Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU PHÚ

TỈNH AN GIANG

Bản án số: 79/2024/HS-ST

Ngày 30 tháng 10 năm 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Linh.

  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Bờ - ông Mai Minh Chánh.

  • - Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thảo Vy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú tham gia phiên tòa: Ông Triệu Nhựt Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 70/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Lâm Văn T (Tí Mọi), sinh năm 1990; nơi sinh: Huyện C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông (không xác định) và bà Lâm Thị Kim L; bị cáo có vợ tên Hứa Ngọc N, sinh năm 1992 và có 04 con.

Tiền án: 03 lần. Lần 1: Ngày 04/3/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Phú xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 18/6/2020 chấp hành xong hình phạt. Lần 2: Ngày 12/4/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau xử phạt 01 năm 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 09/8/2022, chấp hành xong hình phạt. Lần 3: Ngày 12/9/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Hiện đang chấp hành án tại Trại giam K1 thuộc Bộ C.

Tiền sự: Không.

Về nhân thân: Ngày 10/6/2008, bị Ủy ban nhân dân huyện C áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng thời hạn 24 tháng đến ngày 01/4/2010 chấp hành xong quyết định.

Bị cáo Lâm Văn T hiện đang được trích xuất từ Trại giam K1 đến Nhà tạm giữ - Công an huyện C để phục vụ cho công tác điều tra, truy tố, xét xử từ ngày 15/8/2024 cho đến ngày 15/12/2024.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa theo hình thức trực tuyến, tại điểm cầu Nhà tạm giữ Công an huyện C và điểm cầu Tòa án nhân dân huyện Châu Phú.

  • - Bị hại: Nguyễn Văn H, sinh năm 1982; nơi cư trú: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt)

  • - Người làm chứng được triệu tập đến phiên tòa: Lâm Thế H1 (vắng mặt), Lê Phúc L1 (vắng mặt), Nguyễn Nhựt T1 (vắng mặt), Dương Phúc T2 (vắng mặt), Nguyễn Trọng H2 (vắng mặt), Nguyễn Văn P (vắng mặt), Lâm Ngọc T3 (vắng mặt), Trần Bá Vạn T4 (vắng mặt), Nguyễn Văn T5 (vắng mặt), Trần Thị A (vắng mặt), Nguyễn Thị Trúc M (vắng mặt), Hồ Hoàng H3 (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 22/7/2014, Lâm Thế H1 cùng với Lê Phúc L1, Nguyễn Nhựt T1, Nguyễn Văn T5 và Trần Bá Vạn T4 tổ chức uống rượu tại quán cháo “T" thuộc ấp B, xã B, huyện C, đến khoảng 21 giờ cùng ngày thì T5, T4 ra về trước. Trong lúc uống rượu H1 nhìn thấy Lâm Ngọc T3 (Tuấn B) điều khiển xe mô tô chạy ngang, nhớ lại mâu thuẫn trước đây H1 nảy sinh ý định đánh T3, nên H1 đi bộ về nhà lấy cây rựa (dài khoảng 60cm) mang đến quán. Do quán nghỉ bán nên H1 rủ Phúc L1, T1 đến quán “Đồng Quê” thuộc tổ A, ấp B, xã B, huyện C để tiếp tục uống rượu. Tại đây, H1 rủ Phúc L1 và T1 đi tìm nhóm T3 Bánh mì đánh thì cả hai đồng ý. Khoảng 23 giờ cùng ngày H1 lấy cây rựa, Phúc L1 lấy cây dao tự chế (dài khoảng 60 cm), T1 lấy đoạn gỗ vuông (dài khoảng 60 cm) đi tìm T3 để đánh. Trên đường đi ngang nhà của Lâm Văn T, thấy T đang ngồi uống rượu cùng với Dương Phúc T2 nên H1 đi vào rủ T và T2 cùng đi tìm nhóm T3 Bánh mì để đánh thì cả hai đồng ý, trên đường đi ngang qua quán “Ba Lít” T và T2 ghé vào mỗi người lấy 02 vỏ chai bia bằng thủy tinh cầm trên 02 tay, rồi tất cả đi bộ đến nhà của Trần Thị A thuộc ấp B, xã B, huyện C thì phát hiện T3 Bánh mì đang ngồi nhậu chung với Nguyễn Văn H, Huỳnh Thanh K (Hết), Trần Quốc V, Nguyễn Thị Trúc M, Nguyễn Trọng H2 và nhiều người khác, thì H1 hô lên “Nó kìa, đánh nó” ngay tức khắc T và T2 dùng vỏ chai bia ném vào, đồng thời H1 cầm cây rựa trên tay phải xông vào chỗ H đang ngồi chém từ trên xuống, H đưa 02 tay lên đở làm trúng tay của H gây thương tích. Phúc L1 cầm dao tự chế chém trúng vào phía sau H2 nhưng chỉ gây sây sát nhẹ, T1 thì cầm đoạn gỗ vuông đứng bên ngoài. Lúc này, có người tri hô có công an đến, nên H1, Phúc L1, T1, T và T2 bỏ chạy, trên đường đi thì H1, Phúc L1 và T1 ném bỏ hung khí.

Ngày 28/10/2014, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C khởi tố vụ án và thông báo truy tìm đối tượng gây án. Đến ngày 26/02/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C khởi tố bị can đối với H1, Phúc L1, T và T2; ngày 11/3/2024, khởi tố bị can đối với T1. Riêng T sau khi sự việc xảy ra đã lẫn trốn khỏi địa phương, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C ra quyết định truy nã.

Qua xác minh, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C xác định Lâm Văn T đang chấp hành án tại Trại giam K1 - Bộ C. Ngày 24/6/2024 và 15/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C ra quyết định đình nã va phục hồi điều tra vụ án hình sự, phục hồi điều tra bị can để điều tra.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 298/14/TgT ngày 03/10/2014 của Trung tâm pháp y và Pháp y tâm thần tỉnh A, ghi nhận đối với bị hại Nguyễn Văn H như sau:

  1. Dấu hiệu chính qua giám định:

    • - Sẹo cổ tay trái mặt lưng vòng bờ ngoài ra mặt lòng kích thước 10.5 x 0.6 cm, đứt gân cơ gấp cổ tay trụ, gân gấp nông sâu ngón IV, V, đứt gân duỗi các ngón, đứt động mách trụ - thần kinh trụ, gãy hở đầu dưới xương trụ - đã phẫu thuật khâu nối gân, thần kinh trụ, kết hợp xương trụ;

    • - Sẹo dọc mặt lòng đốt 2 - 3 ngón IV bàn tay phải kích thước 2.5 x 0.1 cm;

    • - Mất ngón V bàn tay phải.

  2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 26% (Hai mươi sáu phần trăm).

Tang vật thu giữ trong vụ án: Không có.

Trong quá trình điều tra và truy tố, những người tham gia tố tụng trong vụ án khai như sau:

  • - Lâm Thế H1, Lê Phúc L1, Nguyễn Nhựt T1, Dương Phúc T2 và Lâm Văn T: Khai nhận phù hợp với nội dung vụ án và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

  • - Bị hại Nguyễn Văn H trình bày: Phù hợp nội dung vụ án. Sau khi sự việc xảy ra H1 đã bồi thường cho H 20.000.000 đồng, T2 đã bồi thường cho H 3.000.000 đồng, nên H bãi nại, không yêu cầu xử lý hình sự và không yêu cầu bồi thường gì thêm. Ngoài ra, H xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo H1, Phúc L1, T1 và T2.

  • - Người làm chứng Nguyễn Trọng H2 khai: Phù hợp với nội dung vụ án. Sau khi sự việc xảy ra H2 không bị thương tích, nên từ chối giám định thương tích, không yêu cầu xử lý hình sự và bồi thường thiệt hại.

  • - Những người làm chứng Nguyễn Văn P, Lâm Ngọc T3, Trần Bá Vạn T4, Nguyễn Văn T5, Trần Thị A, Nguyễn Thị Trúc M, Hồ Hoàng H3, Nguyễn Thị Thúy Á, Trần Ngọc L2, Nguyễn Văn T6 đã khai phù hợp với nội dung vụ án.

Tại bản Cáo trạng số: 70/CT-VKSCP ngày 01 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang: Truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Châu Phú để xét xử bị cáo Lâm Văn T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Lâm Văn T khai nhận phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra và truy tố. Bị cáo thừa nhận nội dung bản Cáo trạng truy tố đối với bị cáo là đúng, bị cáo nhận tội, không tranh luận. Về bồi thường thiệt hại, bị cáo cho đến nay không có bồi thường cho H. Lời nói sau cùng, bị cáo nhận thấy ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình phạt.

Người làm chứng Hồ Hoàng H3 khai phù hợp với lời khai của mình trong giai đoạn điều tra, truy tố và phù hợp với nội dung vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú thực hiện quyền công tố tại phiên tòa: Giữ nguyên quyết định như Cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo, Viện kiểm sát đề nghị:

  • - Về trách nhiệm hình sự:

    + Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, Điều 17, Điều 38, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, các điều 55, 56 và 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xử phạt bị cáo Lâm Văn T từ 02 (Hai) năm đến 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.

    + Về tổng hợp hình phạt: Bị cáo Lâm Văn T đang chấp hành án phạt 02 năm tù tại Trại giam K1 thuộc Bộ C, về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án hình sự sơ thẩm số: 27/2023/HS-ST ngày 12/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu. Tính đến ngày 29/10/2024, bị cáo T đã chấp hành án phạt tù được 01 năm 05 tháng 25 ngày, còn phải chấp hành 06 tháng 05 ngày. Căn cứ Điều 56 Bộ luật Hình sự, đề nghị tổng hợp hình phạt chung từ 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng 05 (Năm) ngày đến 03 (Ba) năm 05 (Năm) ngày, tính kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

  • - Về trách nhiệm dân sự: Lâm Thế H1, Dương Phúc T2 và bị hại Nguyễn Văn H đã thỏa thuận bồi thường xong, H không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên không xem xét.

  • - Về án phí hình sự sơ thẩm: Giải quyết theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Trong giai đoạn điều tra và truy tố, Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

[1.2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Bị hại, những người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai ở Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai nhận của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố và phù hợp nội dung vụ án nên việc vắng mặt của những người này không làm ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ vào Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[1.3] Về luật áp dụng: Căn cứ Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015, thì hành vi phạm tội của các bị cáo Lâm Văn T và Lâm Thế H1, Lê Phúc L1, Nguyễn Nhựt T1, Dương Phúc T2 được áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giải quyết, do quy định khung hình phạt nhẹ hơn, có lợi cho các bị cáo.

[1.4] Về thời hiệu: Tội phạm được thực hiện vào ngày 22/7/2014. Bị cáo phạm tội mới gần nhất vào ngày 03/5/2023 và bị Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 20/6/2024, Cơ quan điều tra Công an huyện C ra quyết định truy nã thì phát hiện T đang chấp hành án tại Trại giam K1 thuộc Bộ C nên tiến hành trích xuất về Nhà tạm giữ Công an huyện C để điều tra, truy tố, xét xử. Do đó, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được tính lại kể từ ngày phạm tội mới 03/5/2023, nên vẫn còn thời hiệu theo quy định tại điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 27 Bộ luật Hình sự.

[2] Về trách nhiệm hình sự:

[2.1] Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Lâm Văn T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát; phù hợp với lời khai của các bị cáo đã bị xét xử là Lâm Thế H1, Lê Phúc L1, Nguyễn Nhựt T1 và Dương Phúc T2, lời khai của bị hại và những người làm chứng; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 23/7/2014 và Biên bản thực nghiệm điều tra ngày 12/3/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C; Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 298/14/TgT ngày 03/10/2014 của Trung tâm pháp y và Pháp y tâm thần tỉnh A. Do đó, có đủ cơ sở xác định: Vào ngày 22/7/2014, bị cáo Lâm Văn T là đồng phạm với Lâm Thế H1, Lê Phúc L1, Nguyễn Nhựt T1, Dương Phúc T2 đã có hành vi “dùng hung khí nguy hiểm” là cây rựa bằng kim loại, chém bị hại Nguyễn Văn H gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 26% (Hai mươi sáu phần trăm). Hành vi phạm tội xuất phát từ mâu thuẫn nhỏ nhặt với Lâm Ngọc T3 (T3 Bánh mì) mà tìm nhóm của T3 để đánh nhau gây thương tích, nên hành vi phạm tội còn “có tính chất côn đồ”.

[2.2] Xét thấy, mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ. Bị cáo T là người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật, có thể gây ra tổn thương cơ thể cho người khác nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo T và các đồng phạm Lâm Thế H1, Lê Phúc L1, Nguyễn Nhựt T1, Dương Phúc T2 đã xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do đó, hành vi của bị cáo T đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[2.3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tình tiết dùng hung khí nguy hiểm và tình tiết có tính chất côn đồ đã áp dụng làm tình tiết định khung hình phạt nên không áp dụng là tình tiết tăng nặng. Hành vi cố ý gây thương tích xảy ra trước các hành vi trộm cắp tài sản theo các bản án của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú (tỉnh An Giang), huyện T (tỉnh Cà Mau) và huyện P (tỉnh Bạc Liêu) nên không áp dụng tình tiết tăng nặng tái phạm, tái phạm nguy hiểm trong vụ án này. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại H không yêu cầu xử lý hình sự đối với các bị cáo. Do đó, bị cáo T được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[2.4] Xét về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và nhân thân bị cáo nhận thấy: Hành vi của bị cáo T và các đồng phạm Lâm Thế H1, Lê Phúc L1, Nguyễn Nhựt T1, Dương Phúc T2 thể hiện sự hung hăng, quyết liệt khi thực hiện hành vi phạm tội, xem thường sức khỏe của người khác, cho thấy thái độ xem thường pháp luật của bị cáo và đồng phạm. Do đó, cần buộc bị cáo T phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn tương xứng để răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung. Bị cáo T và H1, Phúc L1, T1, T2 phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, có sự thống nhất ý chí, cố ý cùng thực hiện hành vi đánh nhau và chấp nhận hậu quả xảy ra khi đánh nhau. Đối với H1 là người khởi xướng việc đánh nhau với nhóm của Lâm Ngọc T3 và là người lôi kéo, kích động bị cáo T, Phúc L1, T1 và T2 thực hiện hành vi phạm tội. H1 là người trực tiếp chém gây thương tích cho H nên trong việc thực hiện hành vi phạm tội thì H1 có vai trò chính, vừa là người thực hành, vừa là người xúi giục các bị cáo khác thực hiện tội phạm.

Hội đồng xét xử xét thấy, hành vi của T có tính chất nguy hiểm tương đương với hành vi của T2, nhưng do T2 có nhiều tình tiết giảm nhẹ hơn, có bồi thường cho bị hại nên đã được áp dụng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là 01 năm 06 tháng tù. Đối với bị cáo T có ít tình tiết giảm nhẹ hơn và không có bồi thường, khắc phục hậu quả cho bị hại, chỉ có 01 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nên Hội đồng xét xử áp dụng mức hình phạt của T là 02 năm tù, bằng mức thấp nhất của khung hình phạt là phù hợp.

[2.5] Về tổng hợp hình phạt: Bị cáo T đang chấp hành án phạt 02 năm tù tại Trại giam K1 thuộc Bộ C, về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án hình sự sơ thẩm số: 27/2023/HS-ST ngày 12/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu. Tính đến ngày 29/10/2024, bị cáo T đã chấp hành án phạt tù được 01 năm 05 tháng 25 ngày, còn phải chấp hành 06 tháng 05 ngày.

Căn cứ Điều 55, khoản 1 Điều 56 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử quyết định hình phạt đối với tội đang bị xét xử là 02 năm tù, tổng hợp với hình phạt tại Bản án số 27/2023/HS-ST ngày 12/9/2023 thành hình phạt chung là 04 năm tù, trừ ra thời gian bị cáo đã chấp hành là 01 năm 05 tháng 25 ngày. Bị cáo còn phải chấp hành hình phạt chung là 02 năm 06 tháng 05 ngày, tính kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 30/10/2024.

[2.6] Đối với Lâm Thế H1, Lê Phúc L1, Nguyễn Nhựt T1 và Dương Phúc T2: Ngày 10/5/2024, đã bị Tòa án nhân dân huyện Châu Phú xét xử về tội “Cố ý gây thương tích”, tuyên phạt Lâm Thế H1 02 năm 06 tháng tù; Lê Phúc L1 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 03 năm; Nguyễn Nhựt T1 01 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 năm 06 tháng; Dương Phúc T2 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 năm.

[3] Về trách nhiệm dân sự: Lâm Thế H1, Dương Phúc T2 và bị hại Nguyễn Văn H đã thỏa thuận bồi thường xong, H không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì thêm nên không xem xét.

[4] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134, Điều 17, Điều 38, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 55, khoản 1 Điều 56, Điều 58 của Bộ luật Hình sự;

  • - Tuyên bố: Bị cáo Lâm Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

  • - Xử phạt bị cáo Lâm Văn T: 02 (Hai) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”.

  • - Tổng hợp hình phạt với Bản án hình sự sơ thẩm số: 27/2023/HS-ST ngày 12/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu, bị cáo Lâm Văn T còn phải chấp hành hình phạt chung là 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng 05 (Năm) ngày tù, tính kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 30/10/2024).

Căn cứ vào các điều 136, 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

  • - Về án phí: Bị cáo Lâm Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

  • - Về quyền kháng cáo: Bị cáo Lâm Văn T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo, bị hại (2);
  • - TAND tỉnh An Giang (1);
  • - VKSND tỉnh An Giang (1);
  • - VKSND huyện Châu Phú (1);
  • - Nhà tạm giữ, THAHS CA.HCP (2);
  • - Bộ phận THA Tòa án (1);
  • - Chi cục THADS H.Châu Phú (1);
  • - Phòng hồ sơ Công an tỉnh AG (1);
  • - Sở Tư Pháp tỉnh AG (1);
  • - UBND xã Bình Thủy;
  • - Lưu hồ sơ Tòa án (1);
  • - Lưu: VT (1).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Duy Linh

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Nguyễn Ngọc Bờ

Chánh

 

Mai Minh

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Duy Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 79/2024/HS-ST ngày 30/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 79/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger