Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THANH HOÁ

TỈNH THANH HÓA

—————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————

Bản án số: 79/2025/HS-ST

Ngày: 23-01-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN ND THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Thủy

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Cát Tưởng

Bà Nguyễn Thị Minh Thảo

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Minh Phương - Thư ký Tòa án thành phố Thanh Hóa

- Đại diện VKSND thành phố Thanh Hóa tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Q - Kiểm sát viên

Ngày 23 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 79/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 89/2024/QĐXXST - HS ngày 13/01/2024 đối với các bị cáo:

1. Phạm Văn D, sinh năm 1994 tại Thanh Hóa; Số CCCD: 03809401121; Nơi cư trú: phố F, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Văn L (đã chết), và bà: Lê Thị H; tiền án: không; tiền sự: ngày 12/9/2022 bị TAND thành phố Thanh Hóa áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 20 tháng (chấp hành xong ngày 11/4/2024); nhân thân: năm 2018 bị TAND thành phố Thanh Hóa xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, năm 2019 bị TAND thành phố Thanh Hóa xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tháng 01/2022 bị Công an phường Q, thành phố T xử phạt hành chính về hành vi “Mua số đề”; tạm giữ: ngày 31/10/2024; tạm giam: ngày 06/11/2024 tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T, “có mặt"

2. Nguyễn Văn N, sinh năm 1992 tại Thanh Hóa; Số CCCD: [...]; Nơi thường trú: số nhà H N, phường L, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; nơi ở hiện nay: Ngõ A N, phường L, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn C (đã chết), và bà: Hồ Thị H1; tiền án: không; tiền sự: ngày 14/10/2022 bị TAND thành phố Thanh Hóa áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 18 tháng (chấp hành xong ngày 09/3/2024); nhân thân: năm 2017 bị TAND thành phố Thanh Hóa áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, tháng 7/2022 bị TAND thành phố Thanh Hóa xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái pháp chất ma túy”, năm 2022 bị Công an phường L, thành phố T xử phạt hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”; tạm giữ: ngày 31/10/2024; tạm giam: ngày 06/11/2024 tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T, “có mặt”

Bị hại:

  1. Anh Phạm Văn G, sinh năm 1984 “vắng mặt”
    Trú tại: Số nhà 147 Đinh Công Tráng, phường Ba Đình, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa
  2. Anh Nguyễn Hữu T, sinh năm 1985 “vắng mặt”
    Trú tại: Phố T, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Lê Văn T1, sinh năm 1995
Trú tại: Số nhà D N, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa, “vắng mặt”

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do quan biết nhau, nên chiều ngày 29/10/2024 Phạm Văn D chuẩn bị 01 chiếc kìm điện, 01 con dao dọc giấy bỏ vào túi đeo của mình đến nhà Nguyễn Văn N chơi. Khoảng 01h00 phút ngày 30/10/2024, Phạm Văn D nói với N “Mày chở tao đi kiếm ít tiền tiêu”. N hiểu ý của D là đi trộm cắp tài sản nên đồng ý và sử dụng xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Taurus BKS 36P9-9927 của bà Hồ Thị H1 (mẹ đẻ N) chở D đến khhu vực gần Cầu C, phường L, thành phố T thì N dừng xe và quay về nhà chờ D. D đi bộ về số nhà B đường T, phường L, thành phố T quan sát thấy nhà đang xây dựng, không có người trông coi nên trèo qua cửa dựng tạm bằng tôn vào trong dùng kìm đem theo cắt 85,5 m ống đồng, trong đó: 46m ống đồng đường kính 0,6 cm; 24,5m ống đồng đường kính 1,0 cm và 15,5m ống đồng đường kính 1,2cm (loại ống đồng bọc xốp dùng để lắp điều hòa) rồi dùng dao rạch lớp vỏ xốp bên ngoài và chia ruột dây ống đồng thành nhiều đoạn rồi bỏ vào bao tải có gần đó. Sau đó, D còn lấy 01 máy khoan cầm tay, bẻ đi 02 mắt camera nhãn hiệu @JHUA rồi đi ra ngoài gọi điện thoại cho N đến đón. N đến và dựng xe ở gần Câu Cốc rồi đi bộ đến vị trí D đứng, vác chiếc bao tải đặt lên xe, còn Dương cầm 02 mắt camera và 01 máy khoan đem về nhà N. Đến khoảng 05h30 cùng ngày, N chở D đến nhà anh Lê Văn T1, sinh năm 1995, trú tại D N, phường Đ, thành phố T (chủ hiệu thu mua phế liệu) bán ống dây đồng và máy khoan được 2.500.000 đồng. Sau đó D và N cùng đi ăn tiêu còn lại 720.000 đồng. Chiều ngày 30/01/2024, nhận thấy hành vi của mình là vi phạm nên N và D đến công an đầu thú giao nộp lại số tiền 720.000 đồng và 02 camera.

Ngày 30/10/2024, anh T1 đã tự nguyện giao nộp 85,8m dây đồng, 01 máy khoan và không yêu cầu D phải trả lại số tiền mua tài sản.

Ngày 01/11/2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: 46m ống đồng đường kính 0,6 cm trị giá 1.427.000 đồng; 24,5m ống đồng đường kính 1,0 cm trị giá 1.299.000 đồng; 15,5m ống đồng đường kính 1,2cm trị giá 1.148.000 đồng; 01 máy khoan trị giá 600.000 đồng và 02 camera nhãn hiệu @JHUA trị giá 1.000.000 đồng. Tổng tài sản bị chiếm đoạt là 5.519.000 đồng, anh G đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu thì thêm về phần dân sự.

Quá trình điều tra, Phạm Văn D còn khai nhận hành vi trộm cắp tài sản khác như sau:

Đêm ngày 21/10/2024, D một mình đi bộ tìm nhà dân sơ hở để trộm cắp tài sản. Khi đi đến số nhà B T, phường L, thành phố T quan sát thấy không có người trông coi nên trèo vào lấy trộm được 01 máy khấy sơn hiệu LACELA, 01 máy cắt MAKTEC MT413 và 01 máy đục bê tông hiệu AD0875. Sau đó, D đem đến nhà anh Lê Văn T1 ở D N, phường Đ, thành phố T bán được 350.000 đồng và tiêu xài cá nhân hết.

Anh Tuấn khai báo đã bán các máy móc trên cho người một người không quen biết nên không có căn cứ để truy tìm vật chứng.

Theo anh T khai báo, tài sản bị trộm cắp trị giá khoảng 7.000.000 đồng. Ngày 16/11/2024, Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự đã xác định: 01 máy khấy sơn hiệu LACELA trị giá 675.000 đồng; 01 máy cắt MAKTEC MT413 trị giá 575.000 đồng và 01 máy đục bê tông hiệu AD0875 trị giá 1.025.000 đồng. Tổng tài sản bị chiếm đoạt là 2.275.000 đồng, anh T yêu cầu bị cáo D phải bồi thường cho anh theo giá trị tài sản bị chiếm đoạt.

Về vật chứng: 01 kìm, 01 dao dọc giấy, 02 điện thoại di động và số tiền 720.000 đồng cơ quan Điều tra đã chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa để xử lý theo quy định.

Về dân sự: Anh Lê Văn T1 không yêu cầu các bị cáo phải trả lại số tiền 2.500.000 đồng đã mua tài sản trộm cắp; bị hại anh Nguyễn Hữu T yêu cầu bị cáo D phải bồi thường lại giá trị tài sản trộm cắp 2.275.000 đồng.

Đối với anh Lê Văn T1 là người mua lại tài sản trộm cắp nhưng không biết các tài sản đó là do phạm tội mà có nên không có căn cứ để xử lý hình sự.

Đối với chiếc xe mô tô 36P7 - 9927 mà bị cáo N sử dụng để chở bị cáo D đi trộm cắp. Quá trình điều tra xác định chiếc xe trên là của bà Hồ Thị H1 (mẹ đẻ bị cáo N). Bà H1 không biết N sử dụng để đi trộm cắp tài sản nên cơ quan Điều tra đã trả lại cho bà H1.

Tại bản cáo trạng số 16/CT-VKS ngày 25 tháng 12 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thanh Hoá truy tố Phạm Văn Dương và Nguyễn Văn Ngọc về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát thành phố T giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự (đối với 02 bị cáo); điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự (đối với bị cáo D). Đề nghị xử phạt bị cáo D từ 18 đến 21tháng tù; bị cáo N từ 12 đến 15 tháng tù. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị về vật chứng và án phí.

Các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiền hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
  2. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại cùng các tài liệu khác phản ánh trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở chứng minh: Tại số nhà B T, phường L, thành phố T, ngày 30/10/2024 Phạm Văn D và Nguyễn Văn N đã có hành vi trộm cắp tài sản của anh Phạm Văn G trị giá 5.519.000 đồng. Trước đó, ngày 21/10/2024 Phạm Văn D còn trộm cắp một số máy móc của anh Nguyễn Hữu T trị giá 2.275.000 đồng. Như vậy tổng giá trị tài sản D chiếm đoạt là 7.794.000 đồng, N chiếm đoạt là 5.519.000 đồng. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi phạm tội của Phạm Văn D và Nguyễn Văn N có đủ các dấu hiệu cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Tội danh và khung hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở, đúng pháp luật.
  3. Tính chất vụ án: Lợi dụng chủ sở hữu tài sản sơ hở trong việc quản lý tài sản, các bị cáo đã nhanh chóng lén lút chiếm đoạt tài sản. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội không những đã xâm phạm đến trật tự trị an nói chung mà còn xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản nói riêng, do đó cần được xử lý nghiêm minh.
  4. Nhân thân, vai trò trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo: Trong vụ án này các bị cáo cùng thống nhất rủ nhau đi trộm cắp tài sản nhưng không bàn bạc, phân công vai trò cụ thể nên là đồng phạm giản đơn. Bị cáo D là người khởi xướng, đồng thời là người chuẩn bị công cụ và trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo N có vai trò đồng phạm giúp sức cho bị cáo D nên bị cáo D có vai trò đầu và mức hình phạt cao hơn bị cáo N là phù hợp. Do bị cáo D thực hiện 02 hành vi trộm cắp tài sản nên phải chịu tình tiết tăng nặng là phạm tội 02 lần trở lên theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Các bị cáo đều có nhân thân xấu đã bị các cơ quan pháp luật cải tạo, giáo dục nhiều lần nhưng không chịu cải sửa mà còn tiếp tục phạm tội. Điều đó chứng tỏ các bị cáo không chịu rèn luyện bản thân, coi thường pháp luật. Với tính chất của vụ án và nhân thân của các bị cáo thì việc cách ly khỏi xã hội một thời gian là cần thiết để cải tạo, giáo dục đối với bị cáo. Căn cứ Điều 38 Bộ luật hình sự. Khi áp dụng hình phạt cần xem xét để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho các bị cáo vì tại các cơ quan pháp luật thành khẩn khai báo, đầu thú. Căn cứ điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự
  5. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Phạm Văn G đã nhận lại tài sản đầy đủ và không có yêu cầu gì thêm về phần dân sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lê Văn T1 không yêu cầu các bị cáo phải trả lại số tiền 5.519.000 đồng nên công nhận phần dân sự giữa các bị cáo với anh G và anh T1 đã được giải quyết xong. Bị hại anh Nguyễn Hữu T yêu cầu bị cáo D phải bồi thường lại giá trị tài sản bị chiếm đoạt theo kết quả định giá là 2.275.000 đồng là có cơ sở nên buộc bị cáo D phải có trách nhiệm bồi thường là phù hợp với quy định. Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự.
  6. Về vật chứng: Đối với 01 kìm cắt cầm tay và 01 dao dọc giấy đã qua sử dụng là công cụ dùng vào việc phạm tội hiện không còn giá trị sử dụng nên tịch thu và tiêu hủy; Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s, màu hồng, Imel: 353311073236113 (thu của D), 01 điện thoại di động nhãn hiệu Itel A48, Imel: 354511660836600 (thu của N) các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội và số tiền 720.000 đồng là do phạm tội mà có nên tịch thu, nộp ngân sách nhà nước. Căn cứ khoản 1, điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
  7. Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự (đối với 02 bị cáo); điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự (đối với bị cáo D).

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn D và Nguyễn Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản"

Xử phạt:

  • - Phạm Văn D 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 31/10/2024.
  • - Nguyễn Văn N 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 31/10/2024.

Áp dụng: Khoản 1, điểm a, b, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326 của Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

  • - Về trách nhiệm dân sự: Công nhận phần dân sự giữa các bị cáo với anh Phạm Văn G và anh Lê Văn T1 đã được giải quyết xong.
  • Buộc bị cáo Phạm Văn D phải bồi thường cho anh Nguyễn Hữu T số tiền 2.275.000 đồng.
  • - Về án phí: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo D phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, anh T có đơn yêu cầu thi hành án. Nếu bị cáo D không thi hành hoặc thi hành không đầy đủ thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 357 Bộ luật Dân sự.

Các bị cáo, anh T có quyền yêu cầu thi hành án, thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án đối với khoản tiền án phí, tiền bồi thường theo quy định tại các Điều 7; Điều 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc ngày niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND TPTH;
  • - Công an TPTH;
  • - TAND tỉnh TH
  • - VKD ND tỉnh T
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM.

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị T2

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 79/2025/HS-ST ngày 23/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ, TỈNH THANH HÓA về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 79/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hình sự
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger