|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 79/2024/HS-ST
Ngày 22 tháng 11 năm 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Chau Dau.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Ngọc Phượng và bà Vanh Si Tha
Thư ký phiên toà: Bà Trần Lê Ngọc Trân - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Thái Hoà - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 11 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 76/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 76/2024/QĐXXST- HS ngày 05 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:
Lê Văn H, sinh năm 1984, tại huyện P, tỉnh An Giang, nơi cư trú: Khóm S, thị trấn C, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 0/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Phi H1, sinh năm 1963 và bà Huỳnh Bích T, sinh năm 1963; Vợ: Nguyễn Thị H2, sinh năm 1984; Con: Có 03 người con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Tốt; bị cáo bị áp dụng biện bắt tạm giam từ ngày 14/8/2024 cho đến nay.
Bị hại : Bà Đoàn Thị T1, sinh năm 1969 (chết)
Đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1991; nơi cư trú: Khóm V, thị trấn V, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 2002; nơi cư trú: Khóm V, thị trấn V, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).
- - Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1990; nơi cư trú: Khóm V, thị trấn V, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).
Người làm chứng gồm các ông/bà: Lê Văn D, Võ Văn Q và Phan Văn H3 (đều vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 45 phút, ngày 24/8/2023, Lê Văn H điều khiển xe mô tô 68FA-001.86 (dung tích xi lanh 108,4cm3), không có giấy phép lái xe theo quy định, trong tình trạng có nồng độ cồn 0,76miligam/lít thở, lưu thông tuyến đường tỉnh lộ 943, hướng từ thị trấn C - xã T. Khi đến đoạn đường thuộc khóm T, thị trấn C, huyện T Lê Văn H điều khiển xe mô tô thiếu chú ý quan sát, lấn sang phần đường bên trái để vượt xe ô tô 67C-121.03 do Lê Văn D điều khiển cùng chiều phía trước, dẫn đến phần đầu xe mô tô của H va chạm với phần đầu xe mô tô 67C-802.01 do Nguyễn Văn L điều khiển chở Đoàn Thị T1 chạy hướng ngược chiều. Hậu quả, L, T1, H và hai xe mô tô đều ngã tại phần đường bên trái hướng thị trấn C - xã T (theo chiều xe chạy của H), được mọi người đưa đi cấp cứu, đến ngày 12/11/2023 bà T1 chết, riêng L, H bị thương tích nhẹ.
Ngày 09/8/2024, H bị khởi tố, bắt tạm giam để điều tra.
Tang vật thu giữ gồm:
- - 01 xe mô tô mang biển số 67C-802.01, hiệu Honda, loại Sonic 150R, màu trắng đen đỏ, số máy KB11E1277314, số khung MH1KB1111K277615; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe và 01 giấy phép lái xe hạng A1, đều mang tên Nguyễn Văn L (đã giao trả cho Nguyễn Văn L).
- - Xe mô tô mang biển số 68FA-001.86, màu vàng xanh, số máy VTT1P52FMHZ 009195, số khung RRWCH4UM5X009195 và biển số 68FA-001.86 (bị gãy văng khỏi xe).
Căn cứ các biên bản và kết luận: Dựng lại hiện trường, kiểm tra, khám nghiệm phương tiện, kiểm tra nồng đồ cồn, giám định xe mô tô 68FA-001.86 và khám nghiệm tử thi phù hợp với nội dung vụ án đã nêu trên.
Tại kết luận giám định pháp y về tử thi số 333/KLGĐTT-TTPY ngày 15/11/2023 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh A, ghi nhận: Tử thi Đoàn Thị T1, sinh năm 1969.
Dấu hiệu chính qua giám định: Kết mạc mắt nhợt; vết thương trán phải đến đuôi mắt phải đã liền sẹo kích thước (09 x 0,3cm); vết thương má phải kích thước (08 x 0,4cm), gãy xương gò má phải, gãy xương hàm trên đều bên phải. Còn dấu bầm tụ máu dưới da vùng trán phải tương ứng với sẹo bên ngoài; xuất huyết dưới nhện vùng đính trán hai bên; dấu xuất huyết chấm trong não. Nguyên nhân chết: Chấn thương sọ não nặng, xuất huyết dưới nhện – dập phù não.
Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp của bị hai là Nguyễn Thị N yêu cầu bị cáo H bồi thường chi phí điều trị, tiền tổn thất tinh thần và mất thu nhập tổng cộng 314.653.000 đồng và yêu cầu xử lý hình sự theo quy định của pháp luât.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng đều khai phù hợp với nội dung Cáo trạng nêu trên.
Trần Văn B, Trần Văn V, S, Trương Thanh H4 Tại Cáo trạng số: 77/CT-VKSTT ngày 31/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang đã truy tố Lê Văn H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a, điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Lê Văn H khai nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã nêu trên.
Tại phiên tòa bị cáo Lê Văn H vẫn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên, bị cáo Hòa đồng Ý bồi thường chi phí điều trị, tiền tổn thất tinh thần và mất thu nhập tổng cộng 314.653.000 đồng theo yêu cầu của đại diện hợp pháp của bị hại.
Đại diện hợp pháp của bị hại là bà Nguyễn Thị N trình bày sự việc đúng như cáo trạng đã nêu. Về hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử xử theo quy định của pháp luất; còn về trách nhiệm dân sự vẫn giữ nguyên yêu cầu bị cáo H bồi thường chi phí điều trị, tiền tổn thất tinh thần và mất thu nhập tổng cộng 314.653.000 đồng.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo Lê Văn H, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Về hình phạt chính: Áp dụng điểm a, điểm b khoản 2 Điều 260; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Văn H từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.
- - Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, không hành nghề lái xe nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- - Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 46, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 598, Điều 591 Bộ luật dân sự, tuyên buộc bị cáo H bồi thường cho người đại diện bị hại Đoàn Thị T1 là bà Nguyễn Thị N số tiền 314.653.000 đồng.
- - Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự, đề nghị: Tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô biển số 0168FA-001.86, màu vàng xanh, số máy VTT1P52FMHZ00195, số khung: RRKWCH4UM5X009195 và 01 biển số 68FA – 001.86 (bị gãy văng khỏi xe).
Bị cáo Lê Văn H không có tranh luận và bào chữa gì, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về thủ tục tố tụng:
- - Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
- - Tại phiên tòa người làm chứng đều vắng mặt. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
- [2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với nhau cũng như biên bản kết luận khám nghiệm tử thi, biên bản dựng lại hiện trường, biên bản khám phương tiện, biên bản kiểm tra nồng độ cồn, phù hợp lời khai của người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về thời gian địa điểm, hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:
Khoảng 18 giờ 45 phút, ngày 24/8/2023, tại đoạn đường tỉnh 943 thuộc khu vực khóm T, thị trấn C, huyện T bị cáo Lê Văn H có hành vi điều khiển xe mô tô mang biển số 68FA-001.86 có dung tích xi lanh 108,4 cm³, không có giấy phép lái xe theo quy định, trong tình trạng có nồng độ cồn 0,76 miligam/lít thở, thiếu chú ý quan sát, lấn sang phần đường bên trái, vượt xe không đảm bảo an toàn gây tai nạn với xe mô tô biển số 67C-802.01 do ông Nguyễn Văn L điều khiển chở bà Đoàn Thị T1 hướng ngược chiều, hậu quả làm bà T1 chết do chấn thương sọ não nặng, xuất huyết dưới nhện – dập phù não.
Hành vi của bị cáo Lê Văn H đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a, điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 có khung hình phạt là từ 03 năm đến 10 năm tù.
- [3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý nhà nước về an toàn giao thông đường bộ, xâm hại đến tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an và an toàn cho xã hội, làm quần chúng nhân dân lên án và bất bình.
- [4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, vai trò tham gia trong vụ án, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Bị cáo Lê Văn H là người đã thành niên và là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, không chịu tu dưỡng, rèn luyện chấp hành tốt pháp luât mà ngược lại. Trong vụ án này, bị cáo có hành vi điều khiển xe mô tô nhưng không có giấy phép lái xe theo quy định và điều khiển xe trong tình trạng hơi thở có nồng độ cồn vượt mức quy định nên không những đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý nhà nước về an toàn giao thông đường bộ, mà còn xâm hại đến tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an, an toàn cho xã hội, làm quần chúng nhân dân lên án và bất bình. Cần áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, vai trò phạm tội của bị cáo, nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo thành người có ích cho xã hội, đồng thời cũng nhằm răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, trình độ học vấn thấp và nuôi con nhỏ. Đây là các tình tiết để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lê Văn H không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
- [5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Xét thấy, do bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, không hành nghề lái xe nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- [6] Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp của bị hai bà Đoàn Thị T1 là Nguyễn Thị N yêu cầu bị cáo H bồi thường chi phí điều trị, tiền tổn thất tinh thần và mất thu nhập tổng cộng 314.653.000 đồng. Bị cáo Hòa đồng Ý bồi thường theo yêu cầu của đại diện bị hại số tiền 314.653.000 đồng. Xét thấy, nên ghi nhận sự thoả thuận của bị cáo H và đại bị hại bà T1 là bà Nguyễn Thị N về yêu cầu bồi thường chi phí điều trị, tiền tổn thất tinh thần và tiền mất thu nhập tổng cộng 314.653.000 đồng.
- [7] Về vật chứng: Đối với xe mô tô biển số 68FA-001.86, màu vàng xanh, số máy VTT1P52FMHZ00195, số khung: RRKWCH4UM5X009195 và 01 biển số 68FA – 001.86 (bị gãy văng khỏi xe), không có giấy chứng nhận đăng ký xe hợp pháp nên cần phải tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
- [8] Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Lê Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Căn cứ điểm a, điểm b khoản 2 Điều 260; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Lê Văn H 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (ngày 14-8-2024).
Căn cứ Điều 46, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 598, Điều 591 Bộ luật dân sự: Công nhận sự tự nguyện của bị cáo Lê Văn H bồi thường cho đại diện bị hại Đoàn Thị T1 là Nguyễn Thị N tổng số tiền 314.653.000₫ (Ba trăm mười bốn triệu sáu trăm năm mươi ba ngàn đồng).
Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự: Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 (một) xe mô tô biển số 68FA-001.86, màu vàng xanh, số máy VTT1P52FMHZ00195, số khung: RRKWCH4UM5X009195 và 01 biển số 68FA – 001.86 (bị gãy văng khỏi xe).
(Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh An Giang và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang ngày 05/11/2024).
Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Lê Văn H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 15.733.000 đ (Mười lăm triệu bảy trăm ba mươi ba ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Bị cáo, đại diện bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Chau Dau |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Chau Khon Sốc |
TP – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Châu Thanh Nguyên Chau D1 |
Bản án số 79/2024/HS-ST ngày 22/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 79/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hoà gây tai nạn chết người
