Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐĂK NÔNG

Bản án số: 79/2024/HS-PT

Ngày 28-11-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Võ Văn Vinh.
  • Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Xuân Chiến và ông Nguyễn Hồng Chương.
  • Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huệ là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đăk Nông tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị N - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Đắk Nông xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 98/2024/TLPT-HS, ngày 11-10-2024 do có kháng cáo của bị cáo và bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 56/2024/HS-ST ngày 20-8-2024 của Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa.

Bị cáo có kháng cáo và bị kháng cáo: Trần Đình T, sinh năm 1961, tại Thành phố Hà Nội; nơi cư trú: Tổ dân phố E, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Hưu trí; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đình T1 và bà Nguyễn Thị T2 (đều đã chết); có vợ là Trần Thị T3 và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; tại ngoại; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Phạm Quốc H, là Luật sư của Công ty L và Cộng sự thuộc Đoàn luật sư Thành phố H; địa chỉ: Đường B, tổ dân phố A, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông; có mặt.

- Bị hại có kháng cáo: Bà Bùi Thị H1, sinh năm 1967; địa chỉ: Số F, đường Đ, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bà Bùi Thị H1 có thửa đất giáp ranh với đất của Trần Đình T được ngăn cách bằng hàng rào lưới thép B40. Sáng ngày 29-3-2021, thấy hàng rào giáp ranh đất nhà T bị đất, đá, gạch trôi xuống làm đổ và lấn sang đất nhà bà H1 nên đã nhờ ông Nguyễn Khắc H2 gỡ lưới thép B40 ra rào lại. Khi ông H2 đang làm T nhìn thấy, nghĩ bà H1 muốn rào lấn đất của nhà mình nên T chửi không cho rào và hai bên xảy ra mâu thuẫn. Đến khoảng 16 giờ 00 phút cùng ngày, bà H1 tiếp tục nhờ ông H2 tháo hàng rào B40 để rào lại, khi đang căng dây dù thì T đến yêu cầu bà H1 và ông H2 dừng lại. Trên đường đi, T nhặt 01 thanh gỗ nhưng bà Trần Thị T3 (vợ T) giật lại và ném đi. T tiếp tục đi đến vị trí bà H1 đứng, hai bên xảy ra cãi vã to tiếng, T nói “Chúng mày ra khỏi đất nhà tao” thì bà H1 nói lại “Đất của tao, tao đứng”. Lúc này T nhặt 01 cây gỗ dài khoảng 1,5m đánh về phía bà H1 nhưng ông H2 đỡ được, T tiếp tục dùng tay đẩy ông H2 ngã về phía sau nhưng không gây thương tích. Sau đó, T dùng 02 tay đẩy bà H1 ngã đầu va đập xuống nền đất, tay phải chống xuống nền đất bị gãy xương.

Ngày 30-3-2021, bà H1 yêu cầu giám định thương tích và ngày 06-4-2021 yêu cầu khởi tố vụ án hình sự. Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 143/TgT ngày 29-4-2021 của Trung tâm pháp y – Sở y tế tỉnh Đ; Bản kết luận giám định số 3811/C09B và số 3812/C09B ngày 21-7-2022 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận bà H1 bị: Gãy đầu dưới xương quay tay phải, tỷ lệ 08%; Sẹo vết thương phần mềm, vùng đầu, kích thước nhỏ, tỷ lệ 0,92%; Kết luận khác: Vết thương vùng đầu do vật tày có cạnh tác động gây nên. Gãy đầu dưới xương quay tay phải do bị ngã chống tay gây nên.

Sau khi sự việc xảy ra, bà H1 đi khám tại Bệnh viện Chấn thương chỉnh hình và Bệnh viện Đ tại Thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả khám và chụp X-Q tại Bệnh viện Đ thể hiện bị gãy đầu dưới xương quay tay phải và gãy mỏm trâm trụ phải, nên bà H1 đã làm đơn khiếu nại, yêu cầu giám định bổ sung đối với thương tích gãy mỏm trâm trụ phải.

- Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 143/TgT ngày 29-4-2021 của Trung tâm pháp y – Sở y tế tỉnh Đ đã xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của bà H1 là gãy đầu dưới xương quay tay phải, tỷ lệ 08%; 01 sẹo phần mềm vùng đầu, kích thước nhỏ, tỷ lệ 0,92%. Gãy mỏm trâm trụ tay phải, không ảnh hưởng vận động khớp cổ tay, tỷ lệ 5,46%. Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của bà Bùi Thị H1 tại thời điểm giám định bổ sung là 08% + 0,92% + 5,46% = 14,38%. Làm tròn bằng 14%.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 56/2024/HS-ST ngày 20-8-2024 của Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa quyết định: Tuyên bố Trần Đình T phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng khoản 1 Điều 134; các điểm i, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Trần Đình T 06 (sáu) tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; các điều 584, 585, 586, 590, 591 của Bộ luật Dân sự. Buộc Trần Đình T phải bồi thường 80.540.000 đồng.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 29-8-2024, Trần Đình T kháng cáo được chuyển sang hình phạt cải tạo không giam giữ hoặc cho hưởng án treo và giảm trách nhiệm dân sự; ngày 04-9-2024, bà Bùi Thị H1 kháng cáo đề nghị tăng hình phạt, tăng mức bồi thường tổn thất tinh thần và xác định lại mức lương cơ sở.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị hại giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa xử phạt về tội “Cố ý gây thương tích” là đúng, không oan và đồng ý bồi thường thêm số tiền bị tổn thất về tinh thần theo mức lương cơ sở hiện nay.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 355, Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo về hình phạt của bị cáo và bị hại, chấp nhận một phần kháng cáo tăng mức bồi thường thiệt hại của bị hại là điều chỉnh lại mức lương cơ sở từ 1.800.000 đồng lên 2.340.000 đồng theo quy định của pháp luật. Không áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm v khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, áp dụng thêm điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo. Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 56/2024/HS-ST ngày 20-8-2024 của Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa về trách nhiệm dân sự và áp dụng pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Trần Đình T bị xét xử về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Tuy nhiên, bị cáo lần đầu phạm tội và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tự nguyện bồi thường cho bị hại toàn bộ số tiền theo như cấp sơ thẩm đã quyết định, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo đã đồng ý bồi thường thêm số tiền tổn thất về tinh thần theo mức lương cơ sở hiện tại là 2.340.000 đồng. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo hưởng án treo.

Bị hại trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tăng hình phạt và tăng mức bồi thường về tổn thất tinh thần, cấp sơ thẩm quyết định bồi thường 10 tháng lương cơ sở là chưa thỏa đáng so với tổn thất và mất mát của bà. Đồng thời, đề nghị xác định mức lương cơ sở là 2.340.000 đồng theo quy định của pháp luật.

Bị cáo trình bày: Không yêu cầu giảm mức bồi thường thiệt hại và đồng ý tăng mức bồi thường tổn thất về tinh thần cho bị hại theo mức lương cơ sở là 2.340.000 đồng. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng án treo để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Xét kháng cáo của bị cáo và bị hại:

[1.1]. Về thủ tục tố tụng: Ngày 20-8-2024, Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa xét xử sơ thẩm, ngày 29-8-2024 và ngày 04-9-2024 bị cáo và bị hại có đơn kháng cáo, kháng cáo trong thời hạn, hình thức và nội dung phù hợp với quy định tại Điều 332, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, nên được chấp nhận.

[1.2]. Về tội danh: Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 29-3-2021, tại tổ dân phố E, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông Trần Đình T đã dùng tay xô đẩy làm bà Bùi Thị H1 ngã xuống đất gây thương tích vùng đầu và tay phải, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 14%. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử Trần Đình T về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

[1.3]. Về nội dung kháng cáo giảm hình phạt của bị cáo, xét thấy: Giữa bị cáo và bị hại có mâu thuẫn do tranh chấp ranh đất, sự việc xảy ra có thể thương lượng, hòa giải. Tuy nhiên, ngay khi T phát hiện bà H1 căng dây dựng lại hàng rào ngăn cách đất của hai nhà, nghĩ bị lấn chiếm đất nên bị cáo đã chửi bà H1 để nhằm ngăn cản, dẫn đến hai bên xảy ra tranh cãi. Sau đó, T đã có hành vi dùng tay xô, đẩy làm bà H1 ngã xuống đất. Hậu quả bà Bùi Thị H1 bị gãy đầu dưới xương quay tay phải, tỷ lệ 08%; 01 sẹo phần mềm vùng đầu, kích thước nhỏ, tỷ lệ 0,92%; Gãy mỏm trâm trụ tay phải, tỷ lệ 5,46%. Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 14,38%. (Làm tròn bằng 14%). Mặc dù, Tòa án cấp sơ thẩm chưa áp dụng điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và tại giai đoạn phúc thẩm bị cáo cung cấp tài liệu chứng cứ mới thể hiện đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại, nhưng thấy rằng cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 06 (sáu) tháng tù là mức hình phạt tù thấp nhất của khung hình phạt, đã phù hợp với tính chất, mức độ hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra. Do đó, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

[1.3]. Xét kháng cáo tăng hình phạt của bị hại, thấy rằng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thật thà khai báo, lời khai phù hợp với diễn biến khách quan của vụ án, tự nguyện khắc phục hậu quả cho bị hại, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có đóng góp tích cực cho phòng T4; trong quá trình công tác tại Công ty L1, bị cáo được Bộ trưởng Bộ N1 tặng Kỷ niệm chương vì sự nghiệp nông nghiệp và phát triển nông thôn năm 2010; bố của bị cáo được tặng Huy hiệu tuổi đảng trong nhiều năm. Do đó, có căn cứ áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa quyết định xử phạt bị cáo Trần Đình T 06 (sáu) tháng tù là có căn cứ.

[1.4]. Đối với nội dung kháng cáo về mức bồi thường thiệt hại của bị cáo và bị hại, Hội đồng xét xử xét thấy:

Đối với kháng cáo về mức bồi thường thiệt hại của Trần Đình T: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không yêu cầu giảm mức bồi thường và đồng ý bồi thường thêm cho bị hại số tiền tổn thất tinh thần theo mức lương cơ sở hiện nay là 2.340.000 đồng. Sự tự nguyện này không trái với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận.

Đối với kháng cáo tăng mức bồi thường tổn thất tinh thần và xác định lại mức lương cơ sở của bà Bùi Thị H1: Tòa án cấp sơ thẩm dựa trên kết luận thương tích của bị hại 14% nên tính mức tổn thất tinh thần bằng 10 tháng lương cơ sở là phù hợp với quy định của của pháp luật. Tuy nhiên, đối với mức lương cơ sở cấp sơ thẩm xác định 1.800.000 đồng là chưa chính xác, theo Nghị định số 73/2024/NĐ-CP ngày 30-6-2024 quy định về mức lương cơ sở là 2.340.000 đồng/1 tháng nên cần điều chỉnh cho phù hợp. Do đó, chấp nhận một phần kháng cáo về xác định lại mức lương cơ sở của bị hại.

[2]. Từ những phân tích trên, xét thấy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo và bị hại về phần hình phạt. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị hại về bồi thường thiệt hại. Bị cáo phải bồi thường cho bà Bùi Thị H1 tổng số tiền là 88.940.482 đồng (làm tròn 88.940.000 đồng) được khấu trừ vào số tiền 83.540.000 đồng bị cáo đã khắc phục theo các biên lai thu tiền số 0000641 ngày 22-01-2024, số 0002959 ngày 13-11-2024 và số 0002961 ngày 27-11-2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông, bà Bùi Thị H1 được nhận số tiền bị cáo đã khắc phục tại Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Gia Nghĩa. Trần Đình T phải tiếp tục bồi thường 5.400.000 đồng cho bà Bùi Thị H1.

[3]. Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông và một phần luận cứ bào chữa của Luật sư là có căn cứ nên cần chấp nhận.

[4]. Một số sai sót của cấp sơ thẩm: Cấp sơ thẩm áp dụng điểm v khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo là chưa chính xác. Bởi lẽ, theo chứng cứ, tài liệu trong vụ án thể hiện trong quá trình công tác tại Công ty L1, bị cáo được Bộ trưởng Bộ N1 tặng Kỷ niệm chương vì sự nghiệp nông nghiệp và phát triển nông thôn năm 2010, tình tiết này chỉ áp dụng là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Do đó, cần sửa Bản án hình sự sơ thẩm về phần áp dụng pháp luật cho phù hợp.

[5]. Về án phí: Do bị cáo là người cao tuổi (63 tuổi) và chấp nhận một phần kháng cáo của bị hại nên căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, Trần Đình T không phải nộp án phí dân sự sơ thẩm và hình sự phúc thẩm, bà Bùi Thị H1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 355; Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và bị hại về phần hình phạt, chấp nhận một phần kháng cáo của bị hại về bồi thường thiệt hại. Sửa Bản án sơ thẩm số 56/2024/HS-ST ngày 20-8-2024 của Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa về phần trách nhiệm dân sự và áp dụng pháp luật.

    Tuyên bố Trần Đình T phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng khoản 1 Điều 134; các điểm i, s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Đình T 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù, kể từ ngày bắt thi hành án.

    Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; các điều 584, 585, 586, 590, 591 của Bộ luật Dân sự: Buộc Trần Đình T phải bồi thường cho bà Bùi Thị H1 tổng số tiền là 88.940.482 đồng (làm tròn 88.940.000 đồng) được khấu trừ vào số tiền 83.540.000 đồng bị cáo đã khắc phục theo các biên lai thu tiền số 0000641 ngày 22-01-2024, số 0002959 ngày 13-11-2024 và số 0002961 ngày 27-11-2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông, bà Bùi Thị H1 được nhận số tiền bị cáo đã khắc phục tại Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Gia Nghĩa. Trần Đình T phải tiếp tục bồi thường 5.400.000 đồng cho bà Bùi Thị H1.

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

  2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TANDTC (Vụ I);
  • - VKSND tỉnh Đăk Nông;
  • - Phòng Hồ sơ Công an tỉnh Đắk Nông;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đăk Nông;
  • - CQCSĐT CA thành phố Gia Nghĩa;
  • - VKSND thành phố Gia Nghĩa ;
  • - TAND thành phố Gia Nghĩa ;
  • - Chi cục THADS thành phố Gia Nghĩa;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: HS, Tổ HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Văn Vinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 79/2024/HS-PT ngày 28/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG về hình sự phúc thẩm (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 79/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Đình T phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger