|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 79/2024/HS-ST Ngày 27-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Dung.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Minh Chiểu.
2. Bà Trần Thị Hiền.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hằng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 73/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2024, đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Trịnh Quyết T, tên gọi khác: Không, sinh ngày: 29/9/2005 tại xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn D, xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trịnh Văn Đ, sinh năm: 1985; Con bà: Trần Thị T1, sinh năm: 1987; Gia đình bị cáo có 04 anh em, bị cáo là con đầu; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 27/5/2024 cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Nguyễn Thị Ngọc H, tên gọi khác: Không, sinh ngày: 27/7/2000 tại huyện N, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm B, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Đình S, sinh năm: 1979; Con bà: Nguyễn Thị L, sinh năm: 1982; Gia đình bị cáo có 04 chị em, bị cáo là con đầu; Bị cáo có chồng là Nguyễn Gia B (đã ly hôn), có 01 con sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 05/7/2024 cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Anh Thiều Quang C, sinh năm: 2005, nơi cư trú: Thôn B, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Đào Xuân Đỗ Đức T2, sinh ngày: 02/02/2009; nơi ĐKHKTT: Thôn P, xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; nơi ở hiện tại: Thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp: Bà Đào Thị M, sinh năm: 1990, nơi ĐKHKTT: Thôn P, xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; nơi ở hiện tại: Thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
2. Anh Ngô Tuấn T3, sinh ngày: 06/4/2008; nơi cư trú: Khu phố T, thị trấn Q, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Ngô Thị L1, sinh năm: 1983, nơi cư trú: Khu phố A, thị trấn V, huyện V, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
- Người làm chứng:
1. Anh Nguyễn Văn V, sinh năm: 2001, nơi cư trú: Thôn Y, xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
2. Anh Đỗ Công H1, sinh năm: 2005, nơi cư trú: Thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
3. Anh Vũ Minh H2, sinh năm: 1997, nơi cư trú: Thôn Đ, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trước đây chị Cù Thị Yến P (sinh ngày 14/6/2009, trú tại thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa) và Nguyễn Thị Ngọc H đều là nhân viên phục vụ tại quán K ở thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. H có cho người yêu là anh Nguyễn Văn V (sinh năm 2001, trú tại thôn Y, xã Đ, huyện Y) mượn 01 chiếc điện thoại Iphone 11 cũ để sử dụng nhưng do thiếu tiền nên anh V đã mang đi cầm cố. Chị P đã cùng với Đào Xuân Đỗ Đức T2 (sinh ngày: 02/02/2009, trú tại thôn P, xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa) đi chuộc điện thoại về để sử dụng, H biết nhưng không có ý kiến gì. Đến khi chị P đi làm nơi khác thì H có ý định chuộc lại để dùng. Vào tối ngày 16/02/2024, biết chị P đang ở nhà trọ của anh Vũ Minh H2 (sinh năm 1997, ở thôn A, xã Y, huyện Y) nên Đào Xuân Đỗ Đức T2 (là người yêu của chị P) đã rủ Nguyễn Thị Ngọc H, Nguyễn Văn V, Trịnh Quyết T và Ngô Tuấn T3 (sinh ngày 06/04/2008, trú tại khu phố T, thị trấn Q, huyện Y) đến tìm gặp chị P để chuộc lại chiếc điện thoại di động cho H. Khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, nhóm của T2 đến nhà trọ của anh H2 thì gặp chị Hà
Thị L2 (sinh năm 1999 trú tại thôn Đ, xã Y - là vợ anh H2). Tại đây, T2 nói chuyện với chị L2 để đón chị P về thì chị L2 đồng ý. Sau đó, chị L2 nhờ anh Nguyễn Long V1 (sinh năm 2001, ở thôn B, xã Y) đi ra quán Karaoke 79 Club ở xã Y đón chị P về. Một lúc sau, anh V1 thông báo lại với chị L2 là không thấy chị P đâu nên chị L2 nói lại với nhóm của T2 và cũng đi tìm chị P. Lúc này, T2 đi xuống bếp nhà trọ lấy 02 con dao phay mang đi. Sau đó, nhóm của T2 đi đến quán K1 để tìm chị P nhưng không thấy nên quay lại nhà trọ của anh H2 nhưng thấy không có ai nên nhóm của T2 lại quay xe đi tìm chị P. T2 đưa cho T3 một con dao, còn T2 vẫn cầm một con dao.
Lúc này, anh Thiều Quang C (sinh năm 2005, trú tại thôn B, xã Y, huyện Y) cùng với anh Đỗ Công H1 (sinh năm 2005, trú tại thôn T, xã Y, huyện Y) đến nhà anh H2 ở thôn Đ, xã Y chơi thì chị L2 gọi điện thoại cho anh H2 thông báo chị P bỏ đi đâu rồi nên anh H2 đi về khu nhà trọ của mình để tìm chị P. Anh C và anh H1 thấy 02 gậy tuýp sắt dựng ở cửa ra vào thì cho rằng là của anh H2 nên đã tự cầm mang đến phòng trọ cho anh H2. Anh H1 đi xe máy chở anh C lên gần đến nhà trọ của anh H2 thì gặp nhóm của T2 đang đi ngược chiều. Thấy anh C ngồi sau cầm 02 gậy tuýp sắt nên T3 hô lên, rồi cả nhóm của T2 quay xe lại đuổi theo anh C và anh H1 vì cho rằng họ bảo kê cho chị P trốn. Anh H1 chở anh C vào trong nhà trọ của anh H2, để xe và 02 gậy tuýp sắt ở sân rồi bỏ chạy ra vườn. T2, T3 và T xuống xe chạy đuổi theo. Anh C nhảy xuống ao cạn trong vườn thì T2 cũng nhảy xuống và túm được anh C, rồi T2 dùng sống dao chém liên tiếp khoảng 3-4 cái vào vai, lưng và bụng anh C. Còn anh H1 chạy qua bờ rào ra phía ruộng sau nhà trọ trốn thoát nên không bị đánh. Sau đó, T2 kéo anh C lên bờ và đưa vào sân, T2 dùng sống dao đánh anh C thêm vài cái. T3 cũng dùng sống dao đánh 01 cái và dùng tay, chân đấm đá vào người anh C. T dùng tay tát vài cái vào mặt anh C, còn H dùng mũ bảo hiểm đập 01 cái vào người anh C. Cùng lúc đó, T và T3 nhặt 02 gậy tuýp sắt ở gần xe máy (do anh C để lại trước đó) rồi T3 tiếp tục dùng gậy tuýp sắt đánh thêm 2-3 cái vào người, dùng chân và tay anh C, còn T chỉ cầm gậy tuýp sắt trên tay và không đánh anh C. Thấy vậy, anh V kéo T ra, giật gậy tuýp sắt từ tay T và can ngăn mọi người không cho tiếp tục đánh anh C. Sau đó, T2, T3, T và H dừng lại không đánh anh C nữa và tiếp tục đi tìm chị P. Khi đi, T2 cầm theo 02 con dao, còn T3 cầm 02 đoạn gậy tuýp sắt. Do không tìm thấy chị P nên cả nhóm của T2 quay lại nhà trọ của anh H2 thì thấy anh C vẫn đang ngồi ở đây, trong nhà trọ không có ai. T2 hỏi anh C có thấy chị P không nhưng anh C nói không biết nên T2 dùng sống dao đánh một cái vào chân của anh C còn T3 thì dùng gậy tuýp sắt vụt vài cái vào tay, chân anh C. Sau đó, T2 và T3 quay ra đi về cùng với anh V và H. Trên đường đi về, T2 đã vứt 02 con dao ở lề bờ ruộng. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thu giữ được.
Anh Thiều Quang C sau khi bị đánh gây thương tích đã đi điều trị tại Bệnh viện Đ1 từ tối ngày 16/02/2024 đến ngày 22/02/2024 thì xuất viện. Tại
biên bản xem xét dấu vết trên thân thể đối với anh C ngày 17/02/2024 tại Bệnh viện Đ1 thể hiện anh Thiều Quang C bị các thương tích gồm: 01 vết thương trầy xước da kích thước trong diện 0,5cm x 5,5cm trên vùng rốn; 01 vết thương rách da kích thước trong diện 0,3cm x 1cm trên cẳng tay trái; 01 vết thương bầm tím kích thước trong diện 1,5cm x 14,5cm vùng lưng trên thắt lưng; gãy xương bàn 4 tay trái. Ngoài ra, theo Kết quả chụp CT-Scaner cột sống thắt lưng ngày 28/02/2024 tại Phòng khám Đ2 thành phố T, tỉnh Thanh Hóa xác định anh C bị gãy mảnh rời gai ngang L2, L3, L4 bên trái.
Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 283/KLTTCT -PYTH ngày 29/3/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh T kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Thiều Quang C tại thời điểm giám định là 27 % (Hai mươi bảy phần trăm).
Về trách nhiệm dân sự: Anh Thiều Quang C yêu cầu Trịnh Quyết T, Nguyễn Thị Ngọc H, Đào Xuân Đỗ Đức T2 và Ngô Tuấn T3 phải bồi thường thiệt hại tổng số tiền là 67.834.000 đồng. Do H đã tự nguyện bồi thường cho anh C 18.000.000 đồng, nên anh C yêu cầu T, T2 và T3 phải bồi thường số tiền còn lại 49.834.000 đồng.
Vật chứng thu giữ: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ:
- 02 (hai) gậy tuýp sắt, đã qua sử dụng, có kích thước như sau: 01 gậy có chiều dài 85cm và đường kính 2,3cm và 01 gậy có chiều dài 92cm, đường kính 2,3 cm, do Ngô Tuấn T3 tự nguyện giao nộp.
- 01 mũ bảo hiểm, màu vàng nhạt (dạng mũ thời trang, lưỡi trai), trên mũ có họa tiết hình mặt gấu, đã qua sử dụng, do bị cáo H tự nguyện giao nộp.
Tại bản cáo trạng số 81/CT-VKSYĐ ngày 29/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định truy tố Trịnh Quyết T và Nguyễn Thị Ngọc H về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Đối với Đào Xuân Đỗ Đức T2 và Ngô Tuấn T3 có hành vi dùng tuýp sắt, dao đánh gây thương tích cho anh C nhưng tại thời điểm thực hiện, T2 và T3 chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ đến Công an huyện Y để xem xét xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa:
- Các bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã truy tố và xin giảm nhẹ hình phạt.
- Bị hại là anh Thiều Quang C yêu cầu bị cáo T, bị cáo H, T2 và T3 phải bồi thường thiệt hại tổng số tiền là 67.834.000 đồng. Do bị cáo H đã tự nguyện bồi thường cho anh C số tiền là 18.000.000 đồng, nên anh C yêu cầu bị cáo T, T2 và T3 phải bồi thường số tiền còn lại 49.834.000 đồng. Anh C xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo H.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định luận tội giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Trịnh Quyết T và Nguyễn Thị Ngọc H phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết như sau:
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trịnh Quyết T từ 03 năm 03 tháng đến 03 năm 06 tháng tù, được trừ thời gian tạm giam.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Ngọc H từ 03 năm đến 03 năm 03 tháng tù, được trừ thời gian tạm giam.
Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị cáo H đã tự nguyện bồi thường cho anh C số tiền 18.000.000 đồng. Buộc bị cáo T, T2 và T3 có nghĩa vụ liên đới bồi thường cho anh C số tiền là 49.834.000 đồng.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu tiêu hủy 02 gậy tuýp sắt và 01 mũ bảo hiểm.
Về án phí: Thực hiện theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về tội danh:
Thông qua tranh tụng tại phiên toà, các bị cáo Trịnh Quyết T và Nguyễn Thị Ngọc H hoàn toàn thừa nhận: Vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 16/02/2024, sau khi đến nhà trọ của anh Vũ Minh H2 ở thôn A, xã Y, huyện Y để tìm chị Cù Thị Yến P nhưng không gặp. Cho rằng vợ chồng anh H2, chị L2 cho người mang chị P đi trốn nên khi thấy anh T4 Quang C cầm theo gậy tuýp sắt đi cùng anh Đỗ Công H1 đến thì Trịnh Quyết T và Nguyễn Thị Ngọc H đã cùng với Đào Xuân Đỗ Đức T2, Ngô Tuấn T3 có hành vi dùng dao, gậy tuýp sắt, mũ bảo hiểm và tay, chân đánh gây thương tích cho anh Thiều Quang C với tỷ tổn thương cơ thể là 27% (Hai mươi bảy phần trăm).
Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với thương tích của bị hại, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập trong hồ sơ vụ án. Các bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Các bị cáo có hành vi cố ý gây thương tích
cho anh C với tỷ tổn thương cơ thể là 27% và thuộc trường hợp quy định tại điểm a và điểm i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự là “Dùng hung khí nguy hiểm” và “Có tính chất côn đồ”. Vì vậy, HĐXX xét thấy có đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định truy tố bị cáo theo tội danh trên, đề nghị HĐXX áp dụng điều luật là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Đối với Đào Xuân Đỗ Đức T2 và Ngô Tuấn T3 có hành vi dùng tuýp sắt, dao đánh gây thương tích cho anh C nhưng tại thời điểm thực hiện, T2 và T3 chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ đến Công an huyện Y để xem xét xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp với quy định của pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm và quan hệ pháp luật xâm phạm, tính chất của đồng phạm và vai trò của các bị cáo:
Tính chất vụ án là nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của các bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến thân thể, sức khoẻ của người khác - một khách thể đặc biệt được pháp luật bảo vệ. Hành vi đó cần phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật để răn đe và phòng ngừa chung.
Đây là vụ án hình sự có đồng phạm. Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội một cách bột phát, không có sự bàn bạc, phân công nên chỉ là đồng phạm giản đơn. Các bị cáo phải chịu trách nhiệm chung đối với hậu quả đã gây ra và giữ vai trò ngang nhau trong vụ án.
[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo có nhân thân tốt, không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ là “Thành khẩn khai báo” theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Riêng bị cáo Nguyễn Thị Ngọc H được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại” và bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt, quy định tại điển b khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt: Trên cơ sở đánh giá tính chất vụ án, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, HĐXX xét thấy: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng, nên cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc là hình phạt tù có thời hạn, có như vậy mới đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội, đồng thời răn đe, phòng ngừa chung.
[6] Về trách nhiệm dân sự:
Anh Thiều Quang C yêu cầu bị cáo Trịnh Quyết T, bị cáo Nguyễn Thị Ngọc H, anh Đào Xuân Đỗ Đức T2 và anh Ngô Tuấn T3 phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe gồm các khoản tiền cụ thể như sau:
- Tiền viện phí và tiền mua thuốc trong thời gian điều trị tại bệnh viện là: 15.844.000 đồng (đã làm tròn).
- Tiền mua thuốc thêm khi về nhà và chi phí hồi phục sức khỏe là: 5.000.000 đồng.
- Tiền thu nhập thực tế bị mất trong thời gian nằm viện là: 06 ngày x 200.000 đồng/ngày = 1.200.000 đồng.
- Tiền thu nhập thực tế bị mất trong thời gian nghỉ ở nhà, không đi làm do bị bó bột tay là 02 tháng: 02 tháng x 6.000.000 đồng/tháng = 12.000.000 đồng.
- Tiền thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc trong thời gian nằm viện là: 06 ngày x 200.000 đồng/ngày = 1.200.000 đồng.
- Tiền thuê xe đi bệnh viện và từ bệnh viện về nhà là: 1.000.000 đồng.
- Tiền bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần là 13,5 lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định: 13,5 x 2.340.000 đồng = 31.590.000 đồng.
Tổng số tiền anh C yêu cầu bị cáo T, bị cáo H, anh T2 và anh T3 phải bồi thường là 67.834.000 đồng.
Xét thấy những yêu cầu của bị hại nêu trên là phù hợp với quy định của pháp luật. Trong đó: Các khoản tiền viện phí, mua thuốc có chứng từ hợp lệ, các khoản yêu cầu khác phù hợp với thực tế và đúng theo quy định tại Điều 590 Bộ luật Dân sự. Vì vậy, HĐXX chấp nhận yêu cầu của bị hại. Buộc bị cáo T, bị cáo H, anh T2 và anh T3 có nghĩa vụ liên đới bồi thường thiệt hại cho anh Thiều Quang C tổng số tiền là 67.834.000 đồng. Về chia phần: Các bị cáo và anh T2, anh T3 cùng có lỗi gây thiệt hại về sức khỏe cho anh C và mức độ lỗi như nhau, nên có nghĩa vụ bồi thường như nhau, mỗi người phải bồi thường số tiền 16.958.500 đồng. Bị cáo H đã tự nguyện bồi thường cho anh C số tiền là 18.000.000 đồng. Số tiền này lớn hơn nghĩa vụ của bị cáo H, tuy nhiên bị cáo H tự nguyện bồi thường số tiền này và không yêu cầu bị cáo T5, anh H, anh T3 phải hoàn trả phần chênh lệch, nên không xem xét. Buộc bị cáo T, anh T2 và anh T3 có nghĩa vụ liên đới bồi thường cho anh C số tiền còn lại 49.834.000 đồng, chia theo phần mỗi người phải bồi thường cho anh C 16.611.000 đồng (đã làm tròn).
[7] Về xử lý vật chứng:
Vật chứng của vụ án là 02 (hai) gậy tuýp sắt và 01 mũ bảo hiểm, đây là công cụ phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
[8] Về án phí: Các bị cáo có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo T, anh T2 và anh T3 có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại về dân sự nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh:
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự, tuyên bố các bị cáo Trịnh Quyết T và Nguyễn Thị Ngọc H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
2. Về hình phạt:
- Áp dụng đ khoản 2 Điều 134, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Trịnh Quyết T 03 (Ba) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 27/5/2024.
- Áp dụng đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Ngọc H 03 (Ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 05/7/2024.
3. Về trách nhiệm dân sự:
Căn cứ Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 30 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 590 Bộ luật Dân sự.
Bị cáo Trịnh Quyết T, bị cáo Nguyễn Thị Ngọc H, anh Đào Xuân Đỗ Đức T2 và anh Ngô Tuấn T3 có nghĩa vụ liên đới bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho anh Thiều Quang C số tiền là 67.834.000 đồng (Sáu mươi bảy triệu tám trăm ba mươi tư nghìn đồng). Ghi nhận bị cáo H đã tự nguyện bồi thường cho anh C số tiền là 18.000.000 đồng (Mười tám triệu đồng). Buộc bị cáo Trịnh Quyết T, anh Đào Xuân Đỗ Đức T2 và anh Ngô Tuấn T3 có nghĩa vụ liên đới bồi thường cho anh C số tiền còn lại là 49.834.000 đồng (Bốn mươi chín triệu tám trăm ba mươi tư nghìn đồng), chia theo phần mỗi người phải bồi thường cho anh C 16.611.000 đồng (Mười sáu triệu sáu trăm mười một nghìn đồng).
Kể từ ngày anh C có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bị cáo T, anh T2 và anh T3 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
4. Về xử lý vật chứng:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm:
- 02 (hai) gậy tuýp sắt, đã qua sử dụng, có kích thước như sau: 01 gậy có chiều dài 85cm và đường kính 2,3cm và 01 gậy có chiều dài 92cm, đường kính 2,3 cm.
- 01 mũ bảo hiểm, màu vàng nhạt (dạng mũ thời trang, lưỡi trai), trên mũ có họa tiết hình mặt gấu, đã qua sử dụng.
Các vật chứng nêu trên đang được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Định, theo phiếu nhập kho số NK72 ngày 09/9/2024.
5. Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Trịnh Quyết T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 831.000 đồng (Tám trăm ba mươi mốt nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Buộc bị cáo Nguyễn Thị Ngọc H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Buộc anh Đào Xuân Đỗ Đức T2 và anh Ngô Tuấn T3, mỗi người phải nộp 831.000 đồng (Tám trăm ba mươi mốt nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo bản án:
Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Các bị cáo và bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người đại diện hợp pháp của họ có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án, theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Dung |
Bản án số 79/2024/HS-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH, TỈNH THANH HÓA về hình sự sơ thẩm (cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 79/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xét xử Trịnh Quyết T và đồng phạm phạm tội cố ý gây thương tích
