ cầm cố xe. Lúc này, có 01 đối tượng (không rõ nhân thân, lai lịch) đến hỏi H “xe có giấy không” thì H trả lời “không có”. Sau đó, đối tượng trên có thoả thuận mua lại xe mô tô trên với giá 2.000.000 đồng thì H đồng ý giao xe rồi nhận tiền từ người này. Sau đó, đối tượng trên điều khiển xe mô tô về hướng Cầu Đ còn H sống lang thang tại khu vực thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. H sử dụng số tiền có được do bán xe của anh K để mua 01 xe mô tô biển số 61H2-2632 trên mạng Internet và sử dụng cho đến nay. Số tiền còn lại H đã tiêu xài hết.
Đến ngày 13/10/2024, H đang điều khiển xe mô tô biển số 61H2-2632 đi trên Quốc lộ A, đoạn đường thuộc khu vực phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị anh K bắt gặp và yêu cầu về trụ sở Công an làm việc. Tại Công an phường D, thành phố D, H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô nhãn hiệu ORIENTAL, biển số 61H2-2632.
Kết luận định giá tài sản số 226 ngày 05/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố D, tỉnh Bình Dương kết luận: Xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen bạc, biển số 19F1-326.98 trị giá 7.700.000 đồng.
Ngày 23/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Lê Minh H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” để điều tra cho đến nay.
Cáo trạng số: 76/CT-VKS-DA ngày 21 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Lê Minh H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại Điểm d khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm d khoản 2 Điều 174; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Lê Minh H từ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng đến 04 (bốn) năm tù.
Trách nhiệm dân sự: Bị hại K yêu cầu bị cáo H bồi thường thiệt hại đối với tài sản không thu hồi được, theo kết quả định giá là 7.700.000 đồng
Xử lý vật chứng: Xe mô tô nhãn hiệu ORIENTAL, biển số 61H2-2632 do bà Huỳnh Thu C đứng tên chủ sở hữu. Quá trình điều tra, bà C cho biết đã bán lại cho một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) ở khu vực thành phố B, tỉnh Bình Dương từ năm 2005 nhưng không làm thủ tục sang tên. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, tỉnh Bình Dưng đã tiến hành đăng thông báo truy tìm chủ sở hữu đối với xe mô tô trên ở trên phương tiện thông tin đại chúng trong 03 số liên tiếp nhưng đến nay vẫn chưa có kết quả nên đề nghị tịch thu, sung ngân sách Nhà nước.
Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát về điều luật áp dụng, khung hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm dân sự, nhân thân và xử lý vật chứng. Đồng thời tại lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Căn cứ lời khai của bị cáo, bị hại và chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, xác định: Lê Minh H có 03 tiền án chưa được xóa án tích, khoảng 07 giờ 30 phút ngày 29/8/2024, tại nhà trọ địa chỉ: Số A, N, khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương, Lê Minh H dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản là 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen bạc, biển số 19F1-326.98 của anh Nguyễn Trung K trị giá 7.700.000 đồng.
[3] Như vậy, hành vi trên đây của bị cáo Lê Minh H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, quy định tại điểm d khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng số: 76/CT-VKS ngày 21 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo Lê Minh H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, quy định tại điểm d khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; bị cáo hoàn toàn đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
[4] Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền tài sản của bị hại, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải tình tiết giảm nhẹ này được quy định tại Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[7] Về nhân thân: Bị cáo đã nhiều lần bị Tòa án xét xử về các tội xâm phạm quyền sỡ hữu tài sản.
[8] Về hình phạt:
- Hình phạt chính: Xét bị cáo phạm tội nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền tài sản của người bị hại, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.
- Hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên, áp dụng phạt tù cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[9] Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo bồi thường cho bị hại anh Nguyễn Trung K giá trị xe bị chiếm đoạt là 7.700.000 đồng.
[10] Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung ngân sách Nhà nước xe mô tô nhãn hiệu ORIENTAL, biển số 61H2-2632.
[11] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo, trách nhiệm dân sự là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[12] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Đ1 a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Lê Minh H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng Điểm d khoản 2 Điều 174; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Lê Minh H 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/10/2024.
2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và các Điều 468, 584, 585 và 589 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.
Buộc bị cáo Lê Minh H bồi thường cho anh Nguyễn Trung K số tiền 7.700.000 (bảy triệu bảy trăm nghìn) đồng.
Kể từ ngày người được yêu cầu thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thi hành án thì phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu sung Ngân sách nhà nước xe mô tô nhãn hiệu ORIENTAL, biển số 61H2-2632, số máy 01167044, số khung bị đục sửa, dung tích xilanh 108 cm³, tình trạng không có kính chiếu hậu, yên xe bị rách, không có bình ắc quy, không có bửng, không có nắp đèn xinhan sau, ốc vít, nắp bình ắc quy bị bung. (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/01/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An).
4. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Lê Minh H phải nộp 300.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 385.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo và bị hại có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Viết Nam |
Bản án số 79/2025/HS-ST ngày 05/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự sơ thẩm (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 79/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
