Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KIM ĐỘNG

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 79/2024/HSST

Ngày: 30/10/2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM ĐỘNG, TỈNH HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Duy Trĩnh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Quang Nguyên và bà Lê Thị Thanh Thuý.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Ngọc Huy - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Động tham gia phiên tòa: ông Dương Sơn Tùng - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên, mở phiên tòa sơ thẩm xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số: 80/2024/TLST-HS ngày 09/10/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 78/2024/QĐXXST - HS ngày 16/10/2024, đối với bị cáo: Nguyễn Văn N, sinh năm 1999; giới tính: nam, tên gọi khác: không có. Nơi cư trú: thôn Đ, xã Đ, huyện K, tỉnh Hưng Yên; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; Trình độ văn hóa: 06/12; nghề nghiệp: lao động tự do; Con ông: Nguyễn Văn T (đã chết) và bà Nguyễn Thị C; Gia đình có 03 anh, em, bị cáo là con thứ 3. Vợ, con: Chưa có.

- Tiền án: Không.

- Tiền sự:

  • Năm 2021, Công an quận B - thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp đưa đi cai nghiện bắt buộc thời gian 15 tháng, tại cơ sở cai nghiện số B Lâm Đồng, chấp hành xong ngày 12/8/2022.
  • Ngày 16/4/2024, Công an xã Đ, huyện K ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Sử dụng trái phép chất ma tuý.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/7/2024, chuyển tạm giam ngày 19/7/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện K, tỉnh Hưng Yên.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Lê Thanh T1 - Trợ giúp viên; Trung tâm giợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H.

2. Bị hại: Anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1984 (Có mặt).

Trú tại: thôn Đ, xã Đ, huyện K, tỉnh Hưng Yên.

3. Người làm chứng:

  • Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1957 (Có mặt)
  • Phạm Quốc V, sinh năm 1999 (Có mặt)
  • Đều trú tại: thôn Đ, xã Đ, huyện K, Hưng Yên.
  • Anh Lê Quốc P, sinh năm 1993 (Vắng mặt)

Trú tại: thôn N, xã M, huyện K, tỉnh Hưng Yên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 06 giờ, ngày 15/05/2024, Nguyễn Văn N, sinh năm 1999, trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện K, tỉnh Hưng Yên, đến quán B-a của anh Phạm Quốc V, sinh năm 1999, ở cùng thôn để chơi, sau đó anh V có việc phải đi ra ngoài nên N ngồi chơi một mình ở quầy thu ngân trong quán. Đến khoảng 07 giờ cùng ngày, anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1984, trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện K, tỉnh Hưng Yên điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda - Wave; Màu sơn: Xanh đen bạc, biển số 89D2 - 006.38 đến quán bi-a của anh V. Khi đến quán, anh M dựng xe mô tô ở ngoài cửa rồi đi vào trong và để chìa khóa xe trên mặt bàn quầy thu ngân mà Nguyễn Văn N đang ngồi, sau đó nằm ra ghế Sofa trong quán để ngủ. Lúc này, Nguyễn Văn N nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe mô tô trên của anh M đem đi bán để lấy tiền tiêu xài cá nhân. Sau khi thấy anh M đã ngủ say, N đã lấy chìa khóa xe mô tô mà anh M để trên mặt bàn chỗ mình đang ngồi, rồi đi ra cửa quán bi-a mở khóa xe mô tô của anh M và điều khiển xe mô tô đi lên thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên để tìm chỗ tiêu thụ. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, N điều khiển xe mô tô trên đi đến khu dân cư thuộc thôn H, TT. N, huyện V, tỉnh Hưng Yên và bán cho một người đàn ông không quen biết, tên N1, khoảng 40 tuổi (Nho không biết tên, tuổi thật và địa chỉ cụ thể) với giá 5.000.000đ (Năm triệu đồng).

Ngày 21/5/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện K đã tiến hành quản lý dữ liệu hình ảnh là 02 đoạn video ngày 15/5/2024 từ Camera tại quán bi-a của anh Phạm Quốc V ghi lại hình ảnh 01 nam thanh niên dáng người cao gầy, đội mũ lưỡi trai màu đen, mặc áo cộc tay màu ghi -xám, quần bò màu xanh da trời, có hình xăm bên cánh tay trái đang có hành vi lấy chùm chìa khoá tại bàn thu ngân rồi đi ra ngoài, cắm chìa khoá vào ổ khoá của xe mô tô 89D2 – 006.38, lùi xe ra đường nhựa phía truớc quán bi-a rồi điều khiển xe đi về hướng đường đê.

Ngày 28/5/2024, Cơ quan CSĐT - Công an huyện K đã tiến hành cho bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1957, trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện K, tỉnh Hưng Yên (là mẹ đẻ của Nguyễn Văn N), anh Phạm Quốc V và anh Nguyễn Văn M nhận diện video được trích xuất tại tại quán B-a ngày 15/5/2024. Bà C, anh V và anh M đều xác định Nguyễn Văn N là người xuất hiện trong 02 đoạn video đó.

Tại Kết luận giám định số 170/KL-KTHS(KTS) ngày 11/7/2024 của Phòng K - Công an tỉnh H, kết luận: Không phát hiện thấy dấu hiệu cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 02 file video gửi giám định.

Tại Kết luận định giá tài sản số 48/KL - HĐĐGTS ngày 17/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng huyện K, kết luận: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, SK: QLHJA3920NY220707, màu xanh đen bạc, SM: JA39E2716347, BKS 89D2-006.38, đã qua sử dụng tại thời điểm ngày 15/5/2024 có trị giá là 11.167.000 đồng (Mười một triệu một trăm sáu mươi bảy nghìn đồng).

Ngày 19/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện K đã ra Lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn N tại thôn Đ, xã Đ, huyện K, tỉnh Hưng Yên nhưng không thu giữ được gì liên quan đến hành vi phạm tội.

Đối với người đàn ông tên N1, đã mua chiếc xe mô tô biển số 89D2-006.38. Quá trình điều tra, N khai nhận gặp lần đầu, không biết tên, tuổi thật và địa chỉ cụ thể của người đàn ông trên. Cơ quan CSĐT – Công an huyện K đã xác minh tại TT. N huyện V xác định trên hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư của TT. Như Q không có trường hợp nào tên N1 trong độ tuổi 40. Vì vậy, không có căn cứ để xử lý.

Về vật chứng: Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda - Wave; Màu sơn: Xanh đen bạc, biển số 89D2 - 006.38. Cơ quan CSĐT – Công an huyện K đã truy tìm vật chứng. Tuy nhiên đến nay chưa thu giữ được và chưa xác định được đối tượng mua chiếc xe trên từ Nguyễn Văn N.

- Đối với 01 USB trích xuất dữ liệu hình ảnh ngày 15/5/2024 từ Camera tại quán B-a của anh Phạm Quốc V, hiện đang được quản lý trong hồ sơ vụ án.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Văn M là chủ sở hữu chiếc xe yêu cầu Nguyễn Văn N phải bồi thường giá trị chiếc xe theo kết quả định giá và đề nghị xử lý Nho theo quy định của pháp luật.

Cáo trạng số 81 /CT-VKSKĐ ngày 09/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Động đã truy tố Nguyễn Văn N về tội Trộm cắp tài sản, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

  • Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Về trách nhiệm dân sự, bị cáo nhất trí bồi thường anh M giá trị chiếc xe theo kết quả định giá là 11.167.000 đồng.
  • Bị hại: Anh Mạnh nhất trí quan điểm của bị cáo về việc bồi thường cho bị hại số tiền 11.167.000 đồng; đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
  • Người làm chứng, anh Phạm Quốc V trình bày: Sau khi sự việc sảy ra đã xem lại và trích xuất camera hình ảnh buổi sáng ngày 15/5/2024, khẳng định người lấy chiếc xe của anh M được ghi lại hình ảnh là Nguyễn Văn N, ngaoif ra anh không bị mất mát tài sản gì.
  • Người làm chứng, bà Nguyễn Thị C trình bày: bà là mẹ của bị cáo, sau khi sự việc sảy ra bà mới biết được việc bị cáo lấy xe của anh M, do hoàn cảnh khó khăn, bà đang phải trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Động giữ nguyên cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn N về tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i; s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 16/7/2024.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 357, Điều 468 khoản 1 Điều 584, khoản 1 Điều 585, khoản 1 Điều 586 và Điều 589 Bộ luật Dân sự: Bị cáo N phải bồi thường cho anh M trị giá chiếc xe máy là 11.167.000 đồng.

Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí trách nhiệm dân sự cho bị cáo.

Người bào chữa, Luật sư Lê Thanh T1 có quan điểm: Việc truy tố, xét xử bị cáo theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ và đúng pháp luật.Đề nghị xem xét hoàn cảnh giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát đã nêu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Động; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, việc giao nộp và thu thập tài liệu, chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật; Bị cáo, người bào chữa, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với kết luận định giá tài sản, đơn trình báo, lời khai của người bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 07 giờ, ngày 15/5/2024, tại quán bi-a của anh Phạm Quốc V, có địa chỉ tại thôn Đ, xã Đ, huyện K, tỉnh Hưng Yên, Nguyễn Văn N đã trộm cắp chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave màu sơn xanh đen bạc, biển số 89D2 - 006.38 của anh Nguyễn Văn M, trị giá là 11.167.000 đồng (Mười một triệu một trăm sáu mươi bảy đồng).

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật, nhưng bị cáo đã lén lút thực hiện hành vi trộm cắp nhằm chiếm chiếc xe mô tô của anh Nguyễn Văn M, trị giá là 11.167.000 đồng.

Như vậy, hành vi của các bị cáo Nguyễn Văn N đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự như Cáo trạng số 81/CT - VKSKĐ ngày 09/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Động là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị đưa đi cai nghiện bắt buộc và bị xử phạt hành chính về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy.

[4] Về tiền án, tiền sự:

- Tiền án: Bị cáo không có tiền án.

- Tiền sự:

  • Năm 2021, Công an quận B - thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp đưa đi cai nghiện bắt buộc thời gian 15 tháng, tại cơ sở cai nghiện số B Lâm Đồng, chấp hành xong ngày 12/8/2022.
  • Ngày 16/4/2024, Công an xã Đ, huyện K ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Sử dụng trái phép chất ma tuý.

[5] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[6] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình; Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tại phiên tòa bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; Do đó, cần cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i; s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[7] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu của công dân được pháp luật bảo vệ, hành vi của bị cáo làm mất trật tự trị an, gây hoang mang dao động và bất bình trong quần chúng nhân dân. Chính vì vậy, cần phải có hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Mặc dù bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nhưng chỉ vì lười lao động, muốn hưởng lợi từ người khác bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, sau khi sảy ra sự việc bị cáo không có ý thức bồi thường khắc phục hậu quả do hành vi trái pháp luật của mình gây ra; bị cáo đã từng nhiều lần bị xử phạt hành chính do lỗi cố ý, bị cáo không lấy đó làm bài học mà bất chấp kỷ cương, coi thường pháp luật thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, xét cần thiết phải có hình phạt tương xứng, cho cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, mục đích để trừng trị kẻ phạm tội, đồng thời giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.

[8] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội và điều kiện, hoàn cảnh kinh tế của bị cáo là lao động tự do thu nhập thấp nên xét thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[9] Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 30 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 468; Điều 584, Điều 585; Điều 589 Bộ luật dân sự 2015: Anh Nguyễn Văn M yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho anh giá trị chiếc xe là có căn cứ. Tại phiên tòa bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường giá trị chiếc xe theo kết luật định giá là 11.167.000 đồng, bị cáo chấp nhận nên cần ghi nhận sự nguyện thỏa thuận của bị hại và bị cáo, buộc bị cáo phải bồi thường cho anh M số tiền là 11.167.000 đồng.

Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn đề nghị thi hành án hợp lệ, nếu chậm thanh toán trả khoản tiền trên thì bị cáo còn phải chịu lãi suất theo mức quy định tại khoản 2 điều 357 của Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm thi hành.

[10] Về xử lý vật chứng: Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda - Wave; Màu sơn: Xanh đen bạc, biển số 89D2 - 006.38. Cơ quan CSĐT – Công an huyện K đã truy tìm nhưng chưa thu giữ được nên không đặt ra xem xét giải quyết.

- Đối với 01 USB trích xuất dữ liệu hình ảnh ngày 15/5/2024 từ Camera tại quán bi-a của anh Phạm Quốc V cần được tiếp tục quản lý trong hồ sơ vụ án.

[11] Về án phí: Bị cáo thuộc diện hộ nghèo nên được miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm và án phí trách nhiệm dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án.

[12] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[13] Đối với người đàn ông tên N1, đã mua chiếc xe mô tô biển số 89D2-006.38. Quá trình điều tra, N khai nhận gặp lần đầu, không biết tên, tuổi và địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ xác minh xử lý là có căn cứ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội” Trộm cắp tài sản”.
    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn N 01 (một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 16/7/2024.
  2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 30 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 357; Điều 468; Điều 584, Điều 585; Điều 589; Bộ luật dân sự 2015: Chấp nhận sự thỏa thuận của bị cáo và bị hại. Buộc Nguyễn Văn N phải bồi thường cho anh Nguyễn Văn M số tiền là 11.167.000 đồng (Mười một triệu một trăm sáu mươi bảy nghìn đồng).
    Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn đề nghị thi hành án hợp lệ, nếu chậm thanh toán trả khoản tiền trên thì bị cáo còn phải chịu lãi suất theo mức quy định tại khoản 2 điều 357 của Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm thi hành.
    Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  3. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí trách nhiệm dân sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Văn N.
  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hai có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 kể từ ngày tuyên án (30/10/2024).

Nơi nhận:

  • - Phòng KTNV và THA TAND tỉnh Hưng Yên;
  • - VKSND tỉnh Hưng Yên;
  • - VKSND, CA huyện Kim Động;
  • - Chi cục THADS huyện Kim Động;
  • - Bị cáo; Người bào chữa cho bị cáo; Bị hại;
  • - UBND xã Đức Hợp;
  • - Lưu: Hồ sơ, VP Tòa án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Đào Duy Trĩnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 79/2024/HSST ngày 30/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM ĐỘNG, TỈNH HƯNG YÊN về trộm cắp tài sản (criminal first instance)

  • Số bản án: 79/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Criminal First Instance)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM ĐỘNG, TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn N - Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger