Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 79/2024/HS-ST

Ngày: 30-9-2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Đức Quang

Thẩm phán: Ông Bùi Văn Lam

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Sỹ Quân

Ông Nguyễn Tất Thể

Ông Trần Trung Thành

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Soan – Thư ký TAND tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Đồng - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 59/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ tên: Nguyễn Hồng S; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam, sinh ngày 09 tháng 11 năm 1983 tại: H, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn K, xã Q, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Lào; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; bố đẻ: Nguyễn X; sinh năm: 1954 (Đã chết); mẹ đẻ: Nguyễn Thị H, sinh năm: 1957; anh chị em ruột: Có 07 người, bị cáo là con thứ 03; vợ: Bùi Thị N, sinh năm: 1984; con: Có 02 con, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2015;

Tiền án, Tiền sự: Không

Bị khởi tố bị can ngày 17/05/2022 và ngày 01/02/2024, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/01/2024 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Trần Đức Đ- Luật sư văn phòng L4; địa chỉ: Số nhà B, đường N, phường B, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt – Có đơn xin xét xử vắng mặt và gửi bản luận cứ bào chữa cho bị cáo.

* Bị hại:

  • - Anh Lê Viết H1, sinh năm 1980; địa chỉ: Tổ dân phố C, thị trấn V, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh (đã chết).
  • Người đại diện hợp pháp của bị hại: Chị Nguyễn Thị H2, sinh năm 1987; địa chỉ: Tổ dân phố C, thị trấn V, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Vương Khả S1, sinh năm 1984; địa chỉ: Khu tập thể V, thuộc tổ C, thị trấn V, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt.
  2. Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt.
  3. Anh Phan Tiến T1, sinh năm 1982; địa chỉ: Tổ dân phố E, thị trấn V, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt.
  4. Anh Ngô Đức K, sinh năm 1983; địa chỉ: Thôn A, xã Q, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt.
  5. Anh Lê Công S2, sinh năm 1985; địa chỉ: Tổ dân phố C, thị trấn V, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.
  6. Anh Nguyễn Xuân A, sinh năm 1972; địa chỉ: Tổ dân phố B, thị trấn V, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt.
  7. Anh Bùi Hoài N1, sinh năm 1980; địa chỉ: Thôn K, xã Q, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt.
  8. Chị Bùi Thị N, sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt.
  9. Vườn Quốc gia V, tỉnh Hà Tĩnh. Người đại diện: Ông Vương Khả S1 - Chức vụ: Hạt phó hạt kiểm lâm V. Có mặt.

* Người làm chứng:

  1. Anh Phạm Văn N2, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt.
  2. Anh Nguyễn Xuân H3, sinh năm 1997; địa chỉ: Tổ dân phố B, thị trấn V, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt.

* Người chứng kiến:

  1. Anh Trương Quốc H4, sinh năm 1986; địa chỉ: Tổ dân phố D, thị trấn V, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.
  2. Ông Mai Văn T2, sinh năm 1966; địa chỉ: Tổ dân phố A, thị trấn H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.
  3. Anh Trần Văn L, sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn S, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt.
  4. Anh Phạm Đức H5, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.

* Những người tham gia tố tụng khác: Ông Trần Trọng T3 - Điều tra viên Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh H; địa chỉ: Số B đường N, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Thực hiện Kế hoạch tuần tra kiểm soát trên tuyến biên giới V - Lào, đảm bảo an ninh trật tự bảo vệ tết Nguyên Đán Giáp Thìn năm 2024. Ngày 25/01/2024, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh H phối hợp với lực lượng chức năng tuần tra tại khu vực rừng thuộc Vườn quốc gia V, tỉnh Hà Tĩnh. Vào hồi 01 giờ 30 phút ngày 26/01/2024, khi tuần tra đến một lán trại tại khu vực Tiểu khu A, Vườn quốc gia V thuộc địa phận xã Q, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Hồng S (sinh ngày 09/11/1983, trú tại xã Q, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh) đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý, thu giữ trong túi áo bên trái phía trên của Nguyễn Hồng S đang mặc 02 túi ni lông màu xanh, bên trong đều chứa các viên nén màu hồng (ký hiệu M1, M2); thu tại bàn tre gần chỗ Nguyễn Hồng S nằm 01 hộp nhựa hình trụ màu trắng, nắp màu xanh bên trong có 01 túi ni lông hình khối hộp chứa chất bột nén màu trắng (ký hiệu M3), 04 túi ni lông màu xanh và 01 túi ni lông màu hồng, bên trong đều chứa các viên nén màu hồng (Ký hiệu M4, M5, M6, M7, M8), 01 gói ni lông không rõ hình bên trong màu chứa chất bột nén màu trắng (ký hiệu M9), 01 hộp nhựa màu xanh hình trụ tròn chứa 07 túi ni lông trong suốt, bên trong đều chứa chất tinh thể màu trắng (ký hiệu N1 đến N7), 02 túi ni lông màu xanh bên trong đều chứa các viên nén màu hồng (ký hiệu Y1, Y2) và 01 hộp giấy màu xanh, bên trong chứa 46 viên đạn hình trụ tròn dài 2,5 cm, đầu đạn màu đen, vỏ đạn gồm loại màu đồng và màu bạc; thu tại giàn để đồ phía ngoài cửa ra vào lán 01 khẩu súng dạng CKC, dài 110 cm, nòng súng làm bằng kim loại hình trụ tròn, trên thân súng có chữ “R9645”, báng súng làm bằng gỗ; thu tại bàn uống nước đặt ở gần lối ra vào 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm 01 chai nhựa trong suốt, thân chai có gắn 01 ống bằng kim loại. Nguyễn Hồng S khai nhận toàn bộ các viên nén màu hồng, chất bột nén màu trắng, chất tinh thể màu trắng nói trên là ma tuý do 02 người đàn ông Lào và 02 người đàn ông Việt Nam nhờ S cất giữ giúp, còn 01 khẩu súng và 46 viên đạn là súng do S mua để săn bắn. Nguyễn Hồng S còn khai nhận S chính là người đã giết anh Lê Viết H1 vào ngày 15/5/2022 tại khu vực Trạm kiểm lâm S5 thuộc Vườn quốc gia V. Lực lượng chức năng đưa Nguyễn Hồng S cùng tang vật về trụ sở Cơ quan Công an huyện V, tỉnh Hà Tĩnh tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong tang vật.

Ngày 27/01/2024, Nguyễn Hồng S khai nhận và lực lượng chức năng tiến hành tìm kiếm tại khu vực lán trại và vùng xung quanh nơi bắt giữ Nguyễn Hồng S, phát hiện, thu giữ bên trong bụi nứa cách lán trại 100 mét về phía Nam 01 hộp nhựa trong suốt hình trụ tròn, nắp hộp màu đỏ, bên trong hộp có 01 túi ni lông màu trắng hồng chứa các túi ni lông màu xanh và màu hồng, bên trong đều chứa các viên nén màu xanh và màu hồng (ký hiệu: A1); 01 gói ni lông màu đen, không rõ hình, bên trong

chứa các túi ni lông màu xanh và màu hồng, đều chứa các viên nén màu hồng (ký hiệu: A2); 02 khối hộp, bên trong có 03 khối giấy màu trắng chứa các túi ni lông màu xanh và màu hồng, đều chứa các viên nén màu hồng (ký hiệu: A3 và A5); 01 khối hộp, bên trong có 03 khối giấy màu trắng chứa các túi ni lông màu xanh và màu hồng, đều chứa các viên nén màu hồng và màu xanh (ký hiệu: A4) và 100 tờ tiền Ngân hàng N3, mệnh giá 500.000 đồng; thu giữ phía dưới viên đá gần lối ra vào lán trại 01 hộp nhựa màu trắng hình trụ tròn, nắp hộp màu trắng, bên trong chứa 02 vật hình trụ tròn, vỏ ngoài bằng ni lông, dài 21,5 cm, phía hai đầu được buộc lại bằng dây kim loại, bên trong có chứa chất dẻo màu vàng nhạt (ký hiệu: B1 và B2).

* Quá trình điều tra xác định: Ngoài hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý và hành vi tàng trữ trái phép vật liệu nổ nêu trên, trước đó, ngày 15/5/2022 Nguyễn Hồng S còn có hành vi giết người, cụ thể:

Trưa ngày 15/5/2022, tại chốt kiểm soát Trạm Kiểm lâm S5, Vườn quốc gia V thuộc địa phận xã Q, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh tổ chức làm thịt lợn, ăn trưa và uống rượu, những người tham gia gồm có: anh Vương Khả S1 (sinh năm 1984, trú tại thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh - Hạt Phó Hạt kiểm lâm V), anh Nguyễn Văn T (sinh năm 1990, trú tại thôn H, xã H, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh), anh Phan Tiến T1 (sinh năm 1982, trú tại tổ dân phố E, thị trấn V, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh - đều là cán bộ Trạm Kiểm lâm Hương Minh), anh Ngô Đức K (sinh năm 1983, trú tại thôn E, xã Q, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh - nhân viên hợp đồng Trạm kiểm lâm H8), anh Lê Công S2 (sinh năm 1985, trú tại tổ dân phố C, thị trấn V, huyện V, tỉnh Hà Tỉnh - Trạm trưởng Trạm kiểm lâm S5), anh Phạm Văn N2 (sinh năm 1990, trú tại thôn H, xã H, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh - Trạm phó Trạm kiểm lâm S), anh Nguyễn Xuân A (sinh năm 1972, trú tại thôn H, xã H, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh), anh Nguyễn Xuân H3 (sinh năm 1997, trú tại tổ dân phố B, thị trấn V, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh), anh Bùi Hoài N1 (sinh năm 1980) và Nguyễn Hồng S (sinh năm 1983, đều trú tại thôn K, xã Q, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh - đều là nhân viên hợp đồng của Trạm kiểm lâm S5), anh Lê Viết H1 (sinh năm 1980, trú tại tổ dân phố C, thị trấn V, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh). Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi ăn xong, lúc này anh Bùi Hoài N1 ra về trước, còn anh Lê Công S2, anh Phan Tiến T1 và Nguyễn Xuân A vào trong khu nhà của Trạm kiểm lâm S5 nằm nghỉ, những người còn lại ngồi uống nước và nói chuyện với nhau tại sân của Trạm kiểm lâm S5. Khoảng 15 giờ cùng ngày, anh Lê Công S2, anh Phan Tiến T1 và Nguyễn Xuân A cùng nhau ra về. Lúc này còn lại các anh Vương Khả S1, Ngô Đức K, Phạm Văn N2, Nguyễn Xuân H3, Nguyễn Văn T, Lê Viết H1 và Nguyễn Hồng S ngồi uống nước, nói chuyện với nhau thì xảy ra mâu thuẫn giữa anh Vương Khả S1 và Nguyễn Hồng S liên quan đến việc chung nhau chăn nuôi gia súc, anh Vương Khả S1 dùng tay đấm xuống bàn, ném vỡ cốc thuỷ tinh và đá vỡ nhiều chai thuỷ tinh để ở sân Trạm kiểm lâm Sao La. Lúc này mọi người vào can ngăn, trong đó anh Lê Viết H1 nói một vài câu có ý bênh vực anh Vương Khả S1. Sau khi được mọi người can ngăn thì anh Vương Khả S1, anh Ngô Đức K và anh Nguyễn Văn T cùng nhau ra về. Tại Trạm kiểm lâm Sao La còn lại anh Lê Viết H1, anh Phạm Văn N2, anh Nguyễn Xuân H3

và Nguyễn Hồng S. Khoảng 18 giờ cùng ngày, những người còn lại cùng nhau ăn tối. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, sau khi ăn tối xong thì anh Lê Viết H1, anh Phạm Văn N2 và anh Nguyễn Xuân H3 vào nhà của Trạm kiểm lâm S5 nằm nghỉ. Còn Nguyễn Hồng S ngồi tại bàn uống nước và uống hết một cốc rượu. Nguyễn Hồng S nghĩ tới việc trước đây S cùng anh Lê Viết H1 chung tiền mua dụng cụ đánh bắt cá nhưng S cho rằng anh H1 thường một mình đi đổ cá trước không nói với S, cùng với việc vừa bị anh Vương Khả S1 quát nạt nên Nguyễn Hồng S ấm ức và nảy sinh ý định giết anh Lê Viết H1. Khoảng 19 giờ 30 cùng ngày, Nguyễn Hồng S đi xuống nhà bếp lấy 01 con dao bầu dài 33cm, lưỡi bằng kim loại dài 21cm, chỗ rộng nhất của lưỡi dao là 6cm, phần cán bằng gỗ dài 12cm, mũi dao nhọn (dao dắt ở vị trí vách tường gỗ nhà bếp), Nguyễn Hồng S cầm dao bằng tay phải đi vào nhà, khi đi đến cửa phòng thì gặp anh Nguyễn Xuân H3 đi ra phía ngoài, S dơ dao về phía anh H3 và nói “anh đâm đó”, thấy S vừa nói, vừa cười, nghĩ S đùa với mình nên anh H3 nói lại với S “chi rứa anh hè, em đi vệ sinh xong em vô chở về”. Nguyễn Hồng S tiếp tục cầm dao đi đến phía sau giường anh Phạm Văn N2 đang nằm nghỉ, dùng dao khua qua khua lại với ý định doạ để anh N2 đi ra ngoài làm dao cắt vào mắt cá và mu bàn chân phải của anh N2. Thấy vậy, anh Phạm Văn N2 bật dậy nhảy sang giường bên cạnh và nói với Nguyễn Hồng S “xin anh đừng giết em”, thấy Nguyễn Hồng S không phản ứng gì nên anh N2 bỏ chạy ra ngoài, vừa chạy vừa hô “anh bị Sơn H6 đâm rồi, chạy đi”, anh Nguyễn Xuân H3 đang đi vệ sinh phía sau nhà nghe vậy liền cùng với anh N2 bỏ chạy lên rừng cách Trạm kiểm lâm Sao La khoảng 30 - 40m trốn. Sau khi anh Phạm Văn N2 chạy ra ngoài, Nguyễn Hồng S cầm dao đi lại bên trái mép giường anh Lê Viết H1 đang nằm ngủ. Nguyễn Hồng S cầm dao bằng tay phải theo chiều nghịch (mũi dao hướng về ngón tay út) đâm một nhát vào phần cổ bên trái của anh Lê Viết H1 và chém nhiều nhát vào phần mặt anh H1, khi anh H1 bật người dậy thì Nguyễn Hồng S tiếp tục dùng dao chém liên tục nhiều nhát vào phần lưng, vai và chân của anh H1. Anh Lê Viết H1 vùng chạy ra phía ngoài cửa, vừa chạy vừa kêu cứu “Ngọc ơi, N2 ơi”, khi chạy xuống khu vực rửa của bếp thì bị ngã, Nguyễn Hồng S cầm dao đi theo phía sau anh Lê Viết H1. Khi nghe anh Lê Viết H1 kêu cứu, anh Phạm Văn N2 chạy vào thấy anh H1 nằm gục ở khu vực rửa của bếp còn Nguyễn Hồng S cầm dao đứng phía sau nên anh N2 lấy 01 thanh củi bằng gỗ đánh một phát vào người Nguyễn Hồng S. Thấy vậy, Nguyễn Hồng S cầm dao chạy hướng xuống bến thuyền, trên đường chạy S vứt chiếc dao ở khu vực bãi cỏ (phía bên tay phải theo hướng chạy xuống bến thuyền) phía trước nhà của Trạm kiểm lâm S5 rồi bỏ trốn vào rừng thuộc Vườn quốc gia V. Sau khi Nguyễn Hồng S bỏ chạy, anh Phạm Văn N2 gọi điện cho anh Lê Ngọc S3 báo cáo sự việc rồi cùng mọi người đưa anh Lê Viết H1 đến Bệnh viện đa khoa huyện V, tỉnh Hà Tĩnh để cấp cứu nhưng anh H1 đã tử vong trên đường đi cấp cứu do mất máu cấp.

Còn Nguyễn Hồng S, sau khi gây án đã trốn vào rừng thuộc Vườn quốc gia V,

quá trình lẩn trốn Nguyễn Hồng S sử dụng 01 khẩu súng thể thao mà S mua trước đó để săn bắn thú và đánh bắt cá bán lấy tiền mua nhu yếu phẩm để sinh sống. Quá trình trên, Nguyễn Hồng S quen biết với một người đàn ông tên S trú tại xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh và mua của người này 46 viên đạn, 02 lõi thuốc để sử dụng đánh bắt cá, đồng thời nhờ người này bán các loại thú và cá do S đánh bắt được để lấy tiền. Vào khoảng đầu tháng 12/2023, khi đang đi săn tại khu vực khe R thuộc Vườn quốc gia V, Nguyễn Hồng S gặp 02 người đàn ông người Việt Nam và 02 người đàn ông người Lào (không rõ tên tuổi, lai lịch) quá trình hỏi thăm nói chuyện với nhau những người này đã cho Nguyễn Hồng S một số viên hồng phiến để sử dụng. Khoảng giữa tháng 01/2024, khi đi săn tại khu vực đỉnh C thuộc vườn quốc gia V, Nguyễn Hồng S gặp lại 02 người đàn ông người Việt Nam và 02 người đàn ông người Lào, lúc này 01 người đàn ông người Việt Nam đưa cho Nguyễn Hồng S 01 túi ni lông màu đen bên trong có chứa nhiều loại ma túy nhờ Nguyễn Hồng S cất giúp và hẹn khoảng một tuần sau sẽ quay lại lấy, hứa sẽ cho S một ít tiền. Nguyễn Hồng S đồng ý và cầm theo túi ni lông có chứa ma túy tiếp tục đi săn. Đến ngày 23/01/2024, Nguyễn Hồng S di chuyển đến gần khu vực gần Trạm chờ của Đồn biên phòng E nằm ở Tiểu khu A, Vườn quốc gia V thuộc địa phận xã Q, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh, thấy có một lán trại đã dựng sẵn, không có người ở nên đã vào trong lán ở, sau khi vào lán Nguyễn Hồng S lấy túi ni lông màu đen chứa ma túy mà 02 người đàn ông người Việt Nam và 02 người đàn ông người Lào gửi trước đó mở ra kiểm tra thì phát hiện bên trong chứa nhiều loại ma túy gồm: 02 túi ni lông màu xanh có kích thước giống nhau bên trong đều chứa các viên nén màu hồng; 01 túi ni lông hình khối hộp, bên ngoài được bọc bằng lớp ni lông trong suốt có dán băng keo màu đen ở góc, bên trong là lớp ni lông màu vàng có in chữ nước ngoài bên trong chứa chất bột nén màu trắng; 04 túi ni lông màu xanh và 01 túi ni lông màu hồng buộc lại với nhau bằng dây chun bên trong chứa các viên nén màu hồng; 01 gói ni lông phía ngoài được quấn băng keo màu đen bên trong chứa chất bột nén màu trắng; 01 hộp nhựa màu xanh hình trụ tròn bên trong có chứa 07 túi ni lông trong suốt đều chứa chất tinh thể màu trắng; 01 túi ni lông trong suốt bên trong có chứa 02 túi ni lông màu xanh đều chứa các viên nén màu hồng. Toàn bộ số ma túy nói trên cùng với 01 hộp giấy đựng đạn thể thao, Nguyễn Hồng S cho vào trong 01 hộp nhựa màu trắng có nắp màu xanh rồi đặt hộp nhựa lên trên chiếc bàn bằng tre ở gần võng trong lán. Số ma túy còn lại gồm: 01 túi ni lông màu trắng hồng, bên trong có chứa các túi ni lông màu xanh và màu hồng đều chứa các viên nén màu hồng; 01 gói ni lông màu đen, bên trong chứa một gói giấy màu trắng, bên trong có các túi ni lông màu xanh và màu hồng chứa các viên nén màu hồng; 03 khối hộp phía ngoài có ghi dòng chữ YA9991, bên ngoài được bọc bằng lớp ni lông trong suốt, bên trong có lớp ni lông màu vàng thì Nguyễn Hồng S bỏ vào trong 01 hộp nhựa có nắp màu đỏ cùng với số tiền 50.000.000 đồng mà S tích góp được từ việc bán thú rừng và đánh bắt cá, Nguyễn Hồng S giấu vào trong bụi nứa cách lán trại về hướng nam khoảng 100 mét. Còn 02

thỏi thuốc nổ, Nguyễn Hồng S bỏ vào trong 01 hộp nhựa màu trắng hình trụ tròn, nắp hộp màu trắng, cất giấu dưới viên đá gần lối ra vào lán trại.

Tối ngày 25/01/2024, sau khi đi săn về Nguyễn Hồng S để khẩu súng thể thao trên giá để đồ phía trước lối ra cửa lán rồi đi vào lán mở hộp nhựa màu trắng, nắp màu xanh chứa ma túy để trên bàn làm bằng tre gần võng lấy ra 02 túi ni lông màu xanh và lấy một số viên hồng phiến ra sử dụng. Sau khi sử dụng ma túy xong, Nguyễn Hồng S cất 02 túi ni lông màu xanh chứa hồng phiến vào trong túi áo ngực bên trái phía trên rồi lên võng nằm ngủ. Vào lúc 01 giờ 30 phút ngày 26/01/2024, khi Nguyễn Hồng S đang nằm ngủ tại võng thì bị lực lượng chức năng phát hiện, bắt quả tang và thu giữ số ma tuý, bộ D sử dụng chất ma tuý, thuốc nổ, súng săn, đạn và số tiền Nguyễn Hồng S cất giấu.

- Biên bản khám nghiệm hiện trường do Công an tỉnh H lập hồi 09 giờ 30 phút ngày 16/5/2022 phản ánh:

Hiện trường vụ Giết người được xác định là Trạm Kiểm lâm S5 thuộc Vườn Quốc gia V. Trạm Kiểm lâm S5 được kết cấu gồm khoảng sân phía trước, nhà chính, nhà bếp phía Tây, khu vực rửa phía T.

Nhà chính là nhà cấp 4 có mái lợp tranh, vách gỗ, nền lát xi măng, kích thước 6,7x3,9m, cửa ra vào hướng Bắc, kích thước 2,4x0,8m, không có cánh cửa. Trong nhà bố trí 5 giường ngủ, hai tủ đồ và một số đồ đạc khác. Ở góc tường phía Tây Nam của phòng có đặt một chiếc giường gỗ, kích thước 2x0,95m, đầu giường đặt cách tường phía tây khoảng 20cm. Trên giường có 01 chiếc quạt điện bị ngã đổ xuống mặt giường, 01 chiếc gối, 01 chiếc chăn gấp gọn và 01 túi ni lông màu trắng. Trên sạp giường, chăn, túi ni lông dính nhiều dấu vết màu nâu dạng đọng và dạng nhỏ giọt trên diện 0,8x2m. Ở khe hở đầu giường và tường phía T4, kéo dài từ tường phía Nam về phía Bắc 0,8m trên nền phòng có nhiều dấu vết màu nâu đọng nhỏ giọt trên diện 1,05x0,2m và 01 vỏ dao bằng gỗ dài 30 cm, chỗ rộng nhất là 7cm, trên bề mặt vỏ dao có một số dấu vết màu nâu dạng nhỏ giọt. Cách chiếc giường này về phía Bắc 0,6m có đặt một chiếc giường gỗ kích thước 2x1,05m. Trên nền nhà, vị trí khoảng hở giữa hai giường này và dưới hai gầm giường có nhiều dấu vết màu nâu, dạng đọng, nhỏ giọt, chảy. tại khoảng hở vị trí giữa hai giường phát hiện 01 chiếc dép nhựa dạng tổ ong màu xanh rêu, phía trên dép có nhiều dấu vết màu nêu dạng nhỏ giọt và 01 chiếc chăn đã gấp bám dính chất màu nâu (vị trí số 1).

Cách giường vị trí số 1 về phía Bắc 0,6m có đặt 01 chiếc giường gỗ kích thước 2x1,05m, đầu giường đặt sát tường phía Tây, trên giường có 01 chiếc chiếu nhựa màu xanh được gấp lên 1/3 phía dưới để lộ đệm, 01 chiếc quạt màu đen ngã đổ xuống mặt giường, 01 chiếc gối và 01 chiếc chăn bông đặt ở đầu giường. Trên đệm và chiếu có nhiều vết màu nâu trên diện 1,7x0,3m dạng quệt, bắn (vị trí số 2).

Ở góc phía T của phòng có đặt 01 chiếc giường gỗ kích thước 2x1,05m, đầu giường đặt sát tường phía Tây và cách giường vị trí số 2 là 0,15m. Trên giường có 01 chiếc quạt màu trắng xám ngã đổ về phía bên phải, trên góc tường phía T có mắc một góc của chiếc màn màu xanh, màn buông xuống giường, trên màn có dính chất màu nâu. Trên giường có 02 chiếc chiếu trúc, trong đó có 01 chiếc trải giường, 01 chiếc đặt gấp ½ phía đầu giường, trên hai chiếc chiếu này có dính chất màu nâu dạng đọng, nhỏ giọt, tập trung nhiều tại vị trí chiếc chiếu thứ 2. Phía dưới chiếc chiếu thứ 2 có 01 chiếc chăn bông có bám dính chất màu nâu. Phía dưới nền nhà giữa hai giường có một số dấu vết màu nâu dạng nhỏ giọt. Phía dưới gầm giường này, cách tường phía Bắc 0,8m, cách tường phía Tây 0,8m có vũng chất màu nâu dạng nhỏ giọt, dạng đọng trên diện 20x18cm (vị trí số 3).

Cách tường phía Đông 1,95m, cách tường phía Bắc 1,9m đặt 01 chiếc giường gỗ kích thước 2x1,45m, đầu giường đặt sát tường phía Nam. Phía trên giường có 01 chiếc gối màu đỏ và 01 chiếc màn màu trắng đặt phía đầu giường, 01 chiếc chăn và 01 chiếc quạt màu xanh. Trên mặt chiếu từ mạ phía Đông của giường ra mạ phía Tây cách đầu giường 0,4m có dính một số dấu vết màu nâu rải rác trên diện 0,8x1m (vị trí số 4).

Trên nền nhà kéo dài từ khe hở giữa giường vị trí số 1 và giường vị trí số 2 ra đến cửa ra vào có nhiều vết màu nâu kích thước 3,4x1,5m dạng bắn, nhỏ giọt, quệt và dạng bàn chân dài 24cm, chỗ rộng nhất 11 cm (vị trí số 5).

Cách cửa ra vào về phía Đông 0,73m có đặt 01 chiếc tủ gỗ loại 02 cánh, tủ đặt sát tường phía Bắc. Tủ cao 1,8m, rộng 1,18m, sâu 0,51m phía trong có hai ngăn chứa đồ. Tại ngăn trên phát hiện 06 con dao và 01 chiếc cưa tay (vị trí số 6).

Phía trước nhà chính là sân lát xi măng kích thước 10x3,3m. Trước cửa ra vào cách mép sân phía Bắc 1,3m, cách mép sân phía Nam 6,1m có nhiều dấu vết màu nâu dạng đọng, nhỏ giọt, quệt, bắn trên diện 3x1,3m. Từ vị trí dấu vết màu nâu này ra đến khu vực giặt rửa có nhiều vết màu nâu đỏ dạng nhỏ giọt, quệt, bắn trên diện 4,7x1m, tập trung nhiều nhất tại khu vực tiếp giáp giữa sân và khu vực giặt rửa. Mặt ngoài tường phía Bắc nhà chính cách mặt đất 1,2m, cách cửa ra vào 1m có 02 bộ bài tú lơ khơ đã bóc vỏ (vị trí số 7).

Ở khu vực vườn phía trước sân, cách mép sân phía Bắc 1m, cách cửa ra vào nhà chính 6m, phát hiện 01 con dao dạng dao bầu dài 33cm, chỗ rộng nhất của lưỡi dao là 6cm, phần cán bằng gỗ dài 12cm, mũi dao bị cong (vị trí số 8).

Cách vị trí số 8 về phía T 0,7m; cách mép sân phía Bắc 1,7m phát hiện 01 chiếc dép nhựa màu đen chân bên phải nhãn hiệu NIKE (vị trí số 9).

Tiếp giáp với nhà chính về phía Tây là khu vực bếp. Tại khu vực vườn sau nhà

cách cửa sau của bếp 13m về phía nam có đặt 01 tổ ong, trên tổ ong phát hiện 01 con dao dài 41 cm, phần lưỡi dao dài 28cm, chỗ rộng nhất của lưỡi dao là 5,1cm, mũi dao nhọn, phần cán gỗ của dao dài 13cm (vị trí số 10).

Trên cành cây chanh trồng tại vườn phía trước sân, cách mép sân phía Bắc 2m phát hiện 01 chiếc áo phông cổ bẻ màu xanh nhãn hiệu NIKE (vị trí số 11).

- Biên bản khám nghiệm tử thi hồi 01 giờ 10 phút ngày 16/5/2022 phản ánh: Tử thi được xác định là anh Lê Viết H1, sinh năm 1972, trú tại tổ dân phố C, thị trấn V, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh.

+ Khám ngoài, các dấu vết tổn thương trên cơ thể: Vùng trán bên trái, ngay sát đường chân tóc có vết xây xát da, kích thước 4x1cm. Cánh mũi bên trái có vết thương dài 5cm, bờ mép gọn, hướng từ trái sang phải, làm đứt phần sụn mũi. Vùng má bên trái, cách dưới cánh mũi trái 3cm, cách trước dái tai trái 9cm có vết thương, kích thước 10x1,5cm, bờ mép gọn, sâu đến xương gò má. Vùng cổ bên trái, cách dưới dái tai trái 11cm, cách đầu trên xương ức 10cm có vết thương, kích thước 4x2cm, bờ mép gọn, hướng từ trái sang phải, sâu đến xương đốt sống cổ. Cách vết thương này 6cm có vết thương, kích thước 2x0,5cm. Mặt sau bả vai phải, cách đường giữa cột sống lưng 10cm có vết thương, kích thước 6x0,5cm, bờ mép gọn, hướng từ trên xuống dưới. Vùng lưng có 02 vết thương, kích thước 9x0,5cm và 4x0,5cm, hai vết cách nhau 10cm. Mặt ngoài 1/3 trên đùi trái, cách dưới gai chậu trước trên 16 cm, cách nếp lần mông bên trái 10cm có vết thương, kích thước 12x3cm, bờ mép gọn, hướng từ ngoài vào trong, từ trái sang phải. Mặt sau 1/3 dưới đùi trái đến 1/3 trên cẳng chân trái có vết thương, kích thước 23x6cm, bờ mép gọn, hướng từ sau ra trước, sâu tận xương cẳng chân. Mặt ngoài 1/3 giữa cẳng chân phải có vết thương, kích thước 18x6cm, bờ mép gọn, hướng từ trên xuống dưới, sâu tận xương cẳng chân. Mu bàn chân phải có vết xước da, kích thước 11x0,5cm.

+ Khám trong, giải phẫu vùng cổ, ngực, bụng: Vết thương vùng cổ làm đứt cơ ức đòn chũm và động mạch cảnh bên trái. Lồng ngực, ổ bụng không chứa dịch, máu. Dạ dày chứa thức ăn chưa nhuyễn.

* Kết luận giám định:

- Bản kết luận giám định số 543/KL-KTHS ngày 18/5/2022 của Phòng K3 Công an tỉnh H phản ánh: Vùng trán bên trái, ngay sát đường chân tóc có vết xây xát da, kích thước 4cm x 1cm. Cánh mũi bên trái có vết thương dài 5cm, bờ mép gọn, hướng từ trái sang phải, làm đứt (phần sụn) mũi. Vùng má bên trái, cách dưới cánh mũi trái 3cm, cách trước dái tai trái 9cm có vết thương, kích thước 10cm x 1,5cm, bờ mép gọn, sâu đến xương gò má. Vùng cổ bên trái, cách dưới dái tai trái 11cm, cách đầu trên xương ức 10cm có vết thương, kích thước 4cm x 2cm, bờ mép gọn hướng từ trái sang phải, sâu đến xương đốt sống cổ. Cách vết thương này 6cm

có vết thương, kích thước 2cm x 0,5cm (tổn thương lớp da; Hai vết thương này do một lần tác động). Mặt sau bả vai phải, cách đường giữa cột sống lưng 10cm có vết thương, kích thước 6cm x 0,5cm, bờ mép gọn, hướng từ trên xuống dưới (tổn thương lớp da). Vùng lưng có 02 vết thương, kích thước 9cm x 0,5cm và 4cm x 0,5 cm, hai vết thương cách nhau 10cm (tổn thương da). Mặt ngoài 1/3 trên đùi trái, cách dưới gai chậu trước trên 16cm, cách nếp lằn mông bên trái 10cm có vết thương, kích thước 12cm x 3cm, bờ mép gọn, hướng từ ngoài vào trong, từ trái sang phải. Mặt sau 1/3 dưới đùi trái đến 1/3 trên cẳng chân trái có vết thương, kích thước 23cm x 6cm, bờ mép gọn, hướng từ sau ra trước, sâu tận xương cẳng chân. Mặt ngoài 1/3 giữa cẳng chân phải có vết thương, kích thước 18cm x 6cm, bờ mép gọn, hướng từ trên xuống dưới, sâu tận xương cẳng chân. Mu bàn chân phải có vết xước da, kích thước 11cm x 0,5cm. Kết luận: Nguyên nhân chết của anh Lê Viết H1 là do mất máu cấp.

- Công văn số 138/PC09 ngày 09/6/2022 của Phòng K3 Công an tỉnh H trả lời:

Các vết thương trên cơ thể anh Lê Viết H1 là do vật sắc nhọn tạo nên, cơ chế hình thành vết thương là: đâm, chém.

Chiếc dao Cơ quan điều tra đã thu giữ (dạng dao bầu dài 33cm, chỗ rộng nhất của lưỡi dao là 6cm, phần cán bằng gỗ dài 12cm, mũi dao bị cong) có khả năng gây ra các thương tích trên cơ thể anh Lê Viết H1.

- Kết luận giám định số 1892/KL-KTHS ngày 31/5/2022 của Phòng K3 Công an tỉnh T kết luận:

  • + Trên các mẫu được kí hiệu A1 (01 chiếc dép màu đen nhãn hiệu Nike), A2 (01 vỏ dao bằng gỗ), A9 (chất màu nâu thu tại mặt chiếu), A19 (01 chiếc dép màu đen nhãn hiệu Nike) đều có dấu vết máu của Lê Viết H1
  • + Trên các mẫu được ký hiệu A5 (chiếc áo phông cổ bẻ thu tại cây chanh trước nhà), A6 (chất màu nâu thu tại khu vực chiếc giường số 1), A7 (chất màu nâu thu tại khu vực chiếc giường số 2), A8 (chất màu nâu thu tại khu vực chiếc giường số 3), A10 (chất màu nâu thu được trên nền nhà từ khe hở chiếc giường số 1 và chiếc giường số 2 đến cửa ra vào), A1 (chất màu nâu thu giữ ở vị trí sân gần khu rửa) gửi đến giám định đều có dấu vết máu người. Do chất lượng dấu vết kém nên không xác định được hồ sơ kiểu gen.
  • + Các mẫu được ký hiệu A3 (con dao dài 33cm, chỗ rộng nhất 6cm, cán bằng gỗ dài 12cm, mũi dao bị cong - con dao vật chứng), A4 (con dao dài 41cm, chỗ rộng nhất 5,1cm, cán bằng gỗ dài 13cm), A12, A13, A14, A15, A16, A17 (các con dao thu tại hiện trường đã nêu tại phần vật chứng), A18 (cưa tay thu tại hiện trường) gửi đến giám định đều có tế bào người. Do lượng tế bào ít và lẫn nên không xác định được hồ sơ kiểu gen.

- Kết luận giám định số 1837/KL-KTHS ngày 25/5/2022 của Phòng K3 Công an tỉnh T kết luận về dấu vết đường vân: Phát hiện 01 dấu vết đường vân không đủ yếu tố giám định trên con dao (con dao dài 33cm, chỗ rộng nhất 6cm, cán bằng gỗ dài 12cm, mũi dao bị cong - con dao vật chứng).

- Kết luận giám định số 68/TgT ngày 18/5/2022 của Trung tâm P và giám định y khoa kết luận thương tích đối với anh Phạm Văn N2 (sinh năm 1990, trú tại xã H, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh): Mắt cá trong vết thương kích thước 1cmx0,2cm, tỷ lệ tổn thương 01%; mặt trong mu bàn chân phải vết thương kích thước 3,5cmx0.2cm, tỷ lệ tổn thương 02%. Theo phương pháp cộng tại Thông tư, xếp tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây ra tại thời điểm giám định là 03%. Thương tích do vật sắc tác động gây nên.

- Tại bản Kết luận giám định số: 321/KL-KTHS ngày 31/01/2024 của Phòng K3 Công an tỉnh H, kết luận:

  • + Các viên nén màu hồng, trên bề mặt có chữ WY ở trong các túi ni lông màu xanh và màu hồng của mẫu ký hiệu A1 là Ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 287 gam.
  • + Các viên nén màu hồng, trên bề mặt có chữ WY ở trong các túi ni lông màu xanh và màu hồng của mẫu ký hiệu A2 là Ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 289 gam.
  • + Các viên nén màu hồng, trên bề mặt có chữ WY ở trong các túi ni lông màu xanh và màu hồng của mẫu ký hiệu A3 là Ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 574 gam.
  • + Các viên nén màu hồng, trên bề mặt có chữ WY ở trong các túi ni lông màu xanh và màu hồng của mẫu ký hiệu A4 là Ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 530 gam. Các viên nén màu xanh trong mẫu ký hiệu A4 không phải là chất ma túy.
  • + Các viên nén màu hồng, trên bề mặt có chữ WY ở trong các túi ni lông màu xanh và màu hồng của mẫu ký hiệu A5 là Ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 583,8 gam.

Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục II. C, STT 247 Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ.

- Tại bản kết luận giám định số 346/KL-KTHS ngày 02/02/2024 của Phòng K3 Công an tỉnh H kết luận:

  • + Các viên nén màu hồng ký hiệu từ M1, M2; M4 đến M8; N3, N6, N7, Y1, Y2 là ma túy, loại Methamphetamine có tổng khối lượng 165,6639 gam;
  • + Chất bột nén màu trắng ký hiệu M3, M9 là ma túy, loại Heroine, có tổng khối lượng 176,8576 gam;
  • + Chất tinh thể màu trắng ký hiệu N1, N2, N4, N5 là ma túy, loại Ketamine có tổng khối lượng 2,2808 gam.

Heroine là chất ma túy nằm trong Danh mục IA, STT 9; MDMA là chất ma túy nằm trong Danh mục IB, STT 11; Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục II. C, STT 247; Ketamine là chất ma túy nằm trong Danh mục III, STT 40, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ.

- Tại bản kết luận giám định số 350/KL-KTHS ngày 02/02/2024 của Phòng K3 Công an tỉnh H, kết luận: Chất dẻo màu vàng nhạt đựng trong 02 vật hình trụ tròn, vỏ ngoài bằng ni lông, dài 21,5cm, phía hai đầu được buộc lại bằng dây kim loại (ký hiệu B1, B2) gửi giám định là thuốc nổ Nhũ tương, đang còn sử dụng được, có khối lượng là 402,2g.

* Vật chứng thu giữ:

- Thu giữ trong quá trình bắt giữ Nguyễn Hồng S vào ngày 26/01/2024.

  • + 02 túi ni lông màu xanh có cùng kích thước (8,5x6,5) cm bên trong đều chứa các viên nén màu hồng trên bề mặt có ký hiệu chữ WY (ký hiệu M1, M2).
  • + 01 túi ni lông hình khối hộp kích thước (10x8x2) cm bên ngoài được bọc bằng lớp ni lông trong suốt có dán băng keo màu đen ở góc, bên trong là lớp ni lông màu vàng có in chữ nước ngoài, tiếp đến là lớp ni lông màu vàng và lớp ni lông trong suốt bên trong có chứa chất bột nén màu trắng (ký hiệu M3).
  • + 04 túi ni lông màu xanh và 01 túi ni lông màu hồng có cùng kích thước (8,5x6,5) cm, bên trong các túi này đều chứa các viên nén màu hồng trên bề mặt có ký hiệu chữ WY (ký hiệu M4, M5, M6, M7, M8).
  • + 01 gói ni lông không rõ hình phía ngoài được quấn băng keo màu đen, trong lớp băng keo màu đen là lớp ni lông màu xanh, tiếp đến là lớp ni lông màu trắng chứa chất bột nén màu trắng (ký hiệu M9).
  • + 01 hộp nhựa màu xanh hình trụ tròn kích thước (8x5) cm bên trong có chứa 07 túi ni lông trong suốt có cùng kích thước (4x6) cm bên trong các túi ni lông này đều chứa chất tinh thể màu trắng (ký hiệu N1 đến N7).
  • + 01 túi ni lông trong suốt kích thước (18x34) cm bên trong có chứa 02 túi ni lông màu xanh có cùng kích thước (8,5x6,5) cm bên trong đều chứa các viên nén màu hồng trên bề mặt có ký hiệu chữ WY (ký hiệu Y1, Y2).
  • + 01 khẩu súng dạng CKC, dài 110 cm, nòng súng làm bằng kim loại hình trụ tròn, trên thân súng có chữ “R9645”, báng súng làm bằng gỗ.
  • + 01 hộp giấy màu xanh phía ngoài có in chữ nước ngoài, kích thước (7,5x2,5x4) cm, bên trong có chứa 46 viên đạn hình trụ tròn dài 2,5 cm, đầu đạn màu đen, vỏ đạn gồm loại màu đồng và màu bạc.
  • + 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 chai nhựa trong suốt, thân chai có gắn 01 ống bằng kim loại.
  • + 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO, màu xanh (máy đang trong trình trạng tắt nguồn).
  • + 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu xanh, máy dạng bàn phím, trong máy
  • không lắp pin, máy cũ đã qua sử dụng.
  • + 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, máy dạng bàn phím, trong máy không lắp pin, máy cũ đã qua sử dụng.
  • + 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, máy dạng bàn phím, trong máy không lắp pin và lắp sim, máy cũ đã qua sử dụng.

- Thu giữ trong quá trình truy tìm vật chứng tại lán thuộc Tiểu khu A Vườn quốc gia V vào ngày 27/01/2024 do Nguyễn Hồng S trình báo.

  • + 01 hộp nhựa trong suốt hình trụ tròn, nắp hộp màu đỏ, có kích thước cao 31 cm, đường kính đáy 17 cm, đường kính nắp nhựa phía trên 13,5 cm bên trong chứa các túi ni lông màu xanh và màu hồng, có cùng kích thước 9x6,5 cm đều chứa các viên nén màu hồng, trên bề mặt có ký hiệu chữ WY (ký hiệu: A1).
  • + 01 gói ni lông màu đen, không rõ hình, bên trong chứa các túi ni lông màu xanh và màu hồng, có cùng kích thước 9x6,5 cm chứa các viên nén màu hồng, trên bề mặt có ký hiệu chữ WY (ký hiệu: A2).
  • + 02 khối hộp có cùng kích thước 19,5x12x3,5 cm, phía ngoài có ghi dòng chữ YA9991, bên ngoài được bọc bằng lớp ni lông trong suốt, bên trong có 03 khối giấy màu trắng chứa các túi ni lông màu xanh và màu hồng, có cùng kích thước 9x6,5 cm chứa các viên nén màu hồng, trên bề mặt có ký hiệu chữ WY (ký hiệu: A3 và A5).
  • + 01 khối hộp có kích thước 19,5x12x3,5 cm phía ngoài có ghi dòng chữ YA9991, bên ngoài được bọc bằng lớp ni lông trong suốt, bên trong có 03 khối giấy màu trắng chứa các túi ni lông màu xanh và màu hồng, có cùng kích thước 9x6,5 cm chứa các viên nén màu hồng trên bề mặt có ký hiệu chữ WY và một số viên nén màu xanh có ký hiệu chữ Y (ký hiệu: A4).
  • + 100 tờ tiền Ngân hàng N3, mệnh giá 500.000 đồng.
  • + 01 hộp nhựa màu trắng hình trụ tròn, nắp hộp màu trắng, có kích thước cao là 18,5 cm, đường kính đáy và nắp hộp giống nhau là 19,5 cm, bên trong chứa 02 vật hình trụ tròn, vỏ ngoài bằng ni lông, dài 21,5 cm, phía hai đầu được buộc lại bằng dây kim loại, bên trong có chứa chất dẻo màu vàng nhạt (ký hiệu: B1 và B2).

- Thu giữ trong quá trình khám nghiệm hiện trường

  • + 01 vỏ dao bằng gỗ (ghi thu tại vị trí số 1 trong Biên bản khám nghiệm hiện trường)
  • + 06 mẫu chất màu nâu (ghi thu tại vị trí số 01, 02, 03, 04, 05, 07 trong Biên bản khám nghiệm hiện trường)
  • + 07 chiếc dao và 01 chiếc cưa tay (ghi thu tại vị trí số 6 và số 10 trong Biên bản khám nghiệm hiện trường)
  • + 01 chiếc dao dài 33cm, lưỡi bằng kim loại, chỗ rộng nhất 6cm, cán bằng gỗ dài 12cm, mũi dao bị cong (ghi thu tại vị trí số 08 trong Biên bản khám nghiệm
  • hiện trường)
  • + 01 chiếc dép màu đen, nhãn hiệu Nike (ghi thu tại vị trí số 9 trong Biên bản khám nghiệm hiện trường)
  • + 01 chiếc áo phông cổ bẻ thu tại cây chanh trước nhà (ghi thu tại vị trí số 11 trong Biên bản khám nghiệm hiện trường)

- Thu giữ trong quá trình truy tìm vật chứng tại Trạm kiểm lâm Sao La do anh Phạm Văn N2 giao nộp

  • + 01 thanh gỗ dài 55 cm, chỗ rộng nhất 2,4 cm.
  • + 01 thanh gỗ hình trụ tròn dài 70 cm, đường kính rộng nhất 2,5 cm (một đầu thanh gỗ bị gãy khuyết mất một phần dài 26 cm)

- Thu giữ từ anh Lê Công S2 - Trạm trưởng Trạm kiểm lâm Sao La giao nộp

  • + 01 chiếc dép nhựa màu đen, trên bề mặt quai dép có chữ Nike. (Bút lục số 133)

* Xử lý vật chứng, đồ vật, tài liệu:

  • - Đối với 01 khẩu súng thể thao dài 110 cm, hộp khóa nòng và nòng súng bằng kim loại, báng súng làm bằng gỗ, mặt bên trái hộp khóa nòng có chữ “R9645”, súng cũ đã qua sử dụng và 40 viên đạn thể thao cỡ (5,6x15,5) mm (đã trừ 06 viên lấy mẫu giám định không hoàn trả) được chuyển đến cơ quan Công an huyện V, tỉnh Hà Tĩnh để xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Hồng S.
  • - Đối với 398,7 gam thuốc nổ Nhũ tương (đã trừ 3,5 gam lấy mẫu giám định) hiện đang tạm giữ tại kho quân khí của Bộ chỉ huy quân sự tỉnh H để quản lý, bảo quản theo quy định;
  • - Số vật chứng còn lại được chuyển đến Cục thi hành án dân sự để xử lý theo quy định.

* Về trách nhiệm dân sự: Đại diện gia đình người bị hại yêu cầu Nguyễn Hồng S bồi thường tiền mai táng phí, tiền cấp dưỡng cho 03 con của anh Lê Viết H1 chưa đủ 18 tuổi và tiền tổn thất về tinh thần với tổng số tiền 400.000.000đồng. Quá trình điều tra và giai đoạn chuẩn bị xét xử, bị cáo Nguyễn Hồng S đã tác động gia đình bồi thường được số tiền 400.000.000đồng. Hiện nay đại diện bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Với hành vi phạm tội nêu trên, tại bản Cáo trạng số 70/CT-VKSHT-P1 ngày 17/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã truy tố bị cáo Nguyễn Hồng S về tội “Giết người” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123, tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm h khoản 4 Điều 249 và tội “Tàng trữ trái phép vật liệu nổ” quy định tại khoản 1 Điều 305 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã đề nghị Hội đồng xét xử:

* Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hồng S phạm tội “Giết người”, tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và tội “Tàng trữ trái phép vật liệu nổ”.

Căn điểm n khoản 1 Điều 123; điểm h khoản 4, khoản 5 Điều 249; khoản 1 Điều 305; Điều 32, khoản 2 Điều 35; điểm b (đối với tội giết người), s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 39; điểm c khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự:

* Về hình phạt

  • - Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng S tù chung thân về tội “Giết người”, tù chung thân về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, từ 12 đến 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép vật liệu nổ”. Tổng hợp hình phạt chung của ba tội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt Tù chung thân. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (ngày 26/01/2024).
  • - Về hình phạt bổ sung: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng S số tiền từ 10.000.000đồng đến 20.000.000đồng.

* Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử:

  • + Tịch thu tiêu hủy:
  • - 01 (một) hộp nhựa hình trụ tròn trong suốt, nắp hộp màu đỏ, có kích thước: cao 31 cm, đường kính đáy 17 cm, đường kính nắp nhựa phía trên 13,5 cm, được niêm phong dán kín lại bằng các giải niêm phong có chữ ký gồm: Trần Trọng T3; Nguyễn Văn M; Nguyễn Hữu L1; Nguyễn Hoàng L2; Lê Kiếm S4; Lê Ngọc B; Nguyễn Hồng S. Bên trong có chứa: 2.261,7 gam Methamphetamine, 1,6 gam các viên nén màu xanh.
  • - 01 (một) hộp nhựa hình trụ tròn trong suốt, nắp hộp màu xanh, có kích thước: cao 29 cm, đường kính đáy 17 cm, đường kính nắp nhựa phía trên 13,5 cm, được niêm phong dán kín lại bằng các giải niêm phong có chữ ký gồm: Trần Trọng T3, Nguyễn Việt H7, Nguyễn Hữu L1, Lê Hữu C, Trương Quốc H4, Nguyễn Hồng S, giải niêm phong có đóng dấu tròn đỏ của Công an xã Q. Bên trong có chứa: 160,6002 gam là ma túy Methamphetamine; 1,8715 gam ma túy Ketamine; 176,3165 gam ma túy Heroine cùng toàn bộ vỏ bao gói đựng ban đầu.
  • - 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: chai nhựa trong suốt không có nắp đậy, trên thân chai có gắn một ống kim loại.
  • - 01 (Một) hộp các tông kích thước (31x22,5×22,5) cm, bên trong chứa các vỏ bao gói đựng ban đầu của các mẫu gửi giám định được ký hiệu từ Al đến A5. Hộp các tông được niêm phong dán kín lại bằng các giải niêm phong có chữ ký của Trần Trọng T3 - Điều tra viên và Phạm Thị L3 - Giám định viên, giải niêm phong đóng dấu tròn đỏ của Phòng K3 Công an tỉnh H.
  • - 01 (một) hộp bìa cát tông dán kín niêm phong lại bên trong gồm: 01 (một) đôi
  • dép màu đen, nhãn hiệu Nike; 01 (một) vỏ dao bằng gỗ; 08 (tám) con dao; 01 (một) chiếc áo phông cổ bẻ; 01 (một) chiếc cưa tay.
  • - 01 (một) thanh gỗ dài 55 cm, chỗ rộng nhất 2,4 cm.
  • - 01 (một) thanh gỗ hình trụ tròn dài 70 cm, đường kính rộng nhất 2,5 cm (một đầu thanh gỗ bị gãy khuyết mất một phần dài 26 cm).
  • - 01 (Một) điện thoại di động hiệu Nokia, màu xanh, máy dạng bàn phím, trong máy không lắp pin, máy cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng (ĐS 2).
  • - 01 (Một) điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, máy dạng bàn phím, trong máy không lắp pin, máy cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng (ĐS 3).
  • - 01 (Một) điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, máy dạng bàn phím, trong máy không lắp pin và không lắp sim, máy cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng (ĐS 4).

3.2. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Hồng S: 01 (Một) điện thoại di động hiệu OPPO Reno, màu xanh, máy dạng cảm ứng, máy cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng (ĐS 1).

Tình trạng cụ thể các vật chứng nêu trên có tại biên bản giao nhận vật chứng số 70/2024, ngày 18/9/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh H và Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh.

3.3. Tiếp tục tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án số tiền 50.000.000đồng (năm mươi triệu đồng) thu giữ của bị cáo (Số tiền này có tại tài khoản tạm giữ tại kho bạc Nhà nước tỉnh H số 3949.9.9042282.00000 do Cơ quan điều tra Công an tỉnh H lập ngày 05/02/2024). Sau khi thực hiện xong nghĩa vụ thi hành án số tiền còn lại trả cho bị cáo Nguyễn Hồng S.

3.4. Tịch thu và giao cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh H phân loại, bảo quản, xử lý, tiêu huỷ theo quy định: Đối với 398,7 gam thuốc nổ Nhũ tương (đã trừ 3,5 gam lấy mẫu giám định).

(Hiện nay số thuốc nổ trên đang tạm giữ tại kho quân khí Bộ chỉ huy quân sự tỉnh H. Theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh H và Bộ chỉ huy quân sự tỉnh H ngày 26/02/2024).

4. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Hồng S phải chịu 200.000đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm h khoản 4, khoản 5 Điều 249; khoản 1 Điều 305; Điều 32, khoản 2 Điều 35; điểm b (đối với tội giết người), s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 39; điểm a, c khoản 1 Điều 47; điểm c khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a

khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Quốc hội khóa 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hồng S phạm tội “Giết người”, tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và tội “Tàng trữ trái phép vật liệu nổ”.

2. Về hình phạt:

2.1. Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng S tù chung thân về tội “Giết người”, tù chung thân về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, 12 (mười hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép vật liệu nổ”. Tổng hợp hình phạt chung của ba tội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt Tù chung thân. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (ngày 26/01/2024).

2.2. Về hình phạt bổ sung: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng S số tiền 10.000.000đồng (mười triệu đồng).

3. Về vật chứng:

3.1. Tịch thu tiêu hủy:

  • - 01 (một) hộp nhựa hình trụ tròn trong suốt, nắp hộp màu đỏ, có kích thước: cao 31 cm, đường kính đáy 17 cm, đường kính nắp nhựa phía trên 13,5 cm, được niêm phong dán kín lại bằng các giải niêm phong có chữ ký gồm: Trần Trọng T3; Nguyễn Văn M; Nguyễn Hữu L1; Nguyễn Hoàng L2; Lê Kiếm S4; Lê Ngọc B; Nguyễn Hồng S. Bên trong có chứa: 2.261,7 gam Methamphetamine, 1,6 gam các viên nén màu xanh.
  • - 01 (một) hộp nhựa hình trụ tròn trong suốt, nắp hộp màu xanh, có kích thước: cao 29 cm, đường kính đáy 17 cm, đường kính nắp nhựa phía trên 13,5 cm, được niêm phong dán kín lại bằng các giải niêm phong có chữ ký gồm: Trần Trọng T3, Nguyễn Việt H7, Nguyễn Hữu L1, Lê Hữu C, Trương Quốc H4, Nguyễn Hồng S, giải niêm phong có đóng dấu tròn đỏ của Công an xã Q. Bên trong có chứa: 160,6002 gam là ma túy Methamphetamine; 1,8715 gam ma túy Ketamine; 176,3165 gam ma túy Heroine cùng toàn bộ vỏ bao gói đựng ban đầu.
  • - 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: chai nhựa trong suốt không có nắp đậy, trên thân chai có gắn một ống kim loại.
  • - 01 (Một) hộp các tông kích thước (31x22,5×22,5) cm, bên trong chứa các vỏ bao gói đựng ban đầu của các mẫu gửi giám định được ký hiệu từ A1 đến A5. Hộp các tông được niêm phong dán kín lại bằng các giải niêm phong có chữ ký của Trần Trọng T3 - Điều tra viên và Phạm Thị L3 - Giám định viên, giải niêm phong đóng dấu tròn đỏ của Phòng K3 Công an tỉnh H.
  • - 01 (một) hộp bìa cát tông dán kín niêm phong lại bên trong gồm: 01 (một) đôi dép màu đen, nhãn hiệu Nike; 01 (một) vỏ dao bằng gỗ; 08 (tám) con dao; 01 (một) chiếc áo phông cổ bẻ; 01 (một) chiếc cưa tay.
  • - 01 (một) thanh gỗ dài 55 cm, chỗ rộng nhất 2,4 cm.
  • - 01 (một) thanh gỗ hình trụ tròn dài 70 cm, đường kính rộng nhất 2,5 cm (một đầu thanh gỗ bị gãy khuyết mất một phần dài 26 cm).
  • - 01 (Một) điện thoại di động hiệu Nokia, màu xanh, máy dạng bàn phím, trong máy không lắp pin, máy cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng (ĐS 2).
  • - 01 (Một) điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, máy dạng bàn phím, trong máy không lắp pin, máy cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng (ĐS 3).
  • - 01 (Một) điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, máy dạng bàn phím, trong máy không lắp pin và không lắp sim, máy cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng (ĐS 4).

3.2. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Hồng S: 01 (Một) điện thoại di động hiệu OPPO Reno, màu xanh, máy dạng cảm ứng, máy cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng (ĐS 1).

Tình trạng cụ thể các vật chứng nêu trên có tại biên bản giao nhận vật chứng số 70/2024, ngày 18/9/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh H và Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh.

3.3. Tiếp tục tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án số tiền 50.000.000đồng (năm mươi triệu đồng) thu giữ của bị cáo (Số tiền này có tại tài khoản tạm giữ tại kho bạc Nhà nước tỉnh H số 3949.9.9042282.00000 do Cơ quan điều tra Công an tỉnh H lập ngày 05/02/2024). Sau khi thực hiện xong nghĩa vụ thi hành án số tiền còn lại trả cho bị cáo Nguyễn Hồng S.

3.4. Tịch thu và giao cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh H phân loại, bảo quản, xử lý, tiêu huỷ theo quy định: Đối với 398,7 gam thuốc nổ Nhũ tương (đã trừ 3,5 gam lấy mẫu giám định).

(Hiện nay số thuốc nổ trên đang tạm giữ tại kho quân khí Bộ chỉ huy quân sự tỉnh H. Theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh H và Bộ chỉ huy quân sự tỉnh H ngày 26/02/2024).

4. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Hồng S phải chịu 200.000đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà nội;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Phòng PV06 Công an tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Phòng PC44 Công an tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Cục THADS tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Thi hành án hình sự TAND tỉnh;
  • - Bị cáo; người đại diện hợp pháp của bị hại;
  • - Người có QLVNVLQ;
  • - Phòng LLTP Sở Tư pháp;
  • - Lưu HSVA.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Hồ Đức Quang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 79/2024/HS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về giết người; tàng trữ trái phép chất ma tuý; tàng trữ trái phép vật liệu nổ

  • Số bản án: 79/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Giết người; Tàng trữ trái phép chất ma tuý; Tàng trữ trái phép vật liệu nổ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Thực hiện Kế hoạch tuần tra kiểm soát trên tuyến biên giới Việt – Lào, đảm bảo an ninh trật tự bảo vệ tết Nguyên Đán Giáp Thìn năm 2024. Ngày 25/01/2024, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Hà Tĩnh phối hợp với lực lượng chức năng tuần tra tại khu vực
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger