TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI LỘC TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 79/2024/HS-ST Ngày 09 - 10 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI LỘC – TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Thị Hồng Thể
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Dũng
Ông Nguyễn Xuân Vinh
Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hải
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc tham gia phiên tòa:
Bà Doãn Thị Ánh Tuyết - Kiểm sát viên.
Từ ngày 08 đến ngày 09 tháng 10 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 67/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 95/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2024/QĐTS-HS ngày 19/9/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 14/2024/QĐTS-HS ngày 02/10/2024 đối với bị cáo:
Hà Ngọc V - sinh ngày 10/10/1989 tại huyện N, tỉnh Nghệ An. Tên gọi khác: Không. Nơi thường trú: Xóm G, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Công giáo; Giới tính: Nam; Con ông Hà Văn T và bà Trịnh Thị B; vợ Nguyễn Thị T1 (sinh năm 1998) và chưa có con; Tiền sự, tiền án: không; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn "Cấm đi khỏi nơi cư trú" và "Tạm hoãn xuất cảnh" từ ngày 09/4/2024 đến ngày 01/6/2024. Có mặt.
Bị hại: Công ty Cổ phần D2; Địa chỉ: 4 X, phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Trần Thị Thiện M; sinh năm 1974; Nơi cư trú: B T, phường A, quận B, thành phố Hồ Chí Minh (theo Giấy ủy quyền số 20/GUQ-GHN/2023 ngày 17/01/2023) – chức vụ: Giám đốc kiểm soát nội bộ. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Qua đơn tố giác của Công ty Cổ phần D2 và quá trình điều tra tại Công an huyện N, đối tượng Hà Ngọc V đã thừa nhận về hành vi "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" như sau:
Ngày 01/11/2022, Hà Ngọc V được Công ty Cổ phần D2 hàng nhanh ký hợp đồng làm Bưu cục trưởng Công ty Cổ phần D2 - Chi nhánh huyện N thuộc khối A, thị trấn Q, huyện N, tỉnh Nghệ An) theo Hợp đồng lao động số 242172/HĐLĐ/EXP/2022. Nhiệm vụ, quyền hạn của Bưu cục trưởng là: Giám sát toàn bộ hoạt động của bưu cục; theo dõi, nắm bắt tình hình hoạt động của bưu cục và báo cáo lại với Công ty; các đơn hàng của Công ty chuyển đến bưu cục được ứng dụng "Tài xế giaohangnhanh" (A2) tự động phân cho các nhân viên giao hàng theo khu vực đã được phân công trong hợp đồng đã ký giữa Công ty và nhân viên giao hàng. Bưu cục trưởng có thể đăng nhập vào hệ thống quản lý đơn hàng để kiểm tra, giám sát các đơn hàng mà Công ty đã phân cho nhân viên; có quyền tìm kiếm, phỏng vấn, đề xuất ứng viên phù hợp để Công ty ký hợp đồng với nhân viên giao hàng. Bưu cục trưởng không có quyền trực tiếp can thiệp vào quản lý hoặc điều hành tài sản (không được tự ý sử dụng hoặc tự lấy hàng hóa và đi giao hàng hóa cho khách hàng; không được thu tiền thanh toán từ khách hàng; không được thu tiền thanh toán của khách hàng từ nhân viên xử lý hoặc nhân viên giao hàng để sử dụng vào mục đích cá nhân). Bưu cục trưởng chỉ được quyền thay thế và thực hiện các công việc của nhân viên xử lý và nhân viên giao hàng khi bưu cục thiếu nhân viên xử lý, thiếu nhân viên giao hàng hoặc những người này tạm thời nghỉ phép. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, V phát hiện đối với số đơn hàng đang trong giai đoạn quản lý của nhân viên giao hàng có yêu cầu thu tiền từ người nhận hàng (tiền thu hộ) nhưng nhân viên giao hàng sau khi giao hàng và nhận tiền không thực hiện thao tác báo lại kết quả thì hệ thống của Công ty theo địa chỉ W là https://khachhang.ghn.vn(gọi tắt là Hệ thống) sẽ được tự động cập nhật sang mục hàng hóa bị mất, hư hỏng và Công ty sẽ đứng ra thanh toán các chi phí cho bên bán hàng mà không tổ chức kiểm tra, xác minh rõ nguyên nhân gây mất, hư hỏng.
Phát hiện kẽ hở trong quản lý, xử lý hàng hóa bị mất, hư hỏng trong giai đoạn giao hàng nên V nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền thanh toán từ khách hàng của Công ty. Để thực hiện được ý định đó, đầu năm 2023, V đã tự ý lấy thông tin cá nhân của chị dâu là Đinh Thị Q (sinh năm 1980, trú tại xóm G, xã N, huyện N), mạo danh chị Q nộp hồ sơ và đề xuất với Công ty K2 (trực tuyến) số 3014536/2023/HĐDV/GHN để trở thành nhân viên giao hàng có mã ID nhân viên là 3014536, số điện thoại 0586.876.xxx và lập tài khoản số [...] tại Ngân hàng C2 (V3), mã nhân viên và tài khoản ngân hàng - đều mang tên chị Đinh Thị Q (do Vịnh quản lý và sử dụng, chị Q không biết việc làm này của V) để được phân đơn theo khu vực đã ghi trong hợp đồng đã ký với Công ty.
Do có quyền giám sát nên V tự ý vào kho, không thông qua hoạt động nhận – bàn giao thuộc quyền hạn của nhân viên xử lý rồi chọn lấy những đơn hàng có trị giá lớn để giao cho khách. V sử dụng số điện thoại 0868.490.xxx và số điện thoại 0586.876.xxx lắp trên điện thoại di động Samsung A20 để liên lạc, nhận là nhân viên giao hàng (Đinh Thị Q) rồi dùng xe ô tô nhãn hiệu Mitsubishi Triton, biển kiểm soát 37C-412.28 đi giao hàng và nhận tiền thanh toán từ khách hàng nhưng V không cập nhật tình trạng đơn hàng đã giao thành công trên Hệ thống, không nộp tiền đã thu trong ngày cho Công ty để Công ty thanh toán lại cho khách hàng khiến Hệ thống xác nhận trạng thái bị mất hàng. Số tiền thanh toán của khách hàng thì chuyển vào số tài khoản 100868972640 - Ngân hàng C2 do Vịnh quản lý hoặc nhận tiền mặt từ khách hàng để chi tiêu cá nhân.
Trong khoảng thời gian từ 11/7/2023 đến 10/8/2023, với phương thức trên, V đã chiếm đoạt của Công ty Cổ phần D2 hàng nhanh với tổng số tiền là 54.334.898 đồng, cụ thể:
- - Ngày 11/7/2023, lấy đơn hàng có mã số G8QUPGN4 có giá trị 2.626.999 đồng đi giao cho anh Hồ Quốc A và đã được thanh toán.
- - Ngày 12/7/2023, lấy đơn hàng có mã số G8QN6LM9 có giá trị 2.593.500 đồng đi giao cho anh Đặng T2 và đã được thanh toán.
- - Ngày 17/7/2023, lấy 03 đơn hàng: Đơn có mã số G8Q3GD3H có giá trị 1.545.000 đồng giao cho chị Phạm Thị M1; Đơn có mã số G8QB8BMB có giá trị 22.000.000 đồng giao cho anh Nguyễn Anh T3; Đơn hàng có mã số G8Q43RLB có giá trị 1.466.000 đồng giao cho anh Nguyễn Quốc D. Tổng số tiền khách hàng thanh toán là 25.011.000 đồng.
- - Ngày 27/7/2023, lấy đơn hàng có mã số G8QMUEBT có giá trị 3.350.000 đồng giao cho anh Nguyễn Văn D1 và đã được thanh toán.
- - Ngày 02/8/2023, lấy đơn hàng có mã số G8LU87DC có giá trị 3.283.000 đồng giao cho chị Nguyễn Thị Như Q1 và đã được thanh toán
- - Ngày 03/8/2023, lấy đơn hàng có mã số G8LGQRMF có giá trị 3.383.500 đồng giao cho chị Nguyễn Thị Hồng V1 và đã được thanh toán
- - Ngày 04/8/2023, lấy đơn hàng có mã số G8LCKLED có giá trị 3.445.900 đồng giao cho anh Đặng Khắc K và đã được thanh toán
- - Ngày 05/8/2023, lấy đơn hàng có mã số G8LCGXQV có giá trị 3.823.500 đồng giao cho anh Nguyễn Bá V2 và đã được thanh toán
- - Ngày 10/8/2023, lấy 02 đơn hàng: Đơn mã số G8L37NC6 có giá trị 5.182.499 đồng giao cho anh Nguyễn Quốc H; Đơn mã số G8LPTXMM có giá trị 1.635.000 đồng giao cho anh Nguyễn Đình C. Tổng số tiền đã được thanh toán là 6.817.499 đồng.
Ngoài ra, V còn chiếm đoạt 06 đơn hàng khác gồm: mã số G8QU6ANQ ngày 08/7/2023 trị giá 1.737.146 đồng (khách hàng Nguyễn L); mã số G8QU76XM ngày 09/7/2023 trị giá 1.764.170 đồng (khách hàng Phan Thị Hoàng A1); mã số G8QGR73D ngày 10/7/2023 trị giá 1.851.499 đồng (khách hàng Nguyễn Đình K1); mã số G8Q89AMV ngày 24/7/2023 trị giá 1.827.800 đồng (khách hàng Vũ Đức B1); mã số G8QEKPC3 ngày 29/7/2023 trị giá 1.984.020 đồng (khách hàng Hoàng Thị T4); mã số G8LGGXPC ngày 01/8/2023 trị giá 1.729.920 đồng (khách hàng Bùi Thị Thanh M2).
Sau khi bị phát giác và tố giác V đã bồi thường toàn bộ số tiền các đơn hàng đã chiếm đoạt của Công ty Cổ phần D2 và được người đại diện theo ủy quyền của Công ty là bà Trần Thị Thiện M làm đơn bãi nại.
Ngày 16/8/2024 cơ quan điều tra đã chuyển chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A20 có gắn 02 thẻ sim sang Chi cục thi hành án dân sự bảo quản chờ xét xử.
Tại bản cáo trạng số 59/CT-VKS-NL ngày 15/8/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc truy tố bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c, đ khoản 2 điều 174 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố. Bị cáo đã bồi thường ½ số tiền ngay khi Công ty cổ phần D2 giao hàng nhanh yêu cầu rà soát và do có quá nhiều đơn hàng thất thoát nên rà soát có khó khăn, vì vậy, sau khi Công ty tố giác 02 ngày thì bị cáo đã hoàn trả toàn bộ số tiền chiếm đoạt còn lại. Trong thời gian công tác bị cáo có nhiều thành tích xuất sắc, được Công ty nhiều lần khen thưởng, vinh danh và bị cáo cũng tham gia tích cực phong trào thiện nguyện trong mùa dịch Covid19. Do các tổn thất của Công ty đã được đền bù nên phía đại diện Công ty xin bãi nại. Bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
- Người đại diện theo ủy quyền của bị hại vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong quá trình điều tra và đơn xin xét xử vắng mặt đều thừa nhận đã nhận lại toàn bộ số tiền bị chiếm đoạt và xin bãi nại, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử đề nghị: giữ nguyên việc truy tố bị cáo phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 65 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức án từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 04 năm đến 04 năm 06 tháng. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về vật chứng: sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A20; lưu hồ sơ vụ án 01 USB để chứng minh tội phạm. Bị cáo phải chịu án phí hình sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:
- Trong quá trình điều tra: Điều tra viên được phân công điều tra đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng về việc kiểm tra, xác minh, lập hồ sơ giải quyết nguồn tin về tội phạm; lập hồ sơ vụ án; hỏi cung bị can; xử lý vật chứng; giao nhận các văn bản tố tụng đúng thời hạn.
- Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Kiểm sát viên đã thực hiện nghiêm túc hoạt động kiểm sát điều tra; tham gia phiên tòa đúng thời gian, địa điểm; công bố bản cáo trạng; tham gia xét hỏi, luận tội, tranh luận và phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án đồng thời thực hiện việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án cũng như người tham gia tố tụng trong giai đoạn xét xử.
Do các hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đều tuân thủ quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự nên hợp pháp và được sử dụng làm chứng cứ để Hội đồng xét xử xem xét.
[2] Về nội dung:
Tại phiên toà hôm nay bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai bị hại và vật chứng được thu giữ, các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: từ ngày 11/7/2023 đến ngày 10/8/2023, Hà Ngọc V - Bưu cục trưởng của Chi nhánh Công ty cổ phần D2 (huyện N) có quyền ra vào Kho hàng để kiểm tra, giám sát các hoạt động tại Bưu cục - đã lợi dụng sơ hở của hệ thống vận hành quản lý xử lý rủi ro tự động của Công ty Cổ phần D2, tự ý vào Kho lấy các kiện hàng mà không thông qua nhân viên xử lý rồi giả mạo nhân viên có tên Đinh Thị Q đi giao hàng trực tiếp cho khách, thu tiền về nhưng không nộp vào tài khoản Công ty để chiếm đoạt số tiền hàng 54.334.898 đồng của Công ty Cổ phần D2. Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c, đ khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Nên Hội đồng xét xử chấp nhận truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc để xác định tội danh và khung hình phạt đối với bị cáo.
Xét tính chất vụ án: Hành vi của bị cáo có tính chất và mức độ nguy hiểm lớn cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo phạm tội từ 02 lần trở lên (là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự) nên cần xét xử nghiêm để răn đe, phòng ngừa tái phạm.
Tuy nhiên cũng cần xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có nhiều thành tích xuất sắc trong lao động; bị hại xin bãi nại; có nhiều thành tích xuất sắc trong lao động (điểm b, s, v khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự). Mặc dù nhiều lần phạm tội nhưng các lần đều thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Nguyên nhân phát sinh tội phạm có một phần bắt nguồn từ sự quản lý lỏng lẻo và các lỗ hổng trong điều hành của bị hại. Bị cáo có nhân thân tốt, nơi cư trú rõ ràng nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, cho bị cáo được hưởng Điều 65 của Bộ luật Hình sự, cải tạo tại địa phương để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: xét bị cáo không có tài sản và thu nhập nên không cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về dân sự: bị cáo đã bồi thường toàn bộ số tiền chiếm đoạt. Bị hại không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
Về vật chứng: Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A20 được sử dụng vào mục đích lừa đảo chiếm đoạt tài sản nên cần sung vào Ngân sách nhà nước.
Đối với chiếc ô tô bán tải nhãn hiệu Mitsubishi Triton, biển kiểm soát 37C-412.28 là của anh Hà Ngọc C1 cho V mượn sử dụng nhưng anh C1 không biết V sử dụng vào việc phạm tội nên cơ quan điều tra đã trả cho anh C1 là đúng pháp luật.
01 chiếc USB chứa đựng hình ảnh phạm tội của bị cáo cần tiếp tục lưu tại hồ sơ vụ án để làm chứng cứ chứng minh tội phạm.
Vấn đề khác: đối với 6 hành vi chiếm đoạt 06 đơn hàng vào các ngày 8/7/2023 + 09/7/2024 + 10/7/2024 + 24/7/2024 + 29/7/2024 + 01/8/2024 nhưng do trị giá các tài sản chiếm đoạt đều dưới mức tối thiểu, bị cáo không có tiền án, tiền sự về tội/hành vi chiếm đoạt nên không cấu thành tội phạm. Kiến nghị Công an huyện N xử lý hành chính theo thẩm quyền.
Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c, đ khoản 2 Điều 174 của Bộ luật Hình sự;
Tuyên: bị cáo Hà Ngọc V, phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Về hình phạt: Áp dụng điểm c, đ khoản 2 Điều 174; điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 65 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Hà Ngọc V (Hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 04 (Bốn) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 09/10/2024).
Bị cáo phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo có ý vị phạm nghĩa vụ từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật Thi hành án hình sự.
- Về biện pháp tư pháp: áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 của Bộ luật Hình sự, sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A20 màu đen có gắn 02 sim điện thoại (hiện đang bảo quản tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Nghi Lộc theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/8/2024).
- Về án phí: áp dụng Điều 136, khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc Hà Ngọc V phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lưu Thị Hồng Thể |
Bản án số 79/2024/HS-ST ngày 09/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI LỘC, TỈNH NGHỆ AN về hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 79/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI LỘC, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
