Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 79/2025/DS-PT

Ngày: 10/02/2025

V/v: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Đức.

Các Thẩm phán: Ông Lê Văn Phận;

Ông Huỳnh Ngọc Dũng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Duyên – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Ngân – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 523/2024/TLPT-DS ngày 13 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng vay tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 132/2024/DS-ST ngày 09 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 5110/2024/QĐXXPT-DS ngày 23 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 171/2025/QĐPT-DS ngày 10 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

Đỗ Kim P, sinh năm 1965; (Có mặt)

Địa chỉ: E ấp P, xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre.

- Bị đơn:

Trần Yến K, sinh năm 1979;

Địa chỉ: B, Khu phố C, Phường G, thành phố B, tỉnh Bến Tre

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Nguyễn Bá K1, sinh năm 1983;

Địa chỉ: Số B, đường D, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt)

Người kháng cáo: Đỗ Kim P là nguyên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm;

Theo đơn khởi kiện nguyên đơn Đỗ Kim P1 bày:

Do có quen biết và cần tiền nên bà P có vay của bà K30 tiền là 2.200.000.000 đồng với lãi suất là 3%/tháng, tài sản đảm bảo cho khoản vay này là thửa đất số 905, tờ bản đồ số 5, xã H, huyện C, tỉnh Bến Trecó diện tích 975,2 m² do bà P2 tên quyền sử dụng đất, trên đất có nhà của bà P3 dãy nhà trọ để kinh doanh.

Vào ngày 9/10/2021, bà P3 bà K4 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại Phòng C, giá chuyển nhượng trong hợp đồng là 850.000.000 đồng nhằm che giấu hợp đồng vay giữa hai bên. Đồng thời, hai bên có ký “Giấy giao nhận tiền” cùng ngày 9/10/2021 với nội dung bà K2 giao cho bà P 2.200.000.000 đồng. Ngoài ra, bà Trần Yến K2 ghi: đồng ý cho bà P4 lãi 3% mỗi tháng từ ngày 9-16, nếu trễ quá 30 ngày sẽ sang tên sổ và đồng ý cho chị P5 kêu bán tài sản để trả lại tiền.

Bà P4 lãi 12 tháng (từ 11/2021 đến 11/2022), mỗi tháng là 66.000.000 đồng bằng tiền mặt, tổng số tiền lãi là 786.000.000 đồng. Do điều kiện làm ăn khó khăn, chưa trả lãi từ tháng 12/2021 nên bà K2 nhắn tin là sẽ sang tên thửa đất số 905, tờ bản đồ số 5, xã H, huyện C, tỉnh Bến Tretheo hợp đồng chuyển nhượng đã ký qua tên bà. Vào thời điểm khởi kiện, do biết bà K3 làm thủ tục sang tên quyền sử dụng đất theo hợp đồng đã ký nên bà P6 kiện với 02 yêu cầu cụ thể:

  • - Hủy hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ giữa Đỗ Kim P7 bà Trần Yến K4 ngày 9/10/2021, công chứng tại Văn Phòng C1số công chứng 1425, quyển số 01/2021 TP/CC-SCC/HĐGD tại thửa đất số 905, tờ bản đồ số 5, xã H, huyện C, tỉnh Bến Trecó diện tích 975,2 m².
  • - Bà P8 ý trả số tiền đã vay là 2.200.000.000 đồng, đề nghị Tòa án xem xét lại tiền lãi đã đóng vượt mức qui định để trừ vào số tiền gốc (số tiền đã thực đóng lãi là: 2.200.000.000₫ x 3%/tháng = 66.000.000₫ x 12 tháng = 786.000.000₫).

Theo bảng tự khai ngày 16/5/2023, nguyên đơn Đỗ Kim P1 bày bổ sung các nội dung sau:

Số tiền vay là 2.200.000.000đồng bà có đóng lãi đầu khi nhận tiền vay là 8%, số tiền lãi bà K5 trước là 176.000.000 đồng, những tháng tiếp theo bắt đầu đóng lãi với mức lãi suất là 3%/tháng.

Sau đó, bà có vay tiếp của bà K6 lần tiền để mở rộng việc kinh doanh, cụ thể như sau:

  • + Ngày 16/11/2021, vay của bà K30 tiền là 500.000.000 đồng, phí đầu 5% là 25.000.000 đồng, viết biên nhận vay tiền 500.000.000 đồng cộng vào nợ cũ số tiền ghi nợ là 2.700.000.000 đồng, đóng lãi 3%/tháng.
  • + Ngày 30/11/2021, vay tiếp của bà K30 tiền là 300.000.000 đồng, phí đầu 5% là 15.000.000 đồng, viết biên nhận vay tiền 300.000.000 đồng cộng vào nợ cũ số tiền ghi nợ là 3.000.000.000 đồng, đóng lãi 3% /tháng.
  • + Ngày 12/05/2022, vay lần cuối cùng của bà K30 tiền 400.000.000 đồng, phí đầu 5% là 20.000.000 đồng, viết biên nhận vay tiền 400.000.000 đồng cộng vào nợ cũ số tiền ghi nợ là 3.400.000.000 đồng, đóng lãi 3%/tháng

Như vậy, bà có tất cả bốn lần vay tiền của bà K7 vay có thế chấp đất là 2.200.000.000 đồng với lãi suất 3%/tháng, khoảng vay không thế chấp là 1.200.000.000 đồng, lãi suất 3%/tháng. Các bản gốc của biên nhận vay tiền đều do bà K8.

Do điều kiện khó khăn và đi làm ăn xa không thể trả lãi cho bà K9 tháng 12/2022 nên bà có nhắn tin xin chậm lãi 1 vài tháng thì được bà Nguyễn Thị Ngọc N người đi thu lãi hàng tháng cho bà K10 ý. Bà trễ đóng lãi tháng 12/2022 và tháng 01/2023. Đến tháng 02/2023, bà phát hiện bà K45 sang tên toàn bộ thửa đất của bà.

Việc bà K sang tên thửa đất số 905 là nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản của bà. Nguyên nhân là do tại tờ biên nhận ngày 09/10/2021 bà K45 tự ý ghi vào nội dung “nếu trễ hạn 30 ngày tôi sẽ tự sang sổ”, nội dung này hoàn toàn không phải ý chí của bà, mặt khác bà N người của bà K45 đồng ý cho bà nợ lãi trong khoảng thời gian bà đi thăm người thân ở nước ngoài. Bà chỉ nợ 2.200.000.000 đồng trong khi thửa đất của bà trị giá 10.000.000.000 đồng. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản này của bà K18 có dấu hiệu phạm pháp hình sự nên đề nghị Tòa án chuyển cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B điều tra làm rõ.

Bà Kiến nghị cơ quan có thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà Trần Yến K11 đó cấp lại cho bà Đỗ Kim P và đề nghị trừ thêm số tiền phí đầu 8% là 176.000.000 đồng của số tiền vay 2.200.000.000 đồng khi xem xét lại số tiền lãi đã đóng. Bà đồng ý trả cho bà K30 tiền gốc vay là 2.200.000.000đồng - 345.912.000 đồng - 176.000.000 đồng = 1.678.088.000 đồng với mức lãi suất là 1,667%/tháng cho đến khi trả hết số tiền vay đã nợ cho bà K

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn Đỗ Kim P9 diện theo ủy quyền của bà P10 bà Nguyễn Thanh L trình bày:

Do phía bà K45 thừa nhận hợp đồng chuyển nhượng thửa đất số 905 là nhằm che giấu cho hợp đồng vay số tiền 2.200.000.000 đồng và đã rút lại yêu cầu phản tố về việc yêu cầu bà P25 thửa đất này nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giá trị pháp lý của hợp đồng chuyển nhượng ngày 09/10/2021 đối với thửa đất số 905. Yêu cầu bà K44 trả lại cho bà PGiấy chứng nhận quyền sử dụng đúng như hiện trạng giao dịch ngày 09/10/2024.

Số tiền vay 2.200.000.000 đồng bà P11 trả lãi đầu 8% là 176.000.000 đồng, sau đó tiếp tục đóng lãi với mức lãi suất 3% mỗi tháng. Trước đây bà P12 đóng lãi từ tháng 11/2021 đến tháng 11/2023 là 786.000.000 đồng và đề nghị tính lại tiền lãi với mức lãi suất 1,66%/tháng. Riêng phiên tòa ngày 09/10/2024, bà P13 định đã đóng lãi đến tháng 3/2022 với tổng số tiền là 792.000.000 đồng, đề nghị tính lại tiền lãi với mức lãi suất 0.83%/tháng. Không đồng ý tiếp tục đóng lãi từ tháng 02/2023 đến khi xét xử do thời điểm này bà K45 tự ý sang tên thửa đất số 905 mà không có sự đồng ý của bà P

Đối với số tiền vay tổng cộng là 1.200.000.000 đồng, bà P14 tiền vay từ bà K12 nhận tiền bà có viết biên nhận cho bà K13 bà đã đóng lãi cho bà Nguyễn Thị Ngọc N1 không có biên nhận về việc đóng lãi. Tuy nhiên, khi nhận tiền lãi bà N2 xác nhận bằng tin nhắn SMS thông qua số điện thoại 0888.808.xxx và bà K14 nhắn bằng tin nhắn Zalo, cụ thể như sau:

  • + Ngày 16/11/2021, vay 500.000.000 đồng, phí đầu 5% là 25.000.000 đồng sau đó đóng lãi 3%/tháng, thời gian đóng lãi đến tháng 01.2023 là 180.000.000 đồng.
  • + Ngày 30/11/2021, vay 300.000.000 đồng, phí đầu 5% là 15.000.000 đồng, sau đó đóng lãi 3% /tháng, thời gian đóng lãi đến tháng 01.2023 là 108.000.000 đồng.
  • + Ngày 12/05/2022, vay 400.000.000 đồng, phí đầu 5% là 20.000.000 đồng, sau đó đóng lãi 3%/tháng, thời gian đóng lãi đến tháng 01.2023 là 72.000.000 đồng

Tổng số tiền vốn vay là 1.200.000.000 đồng bà P11 trả cho bà N3 tháng 01/2023. Khi trả tiền gốc bà N4 sẽ về gặp bà K15 lại tiền và giao bản chính các biên nhận cho bà P15 sau đó không thực hiện. Bà Pđề nghị bà K16 Hội đồng xét xử phải triệu tập bà Nguyễn Thị Ngọc N5 phiên tòa để bà được đối chất với bà Nó rõ số tiền vốn và lãi mà bà đã trả cho bà N7 thời đề nghị bà K44 giao nộp bản chính các biên nhận mà bà đã nộp bản photo vì bản chính do bà K8. Trường hợp bà K17 giao nộp được bản chính thì bà không thừa nhận và đề nghị Hội đồng xét xử bác yêu cầu phản tố này của bà K

Tại đơn yêu cầu phản tố và đơn bổ sung yêu cầu phản tố, biên bản hòa giải và tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Trần Yến K18 ông Nguyễn B K1trình bày:

Ngày 09/10/2021, bà K2 nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, nhà trên đất và các tài sản gắn liền với thửa đất số 905, tờ bản đồ 05, tọa lạc tại xã H, huyện C, tỉnh Bến Trecủa bà Đỗ Kim P7 giá là 2.200.000.000đ; điều kiện chuyển nhượng như sau: bà P18 gởi tiền lãi từ ngày 9 đến ngày 16 tây hàng tháng, nếu trễ quá 30 ngày thì bà P8 ý cho bà K sang tên tài sản và nếu bà P16 lo bán tài sản để trả tiền thì phải giao tài sản, không khiếu nại về sau. Toàn bộ nội dung thỏa thuận chuyển nhượng như trên và việc bà K đã thanh toán đủ tiền chuyển nhượng đều được bà P17 tên xác nhận tại Giấy giao nhận tiền.

Từ sau khi nhận tiền chuyển nhượng, bà P16 gởi tiền lãi đầy đủ và đúng hạn như đã cam kết. Đến đầu năm 2023, nhận thấy điều kiện chuyển nhượng đã được thỏa mãn nên bà K tiến hành sang tên tài sản và đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bcấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DH 385595, số vào sổ cấp GCN: CS19922 vào ngày 07/02/2023.

Do bà P16 bàn giao tài sản mà khởi kiện tôi đến Tòa án yêu cầu hủy hợp đồng nên bà K19 tố yêu cầu bà Đỗ Kim P18 bàn giao thửa đất số 905, tờ bản đồ số 05, tại xã H, huyện C, tỉnh Bến Trevà toàn bộ tài sản gắn liền với thửa đất này.

Ngoài ra, bà K còn cho bà P19 nhiều lần tiền. Có những lần không làm giấy tờ và có những lần có làm giấy tờ nhưng hiện nay đang bị thất lạc chưa tìm được. Trên cơ sở lời thừa nhận của bà P20 bản tự khai ngày 16/5/2023 bà K thống nhất có cho bà P19 tiền lần lượt như sau: ngày 16/11/2021 cho vay 500.000.000 đồng; ngày 30/11/2021 cho vay 300.000.000 đồng và ngày 12/5/2022 cho vay 400.000.000 đồng, vay bằng tiền mặt, không làm giấy tờ và thỏa thuận lãi suất là 3%/tháng. Tuy nhiên, bà K3 nhận bất kỳ khoản tiền gốc, tiền lãi nào từ bà P21 với các khoản vay trên và cũng không có việc trừ tiền vay ban đầu như lời bà P1 bày.

Bà K20 cầu bà Đỗ Kim P18 trả số tiền vay là 1.200.000.000 đồng và tiền lãi tạm tính đến ngày 22/5/2023 là 321.863.014đ, tổng cộng là 1.521.863.014 đồng và tiếp tục tính lãi đến ngày vụ án được đưa ra xét xử với mức lãi suất 20%/năm.

Tại các phiên tòa ngày 01/7/2024, 03/10/2024 và 09/10/2024, ông K1đồng ý hủy hợp đồng, rút lại yêu cầu phản tố tiếp tục thực hiện hợp đồng. Yêu cầu bà K21 lại số tiền vốn vay là 2.200.000.000 đồng và lãi suất 1,66%/tháng từ ngày vay 09/10/2021 đến khi xét xử. Thừa nhận đã nhận 786.000.000 đồng tiền lãi và trừ vào số tiền lãi yêu cầu, không đồng ý tính lại tiền lãi với mức lãi suất 0,83%/tháng.

Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của ông Trần Tuấn T bà H Trương Như L1trình bày:

Trên thửa đất số 905 có 03 căn nhà của ông T, bà P, anh chị của bà P3 khu nhà trọ do bà P22 lý với mục đích kinh doanh. Ông T có liên quan trong vụ án nêu trên do biết ông T cần vốn xoay sở công việc làm ăn nên bà K2 giới thiệu ông T vay tiền tại Ngân hàng E

Đến khoảng tháng 6/2023 Ngân hàng E1 liên hệ với ông T2 báo về việc bà K22 vay tại Ngân hàng nhưng không có điều kiện trả tiền lãi, tiền gốc. Quá trình làm việc với bà K14 Ngân hàng biết việc bà P27 vay của bà K2.200.000.000 đồng, thế chấp bằng quyền sử dụng thửa đất số 905 và thỏa thuận vay thêm tổng số tiền là 1.200.000.000 đồng không liên quan đến thửa đất đất thế chấp; tổng số tiền bà P11 vay của bà K18 3.400.000.000 đồng. Sau khi Ngân hàng thể hiện thiện ý muốn tạo điều kiện cho ông T thay bà P trả dần số tiền mà bà P19 của bà K23 chuộc lại sổ đất thì vào ngày 05/7/2023, Ngân hàng Eđại diện là ông Trịnh Thanh S(Giám đốc Ngân hàng) và ông Trần M K2(Phó Giám đốc Ngân hàng) với ông T14 buổi làm việc thỏa thuận bà K24 chuyển nhượng thửa đất 905 lại cho ông T với giá 2.200.000.000 đồng.

Ông T đã đặt cọc số tiền chuyển nhượng thửa đất này, đồng thời ông T tiếp tục chuyển vào các tài khoản do bà K23 ông S1 ngân hàng chỉ định, số tiền này theo thỏa thuận bà K24 trừ lại cho ông T khi ký kết chuyển nhượng sang trên qua ông T3 Tổng số tiền đã chuyển tổng cộng là 546.100.000 đồng qua tài khoản số [...] mang tên chủ tài khoản là Trần Minh K25(Ngân hàng TMCP N17 như sau:

  • + Ngày 14/6/2023, đã chuyển cho ông K2số tiền là 62.000.000 đồng.
  • + Ngày 05/7/2023, đã chuyển cho ông K26 lần tiền với tổng số tiền là 110.000.000 đồng.
  • + Ngày 07/8/2023, đã chuyển cho ông K2số tiền là 110.000.000 đồng.
  • + Ngày 07/9/2023, đã chuyển cho ông K2số tiền là 110.000.000 đồng.
  • + Ngày 12/10/2023, đã chuyển cho ông K2số tiền là 110.000.000 đồng.
  • + Ngày 12/01/2024, đã nhờ ông Trần Minh T4(nhân viên Ngân hàng TMCN17 N2chuyển khoản cho bà K30 tiền là 44.100.000 đồng.

Hiện tại, các bên không thực hiện được việc bà K31 sổ qua ông T sau đó ông T sẽ vay ngân hàng để trả số tiền 2.200.000.000 đồng. Ông T không liên quan đến việc vay mượn tiền giữa bà K23 bà P23 chỉ là người được Ngân hàng giới thiệu mua lại thửa đất của mẹ ông nhưng do thỏa thuận không thành nên bà K23 những người liên quan đến thỏa thuận ngày 05/7/2023 phải có trách nhiệm liên đới trong việc hoàn trả số tiên trên cho ông.

Trong thời gian Tòa án giải quyết vụ án, do bận công tác, thường xuyên vắng nhà và đi học ở nước ngoài thời gian dài nên không cập nhật được thời gian Tòa án giải quyết vụ án. Hiện tại ông T6 có mặt ở Việt Nam và được biết Tòa án chuẩn bị xét xử vụ án nhưng chưa nộp được đơn yêu cầu. Việc ông T5 thực hiện được quyền yêu cầu sẽ làm cho việc giải quyết vụ án không được toàn diện. Khi bà K27 trả lại thửa đất 905 cho bà P24 sẽ không còn tài sản để đảm bảo hoàn trả số tiền đã nhận của ông T3

Ông T yêu cầu Tòa án Nhân Dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre xem xét đưa ông vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Đồng thời, ông có yêu cầu độc lập buộc bà T18 T1phải liên đới hoàn trả số tiền đã nhận là 546.100.000 đồng và tiền lãi với mức lãi suất 0,83%/tháng, tạm tính từ ngày 12/01/2024 đến ngày nộp đơn yêu cầu độc lập là 08 tháng với số tiền là 546.100.000đồng x 0,83% x 08 tháng = 36.261.040 đồng, yêu cầu tiếp tục tính lãi cho đến ngày Tòa án xét xử vụ án.

Sau khi hòa giải không thành, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 132/2024/DS-ST ngày 09 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre đã tuyên:

Căn cứ:

  • - Các Điều 26, 35, 40, 72, 147, 201, 217 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
  • - Các Điều 117, 124, 131, 138, 463, 468 Bộ Luật dân sự năm 2015;
  • - Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
  • - Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
  1. Đình chỉ yêu cầu phản tố của bà Trần Yến K28 việc buộc bà Đỗ Kim P25 thửa đất số 905, tờ bản đồ số 5, tại xã H, huyện C, tỉnh Bến Trecùng toàn bộ tài sản trên thửa đất.

2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Kim P26 việc yêu cầu tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu.

Tuyên: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký ngày 09/10/2021 giữa bà Đỗ Kim P7 bà Trần Yến K29 với thửa đất số 905, tờ bản đồ số 5, tại xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre vô hiệu.

- Buộc bà Đỗ Kim P27 trách nhiệm trả bà Trần Yến K30 tiền vốn vay là 2.200.000.000 (Hai tỷ hai trăm triệu) đồng và tiền lãi là 528.720.000 (Năm trăm hai mươi tám triệu bảy trăm hai mươi ngàn) đồng.

3. Kiến nghị cơ quan có thẩm quyền điều chỉnh Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 905, tờ bản đồ số 5, tại xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre từ bà Trần Yến K31 bà Đỗ Kim P

4. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Trần Yến K28 việc yêu cầu bà Đỗ Kim P27 trách nhiệm trả tiền vốn vay là 1.200.000.000 (Một tỷ hai trăm triệu) đồng và tiền lãi.

- Buộc bà Đỗ Kim P27 trách nhiệm trả bà Trần Yến K30 tiền vốn vay là 500.000.000 (Năm trăm triệu) đồng và tiền lãi là 288.563.000 (Hai trăm tám mươi tám triệu năm trăm sáu mươi ba ngàn) đồng.

- Buộc bà Đỗ Kim P27 trách nhiệm trả bà Trần Yến K30 tiền vốn vay là 300.000.000 (Ba trăm triệu) đồng và tiền lãi là 170.814.000 (Một trăm bảy mươi triệu tám trăm mười bốn ngàn) đồng.

- Buộc bà Đỗ Kim P27 trách nhiệm trả bà Trần Yến K30 tiền vốn vay là 400.000.000 (Bốn trăm triệu) đồng và tiền lãi là 191.895.000 (Một trăm chín mươi mốt triệu tám trăm chín mươi lăm ngàn) đồng.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, lãi chậm thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 22/10/2024, bà Đỗ Kim P có đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa một phần bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn bà Đỗ Kim P1 bày: Nguyên đơn thay đổi kháng cáo, yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm huỷ bản án sơ thẩm để xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm, cụ thể như sau:

  • - Bà P34 đồng ý trả số tiền nợ gốc của khoản vay ngày 09/10/2021 là 1.417.988.000 đồng. Do bà xác định theo sự thống nhất chốt nợ của các bên tại biên bản hoà giải ngày 07/4/2023 của Toà án nhân dân huyện Châu Thành thì số tiền nợ gốc đã chốt là 1.854.088.000 đồng, sau đó do ông Trần Tuấn T6 trả nợ thay cho bà P41 tiền là 436.100.000 đồng nên phải cấn trừ số tiền 436.100.000 đồng này vào nợ gốc. Số tiền nợ gốc còn lại là: 1.854.088.000 đồng - 436.100.000 đồng = 1.417.988.000 đồng, nên bà không đồng ý trả số tiền gốc là 2.200.000.000 đồng. Bà chỉ đồng ý tính lãi số tiền gốc 1.417.988.000 đồng nêu trên sau khi bà Trần Yến K31 tên thửa đất 905 lại cho bà. Bà yêu cầu trừ số tiền 436.100.000 đồng mà ông T7 nợ thay cho bà vào số tiền vốn gốc như trên.
  • - Bà P28 cầu tính lại số tiền lãi của số tiền gốc 1.200.000.000 đồng mà bà K45 nhận của bà đến hết tháng 12/2023 thông qua bà Nguyễn Thị Ngọc N8.
  • - Bà P yêu cầu bà K32 nộp các bản gốc giấy mượn tiền số tiền 3.400.000.000 đồng.

Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn là ông Nguyễn B K1trình bày: Bị đơn không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, đề nghị Toà án cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

  • - Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng đã tuân theo đúng quy định của pháp luật tố tụng. Những người tham gia tố tụng thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ quy định của pháp luật tố tụng.
  • - Về nội dung: Căn cứ quy định khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn Đỗ Kim P; giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của các đương sự, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, xét kháng cáo của nguyên đơn Đỗ Kim P, đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn bà Đỗ Kim P27 kháng cáo, đã thực hiện các thủ tục kháng cáo hợp lệ và trong thời hạn luật định nên yêu cầu kháng cáo được xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2] Xét kháng cáo: Nguyên đơn bà Đỗ Kim P kháng cáo yêu cầu giải quyết những nội dung như sau:

  • - Bà P34 đồng ý trả số tiền nợ gốc của khoản vay ngày 09/10/2021 là 1.417.988.000 đồng. Do bà cho rằng số tiền nợ gốc các bên đã chốt tại biên bản hoà giải ngày 07/4/2023 của Toà án nhân dân huyện Châu Thành là 1.854.088.000 đồng, sau khi cấn trừ số tiền 436.100.000 đồng mà ông Trần Tuấn T7 thay cho bà P24 số nợ gốc còn lại là 1.417.988.000 đồng nên bà không đồng ý trả số tiền gốc là 2.200.000.000 đồng. Bà đồng ý tính lãi số tiền gốc 1.417.988.000 đồng nêu trên sau khi bà Trần Yến K31 tên thửa đất 905 lại cho bà. Bà yêu cầu trừ số tiền 436.100.000 đồng mà ông T7 nợ thay cho bà vào số tiền vốn gốc như trên.
  • - Bà P28 cầu tính lại số tiền lãi của số tiền gốc 1.200.000.000 đồng mà bà K45 nhận của bà đến hết tháng 12/2023 thông qua bà Nguyễn Thị Ngọc N8
  • - Bà P28 cầu bà K32 nộp các bản gốc giấy mượn tiền số tiền 3.400.000.000 đồng.

Hội đồng xét xử xét thấy:

[2.1] Đối với khoản tiền vay 2.200.000.000 đồng bà P19 của bà KCác bên đương sự thống nhất thừa nhận bà P có vay của bà K30 tiền là 2.200.000.000 đồng với lãi suất 3%/tháng, các bên ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 905, tờ bản đồ số 5, xã H, huyện C, tỉnh Bến Trediện tích 975,2 m² của bà P37 bà K33 làm tài sản đảm bảo cho khoản vay này. Đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết, các bên đều thừa nhận mục đích và nội dung của hợp đồng nhằm che giấu hợp đồng vay tài sản số tiền 2.200.000.000 đồng, do hợp đồng chuyển nhượng được xác lập giả tạo nhằm che giấu một hợp đồng khác nên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa 905 giữa bà P3 bà K vô hiệu. Căn cứ quy định tại Điều 124 Bộ luật Dân sự năm 2015: “Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch dân sự khác thì giao dịch dân sự giả tạo vô hiệu, còn giao dịch dân sự bị che giấu vẫn có hiệu lực” nên hợp đồng vay tài sản ngày 09/10/2021 đối với số tiền vay 2.200.000.000 đồng có hiệu lực pháp luật nên nhận định của Toà án cấp sơ thẩm là đúng quy định.

Tại phiên toà phúc thẩm, bà P29 đổi yêu cầu kháng cáo, bà chỉ đồng ý trả số tiền vay gốc còn nợ của khoản vay này là 1.417.988.000 đồng do bà cho rằng các bên đã chốt số nợ gốc là 1.854.088.000 đồng tại biên bản hoà giải ngày 07/4/2023 của Toà án nhân dân huyện Châu Thành đồng thời bà cấn trừ số tiền 436.100.000 đồng mà ông T trả nợ thay bà nên xác định số nợ gốc còn lại là: 1.854.088.000 đồng - 436.100.000 đồng = 1.417.988.000 đồng. Bà chỉ đồng ý trả số nợ gốc là 1.417.988.000 đồng, không đồng ý trả nợ gốc là 2.200.000.000 đồng, tuy nhiên người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn không đồng ý với yêu cầu của bà P30 thấy, việc tại toà bà P29 đổi yêu cầu kháng cáo đối với số tiền nợ gốc còn lại của khoản vay ngày 09/10/2021 là vượt quá phạm vi yêu cầu kháng cáo ban đầu nên căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 284 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử không xem xét.

Các đương sự đều thống nhất đây là khoản vay có lãi với lãi suất 3%/tháng, các bên không có thoả thuận về thời hạn vay nên là khoản vay không kỳ hạn. Cả hai bên đều không có tài liệu chứng cứ chứng minh cho việc trả lãi, tuy nhiên bà K34 nhận tổng số tiền lãi bà đã nhận của bà P10 786.000.000 đồng và đồng ý tính lãi với lãi suất 1,66%/tháng. Tại cấp sơ thẩm, bà P28 cầu áp dụng lãi suất 0.83%/tháng. Căn cứ khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự, Điều 5 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm thì mức lãi suất áp dụng đối với khoản vay trên là 20%/năm tức 1,66%/tháng. Bà K20 cầu tính lãi đối với số tiền vay 2.200.000.000 đồng kể từ ngày vay 09/10/2021 cho đến ngày xét xử sơ thẩm, căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 469 Bộ luật dân sự, đối với hợp đồng vay không kỳ hạn và có lãi thì bên cho vay được trả lãi đến thời điểm nhận lại tài sản, do đó yêu cầu tính lãi của khoản tiền vay từ ngày vay 09/10/2021 cho đến ngày xét xử sơ thẩm (09/10/2024) của bà K18 có căn cứ nên được Toà án cấp sơ thẩm chấp nhận là đúng quy định.

Tổng số tiền lãi theo quy định được tính từ ngày 09/10/2021 cho đến ngày 09/10/2024 (36 tháng), lãi suất 1,66%/tháng như sau: 2.200.000.000 đồng x 1,66%/tháng x 36 tháng = 1.314.720.000 đồng. Số tiền lãi đã nhận là 786.000.000 đồng nên bà P18 trả thêm tiền lãi cho bà K35 sau: 1.314.720.000 đồng - 786.000.000 đồng = 528.720.000 đồng. Nhận định của Toà án cấp sơ thẩm là có căn cứ nên bà P kháng cáo yêu cầu chỉ tính lãi số tiền gốc 1.417.988.000 đồng sau khi bà K31 tên thửa đất 905 cho bà P là không có căn cứ chấp nhận do hợp đồng vay số tiền có hiệu lực pháp luật, quyền và nghĩa vụ của bên vay và bên cho vay được xác lập nên các bên phải thực hiện, trong khi đó hợp đồng chuyển nhượng thửa 905 vô hiệu ngay từ lúc ban đầu khi giao kết.

[2.2] Bà P31 định ông Trần Tuấn T6 chuyển trả cho bà K30 tiền 436.100.000 đồng thay cho bà PVề nội dung ngày, tại sơ thẩm, ngày 02/10/2024, người đại diện theo ủy quyền của ông T bà Hà Trương N9 L1nộp đơn yêu cầu tham gia tố tụng đề ngày 02/10/2024 của ông T, nội dung ông T8 cầu được tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án và có yêu cầu độc lập trong vụ án này. Ông T8 cầu bà Trần Yến Kông Trịnh Thanh S2 Trần M K2và ông Trần M Tlcó trách nhiệm liên đới trả số tiền 546.100.000 đồng và tiền lãi với lãi suất 0,83%/tháng từ ngày 12/01/2024 đến ngày nộp đơn (08 tháng) là 36.261.000 đồng và tiếp tục tính lãi đến khi xét xử. Theo ông T9 tiền 546.100.000 đồng ông T6 chuyển cho ông Trần M K2và Trần Minh T4(trong đó số tiền chuyển cho K2là 502.000.000 đồng và số tiền chuyển cho T1là 44.100.000 đồng), đây là tiền đặt cọc để bà K27 nhượng thửa đất 905 cho ông T10 giá 2.200.000.000 đồng, tuy nhiên bà K17 thừa nhận và ông T5 cung cấp được chứng cứ có giá trị pháp lý thể hiện giữa ông T11 bà K2 xác lập giao dịch đặt cọc liên quan đến thửa đất 905. Ông S2 K2ông T1không có nơi cư trú tại huyện C, tỉnh Bến Trevà yêu cầu độc lập của ông T12 sinh sau thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật Tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết yêu cầu độc lập của ông T13 vụ án này là phù hợp.

Tại cấp phúc thẩm, bà P27 cung cấp chứng cứ mới là bản chính đơn yêu cầu xin xác nhận của ông Trần Tuấn T14 nội dung xác nhận với ông Trần M K2và Trịnh Thanh S3 số tiền 436.100.000 đồng mà ông T15 khoản cho ông K2và ông T1là để chuyển cho bà K21 nợ thay cho bà P32 đơn không có chữ ký của ông T có chữ ký, ghi họ tên Trần M K2và Trịnh Thanh S và sau đó bà P11 rút lại chứng cứ này. Tuy nhiên, đơn yêu cầu xin xác nhận do bà P33 cấp không có chữ ký của ông T người đứng đơn, không có chứng thực chữ ký của ông K2và ông S4 nội dung đơn, toàn bộ số tiền trên ông T15 cho ông K2và ông T1không phải chuyển cho bà Kbà P34 cung cấp đơn xác nhận này mà không cung cấp chứng cứ gì chứng minh bà K2 nhận số tiền 436.100.000 đồng trong đơn, tại toà bà K17 thừa nhận việc nhận tiền, do đó không có cơ sở khẳng định bà K2 nhận số tiền trên. Tại cấp sơ thẩm, ông T16 định đây là tiền đặt cọc để nhận chuyển nhượng thửa đất 905 của bà K, nhưng trong đơn do bà P33 cấp xác định đây là khoản tiền ông T7 nợ bà K36 cho bà P10 có sự mâu thuẫn, tuy nhiên, trong đơn không có chữ ký của ông T17 lời trình bày trong đơn không được xem là lời trình bày của ông T Ông Tchuyển tiền cho ông K2và ông T1nhưng ông T1không xác nhận nội dung đơn mà thay vào đó là ông Trịnh Thanh S5 nhận đơn là không phù hợp. Xét đơn yêu cầu xin xác nhận đề ngày 16/10/2024 do bà P33 cấp không đủ cơ sở để xác định ông T7 nợ thay cho bà P35 yêu cầu kháng cáo của bà P31 định số tiền 436.100.000 đồng ông T15 cho ông K2và ông Tllà tiền ông T7 nợ bà K36 cho bà P10 không có cơ sở để chấp nhận.

[2.3] Bà P28 cầu tính lại tiền lãi của số tiền 1.200.000.000 đồng mà bà K45 nhận lãi đến hết tháng 12 năm 2023 thông qua bà NHội đồng xét xử thấy rằng: Bà P36 nhận có vay tiền bà K37 số tiền là 1.200.000.000 đồng, lãi suất 3%/tháng, cụ thể ngày 16/11/2021 vay 500.000.000 đồng; ngày 30/11/2021 vay 300.000.000 đồng; ngày 12/5/2022 vay 400.000.000 đồng. Đây là các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh. Bà P31 định có trả tiền lãi khoản vay này cho bà K38 qua việc đóng cho bà Nguyễn Thị Ngọc N8 như sau:

  • + Ngày 16/11/2021, vay 500.000.000 đồng, phí đầu 5% là 25.000.000 đồng sau đó đóng lãi 3%/tháng, thời gian đóng lãi đến tháng 01.2023 là 180.000.000 đồng.
  • + Ngày 30/11/2021, vay 300.000.000 đồng, phí đầu 5% là 15.000.000 đồng, sau đó đóng lãi 3%/tháng, thời gian đóng lãi đến tháng 01.2023 là 108.000.000 đồng.
  • + Ngày 12/05/2022, vay 400.000.000 đồng, phí đầu 5% là 20.000.000 đồng, sau đó đóng lãi 3%/tháng, thời gian đóng lãi đến tháng 01.2023 là 72.000.000 đồng.

Bà P36 nhận khi trả tiền lãi thì không có lập biên nhận tiền nhưng bà N2 xác nhận bằng tin nhắn SMS thông qua số điện thoại 0888.808.xxx và bà K14 nhắn bằng tin nhắn Zalo. Quá trình giải quyết vụ án, bà K39 định không nhận được bất kỳ khoản tiền lãi nào của bà P3 bà P16 cung cấp được biên nhận tiền lãi, các bản photo ảnh tin nhắn zalo và tin nhắn SMS do bà P33 cấp thì bà K17 thừa nhận và bà P16 chứng minh được nội dung các bản photo ảnh tin nhắn zalo và tin nhắn SMS này có liên quan đến việc trả lãi các khoản vay trên của bà P35 không có cơ sở xem xét lời trình bày của bà PBà P37 rằng việc trả lãi cho bà K40 thực hiện thông qua bà Nguyễn Thị Ngọc N10 bà N11 tiếp nhận tiền lãi của bà. Tuy nhiên, tại cấp sơ thẩm bà P16 cung cấp được nơi cư trú hiện nay của bà N. Tại cấp phúc thẩm, bà P33 cấp bản photo bản án số 28/2024/HS-ST ngày 31/7/2024 của Toà án nhân dân tỉnh Bến Tre đối với Nguyễn Thị Ngọc N12 để xác định bà Nguyễn Thị Ngọc N13 chấp hành bản án trên, tuy nhiên bản photo bản án do bà P33 cấp không thể hiện địa chỉ cư trú của bà Nbà P38 không xác định được địa chỉ cư trú cụ thể hiện nay của bà N14 bản án, cũng không có cơ sở để chứng minh bà Nguyễn Thị N15 N1theo bản án là bà Nguyễn Thị Ngọc N16 các căn cứ trên, Toà án cấp sơ thẩm không xem xét cho lời trình bày của bà P26 việc bà có trả lãi đối với số tiền vay 1.200.000.000 đồng cho bà K18 có cơ sở. Do không có căn cứ xác định việc bà P39 lãi cho bà K41 việc bà Pkháng C yêu cầu tính lại tiền lãi đã đóng của số tiền 1.200.000.000 đồng đến hết tháng 12/2023 là không có căn cứ nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

[2.4] Bà P28 cầu bà K32 bản chính các giấy mượn tiền với tổng số tiền vay là 3.400.000.000 đồng. Về nội dung này, Tòa án cấp sơ thẩm đã ban hành quyết định số 159 ngày 14/11/2023, yêu cầu bà K42 cấp bản chính hoặc bản sao văn bản thể hiện thỏa thuận vay các khoản tiền 500.000.000 đồng; 300.000.000 đồng và 500.000.000 đồng nhưng bà K2 văn bản trình bày bản chính đang bị thất lạc nên chưa thể giao nộp cho Tòa án được, tại phiên toà phúc thẩm, phía bị đơn vẫn xác nhận lời trình bày trên. Xét lời trình bày của các đương sự, căn cứ sự thống nhất thừa nhận nợ của các bên đương sự, Toà án tiến hành giải quyết nội dung vụ án là phù hợp, đúng quy định.

[3] Tại toà phúc thẩm, bà P29 đổi yêu cầu kháng cáo, yêu cầu huỷ bản án sơ thẩm. Xét yêu cầu huỷ bản án sơ thẩm của bà P10 không có cơ sở, đương sự không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[4] Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[5] Tại giai đoạn phúc thẩm, do nguyên đơn là người cao tuổi và có ý kiến trình bày xin được miễn án phí nên được miễn án phí. Do đó, Hội đồng xét xử điều chỉnh lại án phí sơ thẩm, miễn án phí dân sự sơ thẩm cho nguyên đơn theo quy định.

[6] Do yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn không được chấp nhận nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, tuy nhiên do nguyên đơn là người cao tuổi, xin được miễn án phí nên được miễn án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Đỗ Kim P40

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 132/2024/DS-ST ngày 09 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

Căn cứ các điều 26, 35, 40, 72, 147, 201, 217 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; các điều 117, 124, 131, 138, 463, 468 Bộ Luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

  1. Đình chỉ yêu cầu phản tố của bà Trần Yến K28 việc buộc bà Đỗ Kim P25 thửa đất số 905, tờ bản đồ số 5, tại xã H, huyện C, tỉnh Bến Trecùng toàn bộ tài sản trên thửa đất.
  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Kim P26 việc yêu cầu tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu.

- Tuyên Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký ngày 09/10/2021 giữa bà Đỗ Kim P7 bà Trần Yến K29 với thửa đất số 905, tờ bản đồ số 5, toạ lạc tại xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre vô hiệu.

- Buộc bà Đỗ Kim P27 trách nhiệm trả bà Trần Yến K30 tiền vốn vay là 2.200.000.000đ (hai tỷ hai trăm triệu đồng) và tiền lãi là 528.720.000đ (năm trăm hai mươi tám triệu bảy trăm hai mươi nghìn đồng).

3. Kiến nghị cơ quan có thẩm quyền điều chỉnh Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 905, tờ bản đồ số 5, toạ lạc tại xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre từ bà Trần Yến K31 bà Đỗ Kim P

4. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Trần Yến K28 việc yêu cầu bà Đỗ Kim P27 trách nhiệm trả số tiền vốn vay là 1.200.000.000 đ (một tỷ hai trăm triệu đồng) và tiền lãi, cụ thể:

- Buộc bà Đỗ Kim P27 trách nhiệm trả bà Trần Yến K30 tiền vốn vay là 500.000.000đ (năm trăm triệu đồng) và tiền lãi là 288.563.000đ (hai trăm tám mươi tám triệu năm trăm sáu mươi ba nghìn đồng).

- Buộc bà Đỗ Kim P27 trách nhiệm trả bà Trần Yến K30 tiền vốn vay là 300.000.000₫ (ba trăm triệu đồng) và tiền lãi là 170.814.000đ (một trăm bảy mươi triệu tám trăm mười bốn nghìn đồng).

- Buộc bà Đỗ Kim P27 trách nhiệm trả bà Trần Yến K30 tiền vốn vay là 400.000.000đ (bốn trăm triệu đồng) và tiền lãi là 191.895.000đ (một trăm chín mươi mốt triệu tám trăm chín mươi lăm nghìn đồng).

5. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

6. Chi phí tố tụng khác:

Ghi nhận việc bà Trần Yến K43 nguyện chịu số tiền 1.184.000đ (một triệu một trăm tám mươi bốn nghìn đồng) và đã nộp đủ.

7. Án phí dân sự sơ thẩm:

- Án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch: Bà Trần Yến K44 nộp 300.000 đ (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0003842 ngày 29/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Bà Trần Yến K45 nộp đủ án phí.

- Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:

Bà Đỗ Kim P18 chịu án phí là 112.580.000đ (một trăm mười hai triệu năm trăm tám mươi nghìn đồng), tuy nhiên bà P10 người cao tuổi, được miễn án phí nên không phải nộp số tiền án phí này. Hlại cho bà Đỗ Kim P41 tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0010868 ngày 20/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

Hlại cho bà Trần Yến K30 tiền tạm ứng án phí đã nộp là 28.828.000 đ (hai mươi tám triệu tám trăm hai mươi tám nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0003843 ngày 29/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

8. Án phí dân sự phúc thẩm:

Bà Đỗ Kim P phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đ (ba trăm nghìn đồng), tuy nhiên bà P10 người cao tuổi, được miễn án phí nên không phải nộp số tiền án phí này. Hlại cho bà Đỗ Kim P số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0006151 ngày 22/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND huyện Châu Thành;
  • - CCTHADS huyện Châu Thành;
  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Bến Tre;
  • - Phòng KTNV&THA TAND tỉnh;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Chí Đức

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 79/2025/DS-PT ngày 10/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 79/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chap hop dong chuyen nhuong quyen su dung dat, hop dong vay tai san giua Do Kim P va Tran Yen K
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger