|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ TỈNH LAI CHÂU |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do –Hạnh phúc |
|
Bản án số: 79/2024/HSST Ngày: 24/9/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Mạnh Trang
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thu; Ông Tẩn A Sếnh.
Thư ký phiên toà: Ông Phùng Trung Sơn, Thư ký Toà án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu tham gia phiên toà: Ông Phùng Văn Chử, Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 77/2024/TLST- HS, ngày 28 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2024/QĐXXST –HS, ngày 10 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:
Cheo Diển Ch – Sinh ngày 08/9/1955; sinh tại: S, tỉnh Lai Châu. Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: bản Săng T, xã P, huyện S, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: trồng trọt; Đoàn, Đảng: không; Trình độ học vấn: 05/12; Dân tộc: Dao; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Cheo Yếu S – đã chết; Con bà: Tẩn Quái L – đã chết; Bị cáo có chồng là Tẩn Kin L1– (đã chết); Bị cáo có 05 người con (con Tẩn A đã chết), hiện tại còn 04 người con là: Tẩn A Psinh năm: 1973; Tẩn A P1sinh năm: 1976; Tẩn A Xsinh năm: 1979; Tẩn A, sinh năm: 1986. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/5/2024 đến ngày 11/5/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay - Có mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo: Bà Trần Thị Bích N– Luật sư ký hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý với Trung tâm T– Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN;
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 năm trước, tại khu vực Chợ T1, huyện S, tỉnh Lai Châu, Cheo Diển C được 01 gói thuốc phiện với giá 100.000 đồng của một người đàn ông dân tộc Mông, khoảng 50 tuổi. Choài mua với mục đích để sử dụng. Mua được thuốc phiện, C DChoài mang về nhà chia thành nhiều phần nhỏ, lấy các mảnh ni lon gói lại, 01 phần cất giấu trong buồng ngủ, 01 phần cất giấu trong túi vải luôn đeo trên người để sử dụng. Vào hồi 10 giờ 30 phút ngày 02/5/2024, Tổ công tác Công an huyện S đang làm nhiệm vụ tại bản Săng Tăng Ngai, xã P, huyện S, nghi vấn nơi ở C DChoài có biểu hiện của tội phạm ma túy, Tổ công tác đã đến nhà của C DChoài kiểm tra, phát hiện và thu giữ trong túi vải Cheo DChoài đang đeo có 01 gói chất nhựa dẻo, màu nâu đen, có mùi hắc và khám xét khẩn cấp nơi ở của C DChoài thu giữ 11 gói chất nhựa dẻo, màu nâu đen, có mùi hắc. Cheo Diển Ckhai toàn bộ 12 gói chất nhựa dẻo, màu nâu đen, có mùi hắc thu giữ là thuốc phiện của Cheo Diển Choài, C1 trữ để sử dụng.
Qua xác định khối lượng và giám định chất ma túy, tại kết luận giám định tư pháp số: 129, 130, ngày 02/5/2024 của người giám định theo vụ việc, đã xác định 02 gói chất nhựa dẻo, màu nâu đen, có mùi hắc thu giữ của Lù Văn Đ có tổng khối lượng là 28,92 gam. Tại bản Kết luận giám định số: 506, 507/GĐ-KTHS, ngày 04/5/2024 của Phòng KCông an tỉnh Lkết luận: Các mẫu chất dẻo, màu nâu đen, có mùi hắc thu giữ của C DChoài gửi đến giám định là ma túy, loại Thuốc phiện.
Cáo trạng số: 53/CT- VKS, ngày 26 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu đã truy tố bị cáo C1Diển Choài về tội “Tàng trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 249 BLHS.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo C DChoài phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm b khoản 1 Điều 249 BLHS. Xử phạt bị cáo C DChoài từ 01 năm tù đến 01 năm 06 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 249 BLHS, đề nghị Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Về vật chứng đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 46, khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a,c khoản 2 Điều Điều 106 BLTTTHS: Tịch thu tiêu hủy gồm: 26,89 gam thuốc phiện còn lại sau giám định; 01 túi Zíp màu trắng; 01 túi ni lon màu trắng nhãn hiện Bún phở Hà Nội; 07 mảnh ni lon (loại vỏ mì tôm); 02 mảnh giấy màu trắng (loại giấy vệ sinh); 02 mảnh ni lon màu hồng và 02 mảnh ni lon màu trắng. Về án phí hình sự sơ thẩm, đề nghị xem xét miễn án phí cho bị cáo theo quy định pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo Cheo D C2trình bày luận cứ bào chữa, người bào chữa nhất trí với luận tội và đề nghị của kiểm sát viên. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1, khoản 5 Điều 249 BLHS và các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS đối với bị cáo. Đề nghị xử phạt bị cáo C DChoài hình phạt thấp nhất của khung hình phạt, miễn không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 BLHS cho bị cáo; đề nghị áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo C Diển C2
Tại phiên tòa, bị cáo Cheo D C2khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố, lời khai của bị cáo phù hợp với các lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp các tài liệu trong hồ sơ vụ án. Bị cáo nhất trí với ý kiến của người bào chữa, không bổ sung thêm. Bị cáo nhất trí luận tội và đề nghị của kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận, không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN;
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Điều tra Công an huyện S, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu và Điều tra viên, Kiểm sát viên được phân công điều tra, truy tố, trong quá trình thực hiện đã tuân thủ đúng theo quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[ 2 ] Về hành vi phạm tội của bị cáo nhận thấy: Vào hồi 10 giờ 30 phút ngày 02/5/2024, Tổ công tác Công an huyện S đang làm nhiệm vụ tại bản Săng Tăng Ngai, xã P, huyện S, tỉnh Lai Châuđã phát hiện, bắt quả tang, thu giữ của C DChoài 12 gói Thuốc phiện có tổng khối lượng là 28,92 gam, Cheo Dtàng trữ 28.92 gam Thuốc phiện với mục đích để sử dụng (hút). Như vậy, khẳng định hành vi tàng trữ 28,92 gam thuốc phiện của C1Diển Choài để sử dụng đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 249 BLHS. Do vậy, Cáo trạng số: 53/CT – VKS, ngày 26 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ truy tố đối với C DChoài về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[ 3 ] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nhận thấy, bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức rõ việc tàng trữ Thuốc phiện là vi phạm pháp luật, nhưng do bị cáo nghiện chất ma túy, nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện, bị cáo thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm vào chính sách độc quyền về quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Do vậy, cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc, xử phạt tù đối với bị cáo để dăn đe, giáo dục đối với bị cáo và cũng là để phòng, chống các loại tội phạm, đặc biệt là các tội phạm về ma túy tại địa phương. Tuy nhiên, khi xem xét mức hình phạt cần phải xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.
Về nhân thân: Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự;
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS cần được áp dụng cho bị cáo; bị cáo sinh ngày 08/9/1955 tính đến ngày xét xử bị cáo đã gần 70 tuổi, là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, trình độ học vấn thấp, nhận thức pháp luật còn có hạn chế nhất định, bị cáo có chồng là Tẩn Kin Lù được tặng thưởng “huy chương kháng chiến hạng nhất”, đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS cần được áp dụng cho bị cáo.
[ 4 ] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ và tại phiên tòa, xét thấy, bị cáo làm nghề trồng trọt, hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có điều kiện thi hành, Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[ 5 ] Về vật chứng: Đối 26,89 gam thuốc phiện còn lại sau giám định, đây là chất cấm lưu hành cần phải tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 túi Zíp màu trắng; 01 túi ni lon màu trắng nhãn hiện Bún phở Hà Nội; 07 mảnh ni lon (loại vỏ mì tôm); 02 mảnh giấy màu trắng (loại giấy vệ sinh); 02 mảnh ni lon màu hồng và 02 mảnh ni lon màu trắng, đây công cụ dùng vào việc phạm tội, cần phải tịch thu tiêu hủy.
[ 6 ] Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn 200.000 đồng án phí hình sơ thẩm cho bị cáo Cheo D C2.
Các vấn đề khác trong vụ án: Theo lời khai của Cheo Diển C2số Heroine bị thu giữ là do C2mua của một người đàn Ông tại chợ T1, tỉnh Lai Châu vào khoảng 10 năm trước, nhưng C2không biết rõ lai lịch của người này, nên không thể điều tra, xử lý được đối với người này.
Từ những phân tích, đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên và ý kiến đề nghị của người bào chữa là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH;
Áp dụng Điều 38; điểm a, c khoản 1 Điều 47; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm b khoản 1 Điều 249 BLHS và điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố bị cáo C DChoài phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo C DChoài 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành, được khấu trừ thời gian tạm tạm giữ là 09 ngày, từ ngày 02/5/2024 đến 11/5/2024.
- Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy gồm: 26,89 gam thuốc phiện còn lại sau giám định; 01 túi Zíp màu trắng; 01 túi ni lon màu trắng nhãn hiện Bún phở Hà Nội; 07 mảnh ni lon (loại vỏ mì tôm); 02 mảnh giấy màu trắng (loại giấy vệ sinh); 02 mảnh ni lon màu hồng và 02 mảnh ni lon màu trắng. (Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện S và Chi cục thi hành án dân sự huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu ngày 05/9/2024).
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Miễn 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Cheo D C2.
Án xử công khai, có mặt bị cáo, bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án lên Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu để xem xét theo thủ tục phúc thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà |
Bản án số 79/2024/HSST ngày 24/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ, TỈNH LAI CHÂU về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 79/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ, TỈNH LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vào 10 giờ 30 phút ngày 02/05/2024 công an huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu bắt quả tang Cheo Diển Ch đang có hành vi Tàng trữ 29,92 gam thuốc phiện.
