Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN XUÂN TRƯỜNG

TỈNH NAM ĐỊNH

Bản án số: 79/2024/HS-ST

Ngày: 27-9-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG - TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Ngọc Long.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Đình Phấn;

Ông Vũ Xuân Thuỷ.

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Mai Vi Hoa - Thư ký Toà án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Quách Thị Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 79/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2024 và theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 80/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 9 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Lê Văn C, sinh ngày 21/02/1985, nơi sinh và nơi cư trú: Xóm B, xã X cũ (nay là xã T), huyện X, tỉnh Nam Định; nơi ở hiện tại: Thôn D, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Hồng Q và bà Trần Thị S; bị cáo có vợ là Dương Thị M và có 02 con, con lớn sinh năm 2018 và con nhỏ sinh năm 2024; tiền án: tiền sự không:

Nhân thân:

Ngày 15/12/2004, bị Toà án nhân dân huyện Xuân Trường xử phạt 3 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (chấp hành xong ngày 25/11/2006).

Ngày 25/02/2014, bị Toà án nhân dân huyện Xuân Trường xử phạt 33 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (đã chấp hành xong).

Ngày 15/4/2021, bị Toà án nhân dân huyện Xuân Trường xử phạt 18 tháng tù về tội “Vận chuyển hàng cấm” (chấp hành xong ngày 05/6/2022).

Năm 2010, bị chủ tịch UBND tỉnh N ra Quyết định đưa vào cở sở giáo dục, thời hạn 24 tháng (chấp hành xong ngày 18/4/2012).

Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 06/6/2024 đến ngày 15/6/2024 chuyển tạm giam, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N. Tại phiên toà bị cáo có mặt.

2. Phạm Đức Đ, sinh ngày 29/8/1980, nơi sinh và nơi cư trú: Thôn P, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Đức H và bà Vũ Thị L; bị cáo có vợ là Trịnh Thị P và có 02 con, con lớn sinh năm 2009 và con nhỏ sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân:

Ngày 27/9/2012, bị Toà án nhân dân huyện Xuân Trường xử phạt 27 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, chấp hành xong ngày 09/5/2014.

Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 06/6/2024 đến ngày 15/6/2024 chuyển tạm giam, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N. Tại phiên toà bị cáo có mặt.

- Người chứng kiến: Ông Lưu Xuân Đ1; “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Đức Đ quen biết Lê Văn C và biết C bán ma túy. Khoảng 9 giờ 12 phút ngày 06/6/2024, Đ sử dụng tài khoản Zalo của mình có tên “Ngọc L1” gọi đến tài khoản Zalo của C có tên “Chinh L2” hỏi mua 200.000 đồng Heroine. C đồng ý và hẹn Đ đến đoạn đường liên xã thuộc xóm A, xã X cũ (nay là xã T), huyện X, tỉnh Nam Định để giao ma túy. Khoảng 9 giờ 40 phút cùng ngày, C điều khiển xe ô tô nhãn hiệu KIA, loại xe Morning màu sơn bạc, BKS: 18A-362.19 đến điểm hẹn nhưng không thấy Đ nên sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, gắn thẻ sim số thuê bao 0376860285 gọi đến điện thoại di động Redmi của Đình gắn thẻ sim số thuê bao 0961011826 để giục Đ. Sau đó, Đ điều khiển xe đạp điện màu trắng đến điểm hẹn, thấy xe ô tô của C, Đình tiến đến cửa ghế lái thì C hạ của xe ô tô xuống. Đ đưa cho cho C 200.000 đồng, C nhận tiền và đưa cho Đ 01 gói giấy báo nhỏ, bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng. Đ nhận gói giấy nhỏ xác định là H1 cầm ở tay trái thì bị tổ công tác Công an xã X làm nhiệm vụ phát hiện bắt quả tang.

Tổ công tác đã mời người chứng kiến tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong 01 gói giấy báo nhỏ Đ nộp, ký hiệu M; 01 xe đạp điện màu trắng không gắn biển kiểm soát; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu đen đã cũ.

Khi Công an xã X bắt quả tang Đ, thì C điều khiển xe ô tô bỏ chạy về nhà ở xóm B, xã X thì bị tổ công tác đuổi theo, khống chế, bắt giữ đưa về trụ sở Công an xã X, huyện X làm việc. Tại đây, C giao nộp 200.000 đồng cất giấu ở túi quần bên trái và khai nhận là tiền vừa bán ma túy cho Đ mà có. Ngoài ra, C còn tự giác giao nộp thêm 01 túi nilon dạng túi Zip đựng 10 gói giấy báo nhỏ, trong chứa chất bột dạng cục màu trắng, C khai đây là những gói Heroine cất giấu mục đích để bán kiếm lời (thu giữ niêm phong ký hiệu M1); 01 Xe ô tô nhãn hiệu KIA Morning màu sơn bạc, BKS: 18A - 362.19 cùng giấy đăng ký xe mang tên Lê Văn C; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đen.

Ngày 06/6/2024, Cơ quan điều tra C1 khám xét khẩn cấp nơi ở của Lê Văn C, Phạm Đức Đ không thu giữ tài liệu, đồ vật gì.

- Ngày 10/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X ra Quyết định trưng cầu giám định chất ma túy:

Tại bản kết luận giám định số: 1085/KL-KTHS ngày 12/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: mẫu chất bột dạng cục màu trắng trong phong bì thư được niêm phong ký hiệu M, M1 (M thu giữ của Phạm Đức Đ, M1 thu giữ của Lê Văn C) là ma túy; loại ma túy: Heroine; khối lượng M: 0.196 gam, M1: 0.850 gam.

Tại Cơ quan điều tra Lê Văn C, Phạm Đức Đ đã khai nhận hành vi phạm tội của bản thân như trên. Ngoài ra, Lê Văn C còn khai nhận nguồn gốc số Heroine bán cho Đ và số Heroine trong túi nilon dạng túi Zip mà C tàng trữ nhằm mục đích để bán kiếm lời có nguồn gốc như sau:

Sáng ngày 06/6/2024, C đi lên khu vực chợ R thuộc phường B, thành phố N để mua của người đàn ông không quen biết, không rõ tên, tuổi, địa chỉ 1.200.000 đ (Một triệu hai trăm nghìn đồng) được 12 nhỏ gói Heroine. Chính mang về nhà tại xóm B, xã X cũ (nay là xã T) sử dụng hết 01 gói nhỏ ma túy. Khoảng 9 giờ 40 phút cùng ngày, C bán cho Đ 01 gói nhỏ ma túy với giá 200.000 đồng, còn lại 10 gói nhỏ ma túy Chính cất giấu trong người mục đích bán dần cho người nghiện để kiếm lời.

Cáo trạng số 77/CT-VKSXT ngày 16/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường đã truy tố Lê Văn C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; Phạm Đức Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường luận tội, đánh giá về nhân thân, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và giữ nguyên quan điểm đã truy tố các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điêu 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lê Văn C.

Về tội danh, tuyên bố bị cáo Lê Văn C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Văn C từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù.

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phạm Đức Đ.

Về tội danh, tuyên bố bị cáo Phạm Đức Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Đức Đ từ 01 năm 10 tháng đến 2 năm tù.

Về hình phạt bổ sung: Hoành cảnh kinh tế gia đình bị cáo C, bị cáo Đ khó khăn đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 1085/KL-KTHS ngày 12/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh N (M= 0.160 gam; M1= 0.803 gam);

Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu KIA, loại xe Morning màu sơn bạc, BKS: 18A-362.19 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô BKS 18A -362.19 mang tên Lê Văn C; số: 000857; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo cùng thẻ sim số thuê bao 0376860285 của Chính; 01 điện thoại di động Redmi cùng thẻ sim số thuê bao 0961011826 của Đ; số tiền 200.000 đồng của C.

Trả lại 01 chiếc xe đạp điện màu trắng, nhãn hiệu Milan cho bị cáo Đình

Trong lời nói sau cùng, các bị cáo thực sự ăn năn, hối lỗi mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện X, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, kết hợp với kết luận giám định về số Heroine thu giữ cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định:

Khoảng 9 giờ 40 phút, ngày 06/6/2024 tại khu vực xóm A, xã X cũ (nay là xã T), huyện X, tỉnh Nam Định. Lê Văn C có hành vi bán trái phép cho Phạm Đức Đ 01 gói Heroine có khối lượng 0.196 gam lấy 200.000 đồng để Đ sử dụng cho bản thân thì bị bắt quả tang. Ngoài ra, Lê Văn C còn tàng trữ trái phép trong người 10 gói nhỏ Heroine có khối lượng 0.850 gam, mục đích để bán kiếm lời. Tổng khối lượng Lê Văn C mua bán là 1.046 gam. Vì vậy, hành vi của bị cáo Lê Văn C đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sư; hành vi của bị cáo Phạm Đức Đ cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát truy tố các bị cáo ra phiên toà là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý của nhà nước về các chất gây nghiện. Tính nguy hiểm của hành vi còn thể hiện ở chỗ: Tệ nạn ma tuý đang là vấn đề nhức nhối của toàn xã hội, nó không chỉ huỷ hoại sức khoẻ của người nghiện mà còn khiến nhiều gia đình rơi vào cảnh khánh kiệt, bần cùng; là nguyên nhân dẫn đến phạm tội và gây mất trật tự, an toàn xã hội; bị cáo C nhận thức được việc bán ma tuý là tác hại là gieo rắc hành vi tiếp tay cho việc sử dụng ma tuý song vì mục đích kiếm lời mà bị cáo bất chấp. Bị cáo C đã từng bị xử phạt tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” xong bị cáo không lấy đó để làm bài học cho bản thân mà tiếp tục vi phạm pháp luật, điều đó thể hiện sự coi thường pháp luật. Đối với bị cáo Đ nhận thức tàng trữ ma tuý để sử dụng cho bản thân nó tác hại cho chính mình xong vẫn cố tình. Vì vậy, cần phải xử phạt các bị cáo nghiêm minh trước pháp luật thì mới tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn, ăn năn hối cải nên được xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Từ những phân tích trên, HĐXX xét thấy cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là áp dụng hình phạt tù có thời hạn tương xứng với hành vi phạm tội, có như vậy mới tác dụng giáo dục cải tạo các bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội,

[6] Về hình phạt bổ sung:

Đối với bị cáo C; Để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật nên HĐXX sẽ áp dụng hình phạt bổ sung.

Đối với bị cáo Đ hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn bị cáo là người nghiện ma tuý nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo như Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.

[7] Về xử lý vật chứng, tài sản thu giữ: Số ma tuý đã thu giữ của các bị cáo là vật nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu cho tiêu huỷ.

+ Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo cùng thẻ sim số thuê bao 0376860285 và 01 chiếc xe oto nhãn hiệu KIA, loại xe Morning màu sơn bạc, BKS: 18A-362.19 (kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô mang tên Lê Văn C) và 01 điện thoại di động Redmi cùng thẻ sim số thuê bao 0961011826 của bị cáo Phạm Đức Đ là công cụ phương tiện các bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần phải tịch thu sung ngân sách Nhà nước. Đối với số tiền 200.000đ đã thu của bị cáo C là khoản tiền do phạm tội mà có nên cần tịch thu sung ngân Nhà nước.

+ Đối với 01 chiếc xe đạp điện màu trắng, nhãn hiệu Milan thu giữ của bị cáo Đình là phương tiện đi lại hàng ngày của gia đình bị cáo Đ nên HĐXX sẽ trả lại chiếc xe này cho bị cáo là phù hợp.

[8] Đối với người đàn ông đã bán Heroine cho Lê Văn C, do C không biết tên, tuổi, địa chỉ, ngoài ra không còn nguồn tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh nên Cơ quan CSĐT Công an huyện X không có căn cứ để xử lý.

[9] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10]. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;

  • - Tuyên bố bị cáo Lê Văn C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
  • - Xử phạt bị cáo Lê Văn C 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/6/2024.

Phạt bị cáo Lê Văn C 5.000.000₫ sung ngân sách Nhà nước.

2. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

  • - Tuyên bố bị cáo Phạm Đức Đ phạm tội “Tàng trữ trái pháp chất ma tuý”.
  • Xử phạt bị cáo Phạm Đức Đ 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/6/2024.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 1085/KL-KTHS ngày 12/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh N (M= 0.160 gam; M1= 0.803 gam);
  • Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo cùng thẻ sim số thuê bao 0376860285; 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu KIA, loại xe Morning màu sơn bạc, BKS: 18A-362.19; cùng (01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô BKS 18A-362.19 mang tên Lê Văn C số: 000857 theo biên bản bàn giao của Toà án với Chi cục thi hành án huyện Xuân Trường sau khi bản án có hiệu lực pháp luật) và 200.000₫ của bị cáo Lê Văn C; 01 điện thoại di động Redmi cùng thẻ sim số thuê bao 0961011826 của bị cáo Phạm Đức Đ.
  • Trả lại 01 chiếc xe đạp điện màu trắng, nhãn hiệu Milan cho bị cáo Phạm Đức Đ.

(Chi tiết vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 99/CCTHA và biên lại thu tiền số 0000096 ngày 20/9/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện X và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Trường)

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;

Buộc bị cáo Lê Văn C và bị cáo Phạm Đức Đ mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo Lê Văn C, bị cáo Phạm Đức Đ được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nam Định;
  • - VKSND tỉnh Nam Định;
  • - VKSND huyện Xuân Trường;
  • - Chi cục THADS huyện Xuân Trường;
  • - Công an huyện Xuân Trường;
  • - UBND xã Liêm Hải;
  • - Bị cáo;
  • - Hồ sơ vụ án;
  • - Lưu văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Ngọc Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 79/2024/HS-ST ngày 27/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH về hình sự sơ thẩm về tội mua bán trái phép chất ma tuý và tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 79/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Mua bán trái phép chất ma tuý và Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: mua bán trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger