Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 79/2025/HS-ST

Ngày: 19-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Tăng Thị Nguyệt

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Đăng Vạn
  2. Ông Nguyễn Văn Phòng

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên toà: Ông Trần Ngọc Nam – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 02 năm 2025, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 06/2025/TLST-HS ngày 06 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Trần Văn C

sinh ngày: 15/11/1991 tại tỉnh Tây Ninh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú (chỗ ở): Tổ dân phố B' Nông Rết, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Không; con ông Trần Văn L, sinh năm: 1970 và bà Nguyễn Thị Kim T, sinh năm: 1967; gia đình bị cáo có 04 anh em, bị cáo là con thứ 3 trong gia đình; Vợ: Cil K' Glang, sinh năm: 1993; con: Cil Trần Thiên H, sinh năm: 2022; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 16/7/2024; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại:

Chị Nguyễn Hoàng Đình P, sinh năm: 1994; địa chỉ: A Quốc lộ A cũ, khu phố E, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Phạm Thị H1, sinh năm: 1994; địa chỉ: A Quốc lộ A cũ, khu phố E, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.

Người làm chứng:

  • Anh Phạm Văn Đ, sinh năm: 2002, địa chỉ: Nhà không số (cạnh nhà số F) Quốc lộ A, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.
  • Anh Phạm Đặng Anh V, sinh năm: 1997, địa chỉ: Nhà không số (cạnh nhà số F) Quốc lộ A, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 16/7/2024, Trần Văn C đi bộ đến trước nhà số F, Quốc lộ A, Khu phố D, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, phát hiện chị Nguyễn Hoàng Đình P đang đi bộ trên lề đường, trên tay phải chị P cầm 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone XS Max, do không có tiền tiêu xài nên lúc này C nảy sinh ý định chiếm đoạt, C đi bộ lên song song bên phải với chị P và C dùng tay trái giật lấy điện thoại của chị P rồi chạy ngược lại về hướng cầu H, chị P tri hô “Cướp, cướp”. Lúc này anh Phạm Văn Đ và anh Phạm Đăng Anh V1 (là anh trai của Phạm Văn Đ) đang đứng gần đó nghe tiếng tri hô của chị P nên đuổi theo C, C chạy được khoảng 100m thì ném lại điện thoại và bị anh Đ, anh V1 đuổi kịp bắt giữ C giao cho Công an phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Trần Văn C đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Kết quả xét nghiệm chất ma tuý của Trần Văn C, kết quả: Âm tính.

Bản kết luận định giá tài sản số 356-KV3/KL-HĐĐGTS ngày 05/8/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố T, kết luận: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone XS Max dung lượng 256Gb, màu trắng có giá 5.133.000 đồng (Năm triệu một trăm ba mươi ba nghìn đồng).

Vật chứng vụ án:

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone XS Max dung lượng 256Gb, màu trắng. Ngày 10/12/2024 đã trả lại cho bị hại Nguyễn Hoàng Đình P.

Về trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Hoàng Đình P đã nhận lại được tài sản, không có yêu cầu gì khác.

Cáo trạng số 46/CT-VKSTPTĐ ngày 03/01/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Trần Văn C về tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Trần Văn C từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”; Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì; Vật chứng vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã xử lý xong; Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã nêu, có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo sớm được trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố T, của Kiểm sát viên và Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức trong quá trình điều tra truy tố là thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về thủ tục tố tụng: Bị hại, người có quyền, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa. Xét việc vắng mặt của bị hại, người có quyền, nghĩa vụ liên quan không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án và quyền lợi của họ nên Tòa án vẫn tiến hành mở phiên tòa vắng mặt bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Xét, quá trình tố tụng, bị cáo Trần Văn C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo đều thống nhất với nhau trong các Bản tự khai, Bản tường trình; Biên bản ghi lời khai; Biên bản hỏi cung bị can và phù hợp với: Biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm; Bản kết luận định giá tài sản số 356-KV3/KL-HĐĐGTS ngày 05/8/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố T. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại người làm chứng cùng các cùng các tài liệu, tang vật chứng thu giữ được có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ căn cứ kết luận:

Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 16/7/2024, trước nhà số F, Quốc lộ A, Khu phố D, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, Trần Văn C đã thực hiện hành vi dùng tay giật 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone XS Max dung lượng 256Gb, màu trắng có giá trị 5.133.000 đồng của chị Nguyễn Hoàng Đình P khi chị P đang cầm điện thoại đi bộ trên lề đường, rồi nhanh chóng tẩu thoát. Hành vi trên của Trần Văn C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

[3] Lời khai của bị cáo đã thống nhất với tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát đã truy tố và luận tội đối với bị cáo. Như vậy, nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đối với Trần Văn C là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Đánh giá tính chất vụ án: Bị cáo C là thanh niên, có sức khỏe, biết rõ việc chiếm đoạt tài sản của người khác là sai trái và bị pháp luật trừng trị nhưng do tham lam, muốn có tiền để tiêu xài, coi thường pháp luật nên bị cáo đã lợi dụng sơ hở của chủ tài sản nhanh chóng giật lấy tài sản của chủ tài sản và tẩu thoát; Điều đó thể hiện ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo rất kém. Hành vi cướp giật tài sản do bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản hợp pháp của cá nhân được pháp luật bảo vệ và ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần phải xử phạt nghiêm, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ để trừng trị, giáo dục, cải tạo bị cáo thành người tốt có ích cho bản thân, gia đình và xã hội đồng thời góp phần răn đe phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, cũng xét, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm cho bị cáo một phần trách nhiệm hình sự mà lẽ ra bị cáo phải chịu.

[5] Vật chứng vụ án: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone XS Max dung lượng 256Gb, màu trắng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trả lại cho bị hại Nguyễn Hoàng Đình P là có căn cứ (Bút lục 25).

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không xem xét (Bút lục 24).

[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Trần Văn C phạm tội “Cướp giật tài sản”.
  2. Căn cứ khoản 1 Điều 171; điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:

    Xử phạt bị cáo Trần Văn C 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/7/2024.

  3. Căn cứ Điều 135; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2021; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội:
    • - Buộc bị cáo Trần Văn C nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000 (hai trăm nghìn) đồng, nộp tại Cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền;
  4. Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2021:

    Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được thực hiện quyền kháng cáo bản án. Trường hợp vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Tòa án NDTP.HCM;
  • - VKSND TP. HCM;
  • - VKSND TP. Thủ Đức;
  • - Công an TP. Thủ Đức;
  • - Chi cục THADS TP. Thủ Đức;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tăng Thị Nguyệt

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 79/2025/HS-ST ngày 19/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cướp giật tài sản

  • Số bản án: 79/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: hình phạt tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger