|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 79/2025/HSST Ngày: 26-02-2025 |
Phan Thiết, ngày 26 tháng 02 năm 2025 |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hà Thị Ái Quyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Đô
- Bà Lê Thị Kiều Thu
Thư ký phiên toà: Bà Huỳnh Thanh Trúc, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phan Thiết – tỉnh Bình Thuận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết – tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim A- Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận, Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 08/2025/HSST ngày 20 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:
NGUYỄN VĂN N (tên gọi khác: Bé A1), sinh năm: 1980, tại tỉnh Bình
Thuận; Nơi thường trú: khu phố G, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; Nơi cư trú: khu phố E, phường B, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn M (đã chết) và bà Lê Thị T (sinh năm 1955). Chưa có vợ, con.
Tiền sự: không; tiền án: không;
Nhân thân:
- + Ngày 12/6/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận tuyên phạt 07 tháng tù về tội " Trộm cắp tài sản" theo Bản án số 40/HSST, chấp hành xong ngày 05/02/2015.
- + Ngày 27/6/2019, bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết tuyên phạt 15 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo Bản án số 62/HSST, chấp hành xong ngày 12/9/2020.
- + Ngày 28/10/2022, bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, chấp hành xong ngày 28/5/2024.
Bị cáo bị bắt từ ngày 23/10/2024, chuyển tạm giam ngày 01/11/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an thành phố P.
Bị cáo có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN
1
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 22/10/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy, Nguyễn Văn N điều khiển xe mô tô biển số 86C1-28421 tới khu vực gần chợ B thuộc phường Đ, thành phố P tìm gặp một nam thanh niên (không rõ nhân thân) hỏi mua ma túy đá thì người thanh niên đồng ý bán. Năm đưa cho nam thanh niên 100.000 đồng, nam thanh niên nhận tiền rồi đưa lại cho N gói nylon bên trong chứa ma túy đá được hàn kín hai đầu. Mua được ma túy, Năm cất gói nylon trên vào trong túi quần bên phải đang mặc của Năm rồi điều khiển xe mô tô đi về nhà ở khu phố F, phường B, thành phố P. Khi N điều khiển xe mô tô đi đến đoạn đường T - P thuộc khu phố F, phường B, thành phố P thì bị Tổ công tác thuộc Đội Cảnh sát giao thông trật tự - Công an thành phố P phối hợp với Công an phường B kiểm tra hành chính. Qua kiểm tra, Tổ công tác phát hiện Năm có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nên đã đưa N cùng tang vật về trụ sở Công an phường B để làm việc.
Quá trình điều tra, Năm đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên. Năm khai mục đích Năm tàng trữ ma túy là để sử dụng.
Vật chứng của vụ án:
- - Thu giữ trong túi quần phía trước bên phải Nguyễn Văn N đang mặc: 01 gói nylong không màu được hàn kín hai đầu, kích thước khoảng 1cm x 3,0cm, bên trong chứa nhiều tinh thể màu trắng (kí hiệu Mẫu M khi giám định). Năm khai nhận là ma túy đá, Năm tàng trữ để sử dụng.
- - 01 chiếc xe mô tô hiệu DREAM, biển số 86C1-28421, màu đen.
Tại kết luận giám định số 1381/KL-KTHS ngày 30/10/2024của Phòng K - Công an tỉnh B kết luận:
Mẫu M gửi giám định có khối lượng 0,1656 gam là Methamphetamine.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định của Phòng K - Công an tỉnh B nêu trên.
Bản cáo trạng số 13/CT – VKSPT-HS ngày 17 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự;
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Nguyễn Văn N đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:
Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N với mức hình phạt từ 18 tháng đến 24 tháng tù.
Về xử lý vật chứng:
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự tuyên:
2
Tịch thu tiêu hủy đối với 01 gói nhựa màu trắng đã cắt lấy mẫu và 0,1039 gam mẫu vật M còn lại sau giám định, được niêm phong trong phong bì số 1381, có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T1 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B là vật thuộc loại nhà nước cấm lưu hành.
Lời nói sau cùng của bị cáo Nguyễn Văn N: Bị cáo biết hành vi tàng trữ ma túy là vi phạm pháp luật mong Hội đồng xét xử khoan hồng giảm nhẹ hình phạt, bị cáo hứa sẽ học tập rèn luyện để trở thành người có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố P, của Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về chứng cứ buộc tội bị cáo: Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội. Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra Công an thành phố P và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng 20 giờ 36 phút ngày 22/10/2024 tại đường T - P thuộc khu phố F, phường B, thành phố P, bị cáo Nguyễn Văn N đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,1656 gam ma túy là Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng thì bị Tổ công tác thuộc Đội Cảnh sát giao thông trật tự - Công an thành phố P phối hợp với Công an phường B kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang.
Xét thấy Nguyễn Văn N là người có năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức đầy đủ về hành vi của mình đối với xã hội. Bị cáo nhận thức được những tác hại nguy hiểm của ma túy đối với sức khỏe con người, đối với cộng đồng xã hội và việc tàng trữ chất ma túy là trái pháp luật. Nhà nước nghiêm cấm và xử lý nghiêm khắc đối với mọi hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng bị cáo đã xem thường pháp luật, đã tàng trữ ma túy bất chấp hậu quả. Do đó đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Văn N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo cho thấy: Hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của nhà nước về chất ma túy mà còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương, thể hiện tính nguy hiểm cao cho xã hội. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự, nhưng bị cáo có nhân thân xấu. Vì vậy cần xử phạt bị cáo một
3
mức án nghiêm, tương xứng với tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội và cũng là để giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.
Tuy nhiên khi quyết định hình phạt, xét thấy tại phiên tòa bị cáo bị cáo thành khẩn khai báo nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4] Về xử lý vật chứng:
Đối với số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 1381, có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T1 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B là vật thuộc loại nhà nước cấm lưu hành. Do vậy, cần áp dụng quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự quyết định tịch thu tiêu hủy.
Đối với chiếc xe mô tô hiệu DREAM, biển số 86C1-28421, số khung VEXDCG13EX000385, số máy LF1P50FMG330002348, bị cáo N khai nhận mượn xe trên của bạn để đi công việc nên Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho bị cáo N, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn N 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/10/2024.
Về xử lý vật chứng:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự tuyên:
Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 1381, có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T1 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B.
Vật chứng ghi trên hiện do Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 103 ngày 21 tháng 01 năm 2025.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án và danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết, tuyên buộc bị cáo Nguyễn Văn N phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 26-02-2025).
4
|
Nơi nhận
|
TM – HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Thị Ái Quyên |
5
Bản án số 79/2025/HSST ngày 26/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 79/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Năm - "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
