Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TUY PHƯỚC

TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 79/2024/HS-ST

Ngày: 14-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHƯỚC, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Văn Công Minh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Vĩnh Mậu.
  2. Ông Phạm Thành Nghĩa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Trúc, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Ngô Hồng Tuân - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 11 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 83/2024/TLST- HS, ngày 23 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 190/2024/QĐXXST- HS ngày 30 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Ngọc D, sinh năm 1973; nơi sinh: Huyện T, tỉnh Quảng Ngãi; nơi cư trú: Số nhà A H, phường T, thành phố Q, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc A (Chết) và bà Lê Thị K; vợ là bà Nguyễn Thị K1; có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2005, nhỏ nhất sinh năm 2022; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại; có mặt.

- Bị hại: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1959; nơi cư trú: Số nhà A đường Đ, khu V, phường T, thành phố Q, tỉnh Bình Định; có mặt.

- Người làm chứng:

  1. Bà Trương Thị Mai L1, sinh năm 1971; vắng mặt.
  2. Chị Nguyễn Thị K1, sinh năm 1990; vắng mặt.
  3. Anh Nguyễn Quang H, sinh năm 1992; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 15 phút ngày 04 tháng 6 năm 2024, bị cáo Nguyễn Ngọc D đi đám cưới về đến cửa hàng X, địa chỉ thôn T, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định để làm việc thì thấy ông Nguyễn Văn L đứng mua nước tại quán tạp hóa của bà Trương Thị Mai L1 nên bị cáo D đi đến gặp ông L để hỏi lý do không sửa chữa máng nước ở xưởng gò hàn của ông L thì giữa bị cáo D và ông L xảy ra cãi nhau. Lúc này, bị cáo D xông vào dùng hai tay nắm cổ áo của ông L rồi dùng tay phải đấm vào mặt ông L nhưng ông Lưu T được. Bà Trương Thị Mai L1 thấy vậy chạy đến can ngăn thì cả hai bỏ đi ra trước quán tạp hóa của bà L1. Khi đi ra trước quán, bị cáo D và ông L tiếp tục cãi nhau, bị cáo D dùng hai tay ôm vào cổ và vật ông L làm ông L ngã nghiêng bên trái xuống nền xi măng, tiếp đó bị cáo D ngồi lên người ông L rồi dùng tay đánh vào vùng mặt và vùng ngực của ông L 02 đến 03 cái dẫn đến hậu quả ông L bị thương tích. Lúc này, được người dân can ngăn nên bị cáo D bỏ đi về cửa hàng xăng dầu T. Sau đó, bị cáo D đi vào phòng ngủ lấy bình xịt hơi cay màu đen, trên thân bình có chữ và số “TAKE DOWN OO 5.5 FOGGER OC PEPPER SPRAY” quay lại quán tạp hóa của bà L1 để hăm dọa ông L thì được mọi người can ngăn nên bị cáo D quay về lại cửa hàng xăng dầu T cất bình xịt hơi cay và lấy 01 súng bắn điện màu đen, thân súng có in ký hiệu nổi “FBQ 2002-A 80KV” quay lại quán tạp hóa của bà L1 để hăm dọa đánh ông L. Lúc này, bà Nguyễn Thị K1 là vợ của bị cáo D chạy đến bảo bị cáo D đi về nên bị cáo D bỏ đi về. Ông L được đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện P1 đến ngày 26 tháng 6 năm 2024 thì xuất viện. Ngày 02 tháng 7 năm 2024, ông L có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.

Theo Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 155/KLTTCT-PYBĐ ngày 26 tháng 7 năm 2024 của Trung tâm pháp y tỉnh B kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Nguyễn Văn L tại thời điểm giám định là 36%.

Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã tạm giữ 01 bình bằng kim loại có dòng chữ “Take Down” vỏ màu đen, cao 23,5cm, đường kính hình tròn 6,5cm, trên đầu có gắn cán cầm tay màu đen, hình cung, kích thước vòng cung 16cm, nơi rộng nhất 3,5cm, nơi nhỏ nhất 02cm, phía trên có phần nút bấm bằng nhựa màu vàng kích thước (2,2x4,5)cm được cố định bằng dây kim loại; 01 súng điện màu đen, phần tay cầm có hình dạng hộp chữ nhật, có vỏ bên ngoài bằng nhựa kích thước (8,5x4x3)cm, phần thân súng có dạng hình hộp chữ nhật, có vỏ bên ngoài bằng nhựa kích thước (11x4,5x3,3)cm, trên thân súng có in ký hiệu “BFQ 2002-A” và “80KV” do bị cáo Nguyễn Ngọc D giao nộp.

Tại Kết luận giám định số 1451 ngày 21 tháng 8 năm 2024 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng kết luận: Súng điện gửi giám định nguyên bản là súng bắn điện (thuộc công cụ hỗ trợ), hiện tại không còn sử dụng bắn được nên không còn tính năng, tác dụng của công cụ hỗ trợ và không thuộc vũ khí hay đồ chơi nguy hiểm; viên đạn điện gắn phía trước thân của súng bắn điện nêu trên hiện còn sử dụng được và thuộc công cụ hỗ trợ. B bằng kim loại gửi giám định là phương tiện có tính năng, tác dụng tương tự như phương tiện xịt hơi cay, hiện tại còn sử dụng được và thuộc công cụ hỗ trợ.

Về dân sự: Bị cáo Nguyễn Ngọc D đã tự nguyện bồi thường cho bị hại ông Nguyễn Văn L số tiền 100.000.000 đồng; ông L có đơn bãi nại và không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Tại bản Cáo trạng số 82/CT-VKS-TP ngày 18 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định đã truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc D về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên, bị cáo, bị hại không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc D phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc D từ 24 tháng đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo.

Về bồi thường thiệt hại: Bị hại không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên đề nghị không xem xét.

Về vật chứng vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tuyên tịch thu và tiêu hủy 01 phong bì giấy dán kín, niêm phong bằng dấu tròn của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng, cùng các chữ ký, chữ viết họ tên: Phạm Kim H1, Mai Thanh P (Bên trong có 01 súng điện, màu đen, phần tay cầm bằng nhựa có hình dạng hộp chữ nhật, kích thước (8,5x4x3)cm, phần thân bằng nhựa, kích thước (11x4,5x3,3)cm, phía trước thân súng có gắn viên đạn điện, mặt bên trái thân súng có chữ, số “FBQ 2002-A 80KV” và 01 bình kim loại màu đen, cao 23,5c, đường kính 6,5cm; trên thân bình có chữ, số “TAKE DOWN OO 5.5 FOGGER OC PEPPER SPRAY” trên đầu có gắn cán cầm tay màu đen, hình cung, kích thước vòng cung 16cm, nơi rộng nhất 3,5cm, nơi nhỏ nhất 02cm, phía trên có phần nút bấm bằng nhựa màu vàng kích thước (2,2x4,5) cm được cố định bằng dây kim loại. Thông số thể tích ghi trên thân bình là 470ml).

Bị cáo và bị hại không có ý kiến tranh luận; bị hại yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã nhận thấy sai lầm; bị cáo xin lỗi bị hại; bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục mà Bộ luật tố tụng hình sự quy định. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Ngọc D thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được Cơ quan điều tra Công an huyện T và Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước thu thập nên có căn cứ xác định: Vào khoảng 15 giờ 15 phút, ngày 04 tháng 6 năm 2024 tại thôn T, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định bị cáo Nguyễn Ngọc D đã thực hiện hành vi dùng tay ôm vật và đánh ông Nguyễn Văn L làm ông L ngã nghiêng về bên trái va chạm với nền xi măng dẫn đến hậu quả ông L bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 36%.

[3] Xét tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị cáo Nguyễn Ngọc D là người có khả năng nhận thức được hành vi đánh, gây thương tích đối với người khác là hành vi nguy hiểm cho xã hội và nhận thức được hậu quả của hành vi đó sẽ xâm phạm đến sức khoẻ của người khác được pháp luật bảo vệ. Nhận thức được như vậy nhưng vì ý thức xem thường pháp luật, muốn giải quyết mâu thuẫn bằng vũ lực nên bị cáo đã dùng tay đánh ông Nguyễn Văn L dẫn đến hậu quả ông Nguyễn Văn L bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 36%. Do đó hành vi của bị cáo Nguyễn Ngọc D đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

[4] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo thực hiện hành vi cố ý xâm phạm đến sức khoẻ của người khác, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương nơi xảy ra vụ án.

[5] Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo có những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho người bị hại; người bị hại bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo là người có nhân thân tốt.

[6] Với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện và xét thấy bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như trên; bị cáo có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng; bị cáo có khả năng tự cải tạo và nếu không bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù thì không gây ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù mà cho bị cáo hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo cũng có thể giáo dục bị cáo có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới; giáo dục bị cáo tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.

[7] Xét về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xét.

[8] Xét về vật chứng vụ án: 01 súng điện, màu đen, phần tay cầm bằng nhựa có hình dạng hộp chữ nhật, kích thước (8,5x4x3)cm, phần thân bằng nhựa, kích thước (11x4,5x3,3)cm, phía trước thân súng có gắn viên đạn điện, mặt bên trái thân súng có chữ, số “FBQ 2002-A 80KV” và 01 bình kim loại màu đen, cao 23,5c, đường kính 6,5cm; trên thân bình có chữ, số “TAKE DOWN OO 5.5 FOGGER OC PEPPER SPRAY” trên đều có gắn cán cầm tay màu đen, hình cung, kích thước vòng cung 16cm, nơi rộng nhất 3,5cm, nơi nhỏ nhất 02cm, phía trên có phần nút bấm bằng nhựa màu vàng kích thước (2,2x4,5) cm được cố định bằng dây kim loại; thông số thể tích ghi trên thân bình là 470ml) hiện không có giá trị nên tuyên tịch thu và tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[9] Đối với hành vi tàng trữ súng điện và bình xịt hơi cay thuộc công cụ hỗ trợ của bị cáo Nguyễn Ngọc D, qua điều tra xác định bị cáo Nguyễn Ngọc D chưa bị xử phạt vi phạm hành chính và chưa bị kết án về các hành vi “Chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao hoặc công cụ hỗ trợ” quy định tại Điều 306 Bộ luật Hình sự năm 2015 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không xử lý hình sự đối với bị cáo Nguyễn Ngọc D về tội “Tàng trữ trái phép công cụ hỗ trợ” quy định tại Điều 306 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng quy định.

[10] Về án phí hình sự sơ thẩm: Theo quy định tại các điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Ngọc D phải chịu số tiền 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015;

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015;

Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 106; các điều 135, 136, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc D phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  2. Về hình phạt:

    2.1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc D 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (Năm) tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 14 tháng 11 năm 2024).

    2.2. Giao bị cáo Nguyễn Ngọc D cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố Q, tỉnh Bình Định giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

    2.3. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  3. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xét.
  4. Về vật chứng vụ án: Tuyên tịch thu và tiêu huỷ 01 (Một) phong bì giấy dán kín, niêm phong bằng dấu tròn của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng, cùng các chữ ký, chữ viết họ tên: Phạm Kim H1, Mai Thanh P (Bên trong có 01 súng điện, màu đen, phần tay cầm bằng nhựa có hình dạng hộp chữ nhật, kích thước (8,5x4x3)cm, phần thân bằng nhựa, kích thước (11x4,5x3,3)cm, phía trước thân súng có gắn viên đạn điện, mặt bên trái thân súng có chữ, số "FBQ 2002-A 80KV” và 01 bình kim loại màu đen, cao 23,5c, đường kính 6,5cm; trên thân bình có chữ, số “TAKE DOWN OO 5.5 FOGGER OC PEPPER SPRAY” trên đầu có gắn cán cầm tay màu đen, hình cung, kích thước vòng cung 16cm, nơi rộng nhất 3,5cm, nơi nhỏ nhất 02cm, phía trên có phần nút bấm bằng nhựa màu vàng kích thước (2,2x4,5) cm được cố định bằng dây kim loại. Thông số thể tích ghi trên thân bình là 470ml). Hiện vật chứng trên đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22 tháng 10 năm 2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Bình Định và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.
  5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc D phải chịu số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.
  6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo Bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 14 tháng 11 năm 2024).
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬTHẨM PHÁN–CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Định;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định;
  • - Công an huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định;
  • - Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Văn Công Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 79/2024/HS-ST ngày 14/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHƯỚC, TỈNH BÌNH ĐỊNH về hình sự (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 79/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHƯỚC, TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xong
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger