Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH

Bản án số: 79/2025/HS-ST

Ngày 18-02-2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Hoan

Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Cáp Văn Dũng

- Ông Nguyễn Văn Cường

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Đức Tuấn - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hòa – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 88/2025/TLST – HS ngày 24 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2025/QĐXXST – HS ngày 05 tháng 02 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. LÊ TRUNG H, sinh năm: 2005 tại: Xóm H, thị trấn Q, huyện N, tỉnh Nam Định; Nơi cư trú: Xóm H, thị trấn Q, huyện N, tỉnh Nam Định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Thanh H1 và bà Trần Thị T; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/10/2024 đến nay.

Có mặt tại phiên tòa.

2. VŨ VĂN H2, sinh năm: 2005 tại: Xóm F, thị trấn Q, huyện N, tỉnh Nam Định; Nơi cư trú: Xóm F, thị trấn Q, huyện N, tỉnh Nam Định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên Chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vũ Văn H3 và bà Vũ Thị H4; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/10/2024 đến nay.

Có mặt tại phiên tòa.

3. LÒ THỊ THUÂN (T3), sinh năm: 2002 tại: Bản C, xã M, huyện T, tỉnh Điện Biên; Nơi cư trú: Bản C, xã M, huyện T, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 09/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lò Văn L và bà Lường Thị K; Chồng, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/10/2024 đến nay.

Có mặt tại phiên tòa.

4. LÒ THỊ THOÁNG (T4), sinh năm: 2004 tại: Bản C, xã M, huyện T, tỉnh Điện Biên; Nơi cư trú: Bản C, xã M, huyện T, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 12/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lò Văn H5 và bà Lường Thị X; Chồng, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/10/2024 đến nay.

Có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo T3 và T4: Bà Đỗ Thị Ánh T1 là Luật sư của Công ty L1 – Đoàn Luật sư thành phố H

Địa chỉ: P tòa A N, đường M, phường T, quận C, Hà Nội.

- Người bào chữa cho bị cáo T3: Bà Nguyễn Thị Lan A – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B.

- Người bào chữa cho bị cáo T4: Bà Nguyễn Thị T2 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B.

Người bào chữa đều có mặt tại phiên tòa

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Trung H, Vũ Văn H2, Lò Thị T3 và Lò Thị T4 là bạn bè, cùng thuê phòng 212B chung cư H, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh để ở. Khoảng 3 giờ 30 phút ngày 14/10/2024, sau khi bốn người đi ăn đêm về thì H rủ mọi người góp tiền đi mua ma túy "kẹo, ke" về cùng sử dụng. H2, T3, T4 đồng ý nên mỗi người đưa cho H 600 nghìn đồng. H cầm tiền và cùng H2 đi bộ đến đường H, phường V tìm mua ma túy. Tại đây, H và H2 gặp một người đàn ông không quen biết, có biểu hiện nghiện ma túy nên đã hỏi mua 2 triệu 400 nghìn đồng ma túy "kẹo, ke". Người này cầm tiền và đưa cho hai người 01 túi nilon màu trắng, bên trong chứa 02 viên nén màu xanh và 01 túi nilon màu trắng chứa chất bột màu trắng. H cầm 02 túi ma túy vừa mua được, cùng H2 đi bộ về phòng B chung cư T. Về đến phòng 202B, H để 02 túi ma túy trên bàn ăn rồi lấy 01 viên nén màu xanh "kẹo" bẻ làm đôi đưa cho T3 và T4 mỗi người một nửa; H2 lấy viên "kẹo" còn lại bẻ làm đôi chia cho H nửa viên. Bốn người sử dụng bằng cách uống với nước. Uống xong, H2 lấy 01 đĩa sứ màu trắng ở trên giá bát, bật lửa gas và thẻ căn cước công dân của H2 đưa cho H; H lấy túi nilon chứa chất bột màu trắng đi vào nhà vệ sinh trong phòng ngủ của H và H2. Tại đây, H thực hành động tác "xào ke" (tức ma túy K1) bằng cách dùng bật lửa hơ nóng đáy đĩa rồi đổ hết số chất bột màu trắng trong túi nilon lên đĩa và dùng thẻ căn cước để "xào", băm nhỏ và chia thành các đường kẻ. Sau khi "xào" xong, H gọi 3 người còn lại vào phòng ngủ của H và H2 để cùng sử dụng. H2 lấy 01 tờ tiền mệnh giá 100 nghìn đồng cuốn thành ống hút để hít ma túy. Bốn người ngồi quây tròn trên giường, H cầm đĩa ma túy vừa xào, H2 là người sử dụng đầu tiên bằng cách dùng ống hút hít một đường ma túy được H kẻ sẵn trên mặt đĩa; T3 và T4 là người sử dụng thứ 2 và thứ 3, H là người sử dụng cuối cùng cũng giống như cách H2 đã sử dụng. Sau khi sử dụng xong, H để đĩa, bật lửa thẻ căn cước và ống hút lên trên kệ tủ ở phòng ngủ của H và H2; cả bốn người ngồi nói chuyện một lúc rồi về đi ngủ. Đến khoảng 9 giờ 30 phút cùng ngày, lực lượng Công an đến kiểm tra, tại thời điểm này trong phòng có 4 người là H, H2, T3 và T4. Quá trình kiểm tra, Công an thu giữ trên kệ phòng ngủ của H và H2 01 đĩa sứ trên mặt có chất bột màu trắng, 01 thẻ căn cước công dân mang tên Vũ Văn H2, 01 bật lửa gas màu đỏ và 01 ống hút được cuộn bằng tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng, trên mặt có bám dính chất bột màu trắng. Ngoài ra, không thu giữ gì khác.

Tại Kết luận giám định số: 2359/KL-KTHS ngày 16/10/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh B, kết luận:

“ - Chất bột màu trắng trên mặt đĩa sứ màu trắng gửi giám định có khối lượng là 0,2455 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Ketamine;

- Chất bột màu trắng bám dính trên bề mặt thẻ căn cước công dân mang tên Vũ Văn H2 và bên trong ống hút bằng tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng gửi giám định là ma túy; Loại ma túy: Ketamine; Không xác định được khối lượng.”

Tại bản cáo trạng số: 31/CT– VKSTPBN ngày 23 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh đã truy tố Lê Trung H, Vũ Văn H2, Lò Thị T3 và Lò Thị T4 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố và đều thừa nhận T3, T4 cùng góp tiền để H và H2 đi mua ma túy về cùng sử dụng tại phòng 212B chung cư H. Sau khi mua được ma túy, H, H2 bẻ viên ma túy chia cho T3, T4 để cùng uống sau đó H là người "xào ke" để mọi người cùng sử dụng. Các bị cáo phạm tội là tự nguyện, không bị ai đe dọa, xúi giục hay ép buộc

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích hành vi phạm tội của các bị cáo, căn cứ vào nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự mà các bị cáo được hưởng vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Lê Trung H, Vũ Văn H2, Lò Thị T3, Lò Thị T4 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy".

- Căn cứ: Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật hình sự: Xử phạt Lê Trung H và Vũ Văn H2 mỗi bị cáo 08 năm 06 tháng đến 09 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/10/2024.

- Căn cứ: Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật hình sự: Xử phạt Lò Thị T3 từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng. Thời hạn tù tính từ ngày 14/10/2024.

- Căn cứ: Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s, điểm t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật hình sự: Xử phạt Lò Thị T4 từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng. Thời hạn tù được tính từ ngày 14/10/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ: Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

  • + Tịch thu, tiêu hủy: Số ma túy còn lại sau giám định, 01 đĩa sứ màu trắng, 01 bật lửa gas màu đỏ.
  • + Tịch thu, nộp Ngân sách Nhà nước: 100.000 đồng;
  • + Trả lại Vũ Văn H2 01 căn cước công dân.

Lưu tại hồ sơ vụ án 04 chiếc đĩa DVD chứa file ghi hình có âm thanh khi hỏi cung các bị cáo.

Các bị cáo H, H2 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Miễn nộp toàn bộ án phí HSST cho T3 và T4

Các bị cáo H, H2 nhất trí với bản luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa, không tranh luận gì.

Bị cáo T3 và T4 không trình bày lời bào chữa.

Trợ giúp viên pháp lý trình bày lời bào chữa cho bị cáo T4: Người bào chữa nhất trí với luận tội của Kiểm sát viên về tội danh; về mức hình phạt người bào chữa đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì bị cáo tuổi đời còn trẻ, nhận thức pháp luật còn hạn chế; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, luôn tỏ ra ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của bản thân; trong thời gian học có nhiều năm liền bị cáo được giấy khen của nhà trường; bị cáo có công tố giác tội phạm tàng trữ trái phép chất ma túy tại địa phương nơi bị cáo cư trú; bị cáo có bà nội tham gia kháng chiến nên đề nghị HĐXX áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, điểm t khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo mức án nhẹ nhất của khung hình phạt. Do bị cáo không có việc làm, bị cáo sống tại vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn nên đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Về các vấn đề khác, người bào chữa nhất trí với đề nghị của Kiểm sát viên.

Trợ giúp viên pháp lý trình bày lời bào chữa cho bị cáo T3: Nhất trí với luận tội của Kiểm sát viên về tội danh. Về hình phạt, người bào chữa đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ cho bị cáo vì bị cáo thành khẩn khai báo, chưa phạm tội lần nào, bị cáo cư trú tại vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn nên nhận thức pháp luật còn hạn chế. Đề nghị HĐXX căn cứ điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử bị cáo T3 mức hình phạt thấp nhất.

Luật sư trình bày lời bào chữa cho bị cáo T3 và T4: Nhất trí với phần bào chữa của hai Trợ giúp viên pháp lý. Luật sư không tranh luận gì với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh. Về hình phạt: Mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với hai bị cáo từ 08 năm đến 8 năm 06 tháng là quá cao. Bởi lẽ, hai bị cáo đều là người dân tộc thiểu số, xuất thân từ vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, nhận thức pháp luật còn hạn chế; hai bị cáo có vai trò không đáng kể trong vụ án, thụ động làm theo chỉ dẫn của H2 và H, tại phiên tòa hai bị cáo cũng đã trả lời là nếu H2 và H không rủ thì hai bị cáo sẽ không tự đi mua ma túy về sử dụng. Bị cáo T4 có ông nội tham gia kháng chiến được tặng Huân chương kháng chiến hạng 3, bị cáo T3 đã có công tố giác tội phạm. Đề nghị HĐXX xem xét hai bị cáo phạm tội lần đầu, là người giúp sức nhưng có vai trò không đáng kể để căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 54 của Bộ luật hình sự quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng đối với T3 và T4. Các vấn đề khác, luật sư không tranh luận.

Kiểm sát viên tranh luận: Xét thấy, trong luận tội có đánh giá vai trò của T3, T4 là đồng phạm giúp sức cho H, H2. Nhưng không phải là không đáng kể vì các bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, các bị cáo giúp sức tích cực cho hai bị cáo còn lại cả về vật chất lẫn tinh thần. Do vậy, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên đề nghị về hình phạt đối với hai bị cáo.

Người bào chữa không tranh luận gì thêm.

Bị cáo T3, T4 nhất trí phần bào chữa của người bào chữa, không tranh luận gì thêm.

Kiểm sát viên không tranh luận gì thêm.

Bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo đều nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị HĐXX xem xét xử cho các bị cáo hình phạt nhẹ nhất, để các bị cáo sớm trở về gia đình, địa phương, cải tạo thành công dân có ích.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp vật chứng đã thu giữ, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở xác định: Trong khoảng thời gian từ 03 giờ 30 phút đến 09 giờ 30 phút ngày 14 tháng 10 năm 2024, tại phòng 212B chung cư H, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh do Lê Trung H, Vũ Văn H2, Lò Thị T3, Lò Thị T4 cùng thuê để ở, H, H2, T3, T4 đã thống nhất cùng góp tiền để H và H2 đi mua ma túy; sau khi mua được H2 chuẩn bị công cụ để H xào ma túy rồi cùng T3, T4 sử dụng trái phép chất ma túy . Hành vi phạm tội của bị cáo đã đủ yếu tố để cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Các bị cáo đều phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, cả bốn bị cáo đều cùng nhau góp tiền, sử dụng chỗ ở thuộc quyền quản lý hợp pháp của mình để thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh truy tố bốn bị cáo theo điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, cần được chấp nhận.

[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, chỉ vì ham chơi, đua đòi, thiếu ý thức chấp hành pháp luật,vì để thỏa mãn nhu cầu cá nhân mà các bị cáo đã lao vào con đường phạm tội, xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về ma túy, làm suy kiệt sức khỏe con người, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội.

[4] Xét vai trò, tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của từng bị cáo, thấy rằng: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, không có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm. Bị cáo H là người khởi sướng việc sử dụng ma túy, góp tiền để cùng H2 đi mua ma túy và xào ma túy; H2 chuẩn bị dụng cụ để H xào ma túy nên H, H2 có vai trò chính. Thấy H rủ cùng góp tiền mua ma túy, T3 và T4 biết là sai trái nhưng vẫn đồng ý và sử dụng phòng trọ thuê chung của 4 người để cùng tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy với H, H2 nên T3, T4 có vai trò thấp hơn H, H2.

[5] Xem xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:

  • - Về nhân thân: Cả bốn bị cáo đều phạm tội lần đầu, không có tiền án, tiền sự nên các bị cáo có nhân thân tốt.
  • - Về tình tiết tăng nặng: Cả bốn bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; bị cáo T4 đã tích cực hợp tác với cơ quan Công an xã Mường Khong để phát hiện tội phạm; bị cáo T3, T4 là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn; bị cáo T3 có ông nội được tặng Huân chương kháng chiến nên T4 được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; Thuân và T4 được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự

- Về quyết định hình phạt: Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về mức hình phạt đối với các bị cáo là hợp lý, đã có sự phân hóa theo vai trò của từng bị cáo; hai bị cáo T3, T4 có vai trò giúp sức tích cực cho các bị cáo còn lại, các bị cáo đều nhận thức rõ được hành vi phạm tội mà mình gây ra và tham gia tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy từ đầu đến cuối. Không có căn cứ để chấp nhận đề nghị xử Thuân, Thoáng dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng của luật sư. Do các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, phạm tội cũng là do ham chơi, đua đòi mà chưa nhận thức được mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà mình sẽ gây ra. Xét thấy chỉ cần xử bốn bị cáo ở trên mức khởi điểm của khung hình phạt và có sự phân hóa theo vai trò của các bị cáo trong vụ án cũng đủ sức giáo dục, răn đe đối với các bị cáo, đồng thời cũng thể hiện được tính nghiêm minh của pháp luật, và vẫn có tác dụng giáo dục riêng và răn đe, phòng ngừa chung.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo đều nghiện ma túy, không có công việc và thu nhập, không được hưởng lợi từ hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo là phù hợp.

[7] Về vật chứng của vụ án:

  • - Đối với số ma túy còn lại sau giám định, là vật nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy. Đối với 01 đĩa sứ màu trắng, 01 bật lửa gas màu đỏ là các dụng cụ phục vụ cho việc sử dụng ma túy trái phép, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.
  • - Đối với tờ tiền 100.000 đồng được H2 tự chế thành ống hút để sử dụng ma túy, có giá trị sử dụng nên cần tuyên tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.
  • - Đối với 01 thẻ căn cước công dân mang tên Vũ Văn H2, bị cáo khai tự chế thành dụng cụ phục vụ cho việc sử dụng ma túy trái phép. Tại phiên tòa, bị cáo đề nghị được nhận lại căn cước công dân để thực hiện các thủ tục hành chính nên cần tuyên trả lại cho bị cáo.

[8] Đối với số ma túy còn lại trên đĩa bị thu giữ khi bắt quả tang: Cả H, H2, T3, T4 đều khai nhận nếu không bị bắt sẽ cùng nhau sử dụng hết số ma túy do H và H2 mua về nên không xem xét xử lý các bị cáo về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho H, H2 vào ngày 14/10/2024, do H và H2 khai không biết tên, tuổi, địa chỉ của người này nên Công an thành phố B đang xác minh, khi nào làm rõ sẽ xem xét, xử lý sau.

Đối với anh Phạm Văn Đ là người H, H2, T3, T4 thuê phòng 212B chung cư HUD Trầu Cau, do anh Đ không biết các bị cáo sử dụng phòng trọ làm nơi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên anh Đ không liên quan gì.

Cần lưu tại hồ sơ vụ án 04 chiếc đĩa DVD chứa file ghi hình có âm thanh khi hỏi cung các bị cáo.

[9] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo H và H2 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Do T3 và T4 là người dân tộc thiểu số, cư trú tại vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn nên cần căn cứ Điều 12 của Nghị quyết 326 miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho T3 và T4. Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Lê Trung H, Vũ Văn H2, Lò Thị T3, Lò Thị T4 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy".

- Căn cứ: Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật hình sự. Xử phạt Lê Trung H, Vũ Văn H2 mỗi bị cáo 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 14/10/2024.

- Căn cứ: Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật hình sự. Xử phạt Lò Thị T3 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 14/10/2024.

- Căn cứ: Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật hình sự. Xử phạt Lò Thị T4 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 14/10/2024.

- Căn cứ: Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tạm giam các bị cáo Lê Trung H, Vũ Văn H2, Lò Thị T3, Lò Thị T4 mỗi bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ: Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

  • Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) túi nilon được niêm phong đúng quy định của pháp luật, bên trong có mẫu vật ma túy còn lại sau giám định và 01 chiếc đĩa sứ màu trắng hoàn trả lại sau giám định theo Bản kết luận giám định số 2359/KL-KTHS ngày 16/10/2024 của Phòng K2 - Công an tỉnh B; 01 chiếc bật lửa gas màu đỏ, đã qua sử dụng.
  • Tịch thu, nộp Ngân sách Nhà nước: 01 phong bì niêm phong có mã tài sản 111000014290A bên trong có tiền ngân hàng N: 100.000 đồng hiện đang được gửi tại Kho bạc Nhà nước B theo Biên bản bàn giao, tiếp nhận tài sản để bảo quản số 34 ngày 17/10/2024 giữa cơ quan CSĐT Công an thành phố B và Kho bạc Bắc Ninh.
  • Trả lại Vũ Văn H2 01 căn cước công dân được niêm phong tại 01 phong bì thư ký hiệu A2 có dấu niêm phong của Phòng K2 bên trong có 01 căn cước công dân mang tên Vũ Văn H2.

Toàn bộ vật chứng nêu trên được mô tả theo đúng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 22 tháng 01 năm 2025 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh.

Về án phí: Căn cứ: Khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136; Điều 12, 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Lê Trung H, Vũ Văn H2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST. Miễn nộp toàn bộ án phí HSST cho Lò Thị T3 và Lò Thị T4.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ: Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Bắc Ninh;
  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - Công an thành phố Bắc Ninh;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Bắc Ninh;
  • - THA thành phố Bắc Ninh (khi án có hiệu lực);
  • - TAND tỉnh Bắc Ninh (Phòng GĐKT);
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - UBND xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Hoan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 79/2025/HS-ST ngày 18/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 79/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hình sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger