Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CHÍ LINH

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 79/2024/HS-ST

Ngày 28-8-2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Luyến

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thành và bà Hoàng Thị Thu Thảo

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Giao – Thẩm tra viên Toà án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trí - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 74/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 80/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. Đoàn Văn C, sinh năm 1996 tại huyện G, tỉnh Hải Dương;

    Nơi cư trú: Thôn B, xã T, huyện G, tỉnh Hải Dương.

    Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch Việt Nam; Con ông Đoàn Văn M và bà Nguyễn Thị V (Đều đã chết); vợ, con: Không; tiền sự: Không.

    Tiền án: Bản án số 70/2021/HSST ngày 24/8/2021 của Toà án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương xử phạt bị cáo C 20 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Ngày 25/11/2022, C chấp hành xong hình phạt tù. Ngày 27/6/2022 chấp hành xong án phí.

    Bị tạm giữ ngày 29/12/2023, chuyển tạm giam ngày 01/01/2024 đến nay tại Trại tạm giam - Công an tỉnh H; Có mặt.

  2. Trần Văn M1, sinh năm 1991 tại Y, Hòa Bình;

    Nơi ĐKHKTT: Khu phố L, thị trấn H, huyện Y, tỉnh Hòa Bình

    Nơi ở hiện nay: KDC C, phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương.

    Nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch Việt Nam; con ông Trần Văn H (Đã chết) và bà Nguyễn Thị H1; vợ, con: Không; tiền án, tiền sự: Không.

    Bị tạm giữ ngày 29/12/2023, chuyển tạm giam ngày 01/01/2024 đến nay tại Trại tạm giam - Công an tỉnh H; Có mặt.

- Người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng: Anh Hoàng Văn H2, sinh năm 1992 và anh Hoàng Hữu H3. Đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chiều ngày 24/12/2023, Đoàn Văn C có nhu cầu sử dụng ma túy nên điều khiển chiếc xe mô tô, nhãn hiệu HONDA, biển số 34C1- 548.59 (xe mô tô Chinh mượn của anh Trần Nam C1, sinh năm 1995, nơi cư trú khu C, phường B, thành phố C, tỉnh Hải Dương) đi từ nhà ở thôn B, xã T, huyện G, tỉnh Hải Dương đến khu vực cầu B thuộc thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh mua 300.000 đồng tiền ma túy của một người đàn ông không rõ nhân thân, lý lịch được 01 túi ma túy và C xin của người đàn ông này một bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 bật lửa gas, 01 chai nước màu trắng, phần nắp chai được đục hai lỗ; một lỗ được cắm coóng thủy tinh dài 12 cm, một lỗ được cắm ống hút màu trắng dài 14 cm, một đầu ống hút được gắn thêm một ống hút nhựa màu hồng dài 18 cm. Chinh đổ túi ma túy vừa mua vào coóng thủy tinh rồi cất vào trong cốp xe mô tô đi về.

Đến khoảng 18 giờ 30 phút ngày 27/12/2023, C, Trần Văn M1 và Hoàng Văn H2, sinh năm 1992, nơi cư trú khu dân cư C, phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương rủ nhau uống bia, rượu. Khoảng hơn 19 giờ cùng ngày C, M1, H2 uống bia, rượu xong thì đi về phòng trọ của M1 ở Công ty Cổ phần R, địa chỉ khu dân cư C, phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương chơi, C, H2 ngồi chơi còn M1 ở ngoài vườn. Khoảng 19 giờ 45 phút cùng ngày, C có nhu cầu sử dụng ma túy nên đã lấy trong cốp xe mô tô bộ dụng cụ sử dụng ma túy đã có sẵn ma túy từ trước; C để bộ dụng cụ sử dụng ở nền nhà phòng khách của M1 rồi sử dụng khoảng 3,4 hơi, H2 thấy C có ma túy sử dụng nên tham gia sử dụng cùng C. M1 từ ngoài đi vào phòng thấy H2 đang sử dụng ma tuý tại nơi ở của mình nhưng M1 vẫn để cho H2 sử dụng ma tuý và M1 vào sử dụng ma túy cùng với H2. Sau khi sử dụng hết số ma túy của C, H2 đi về nhà, C cất bộ sử dụng ma túy vào trong cốp xe và đi về.

Khoảng 20 giờ ngày 28/12/2023, C tiếp tục khiển chiếc xe mô tô, nhãn hiệu HONDA, biển số 34C1- 548.59 đi từ nhà đến khu vực cầu B thuộc thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh mua 200.000 đồng tiền ma túy của một người đàn ông không rõ nhân thân, lý lịch được 01 túi ni lông ma túy, C cất giấu vào trong cốp xe rồi đi về phòng trọ của M1 chơi. Đến khoảng 23 giờ 45 phút cùng ngày, C có nhu cầu sử dụng ma túy nên đã lấy từ cốp xe ra túi ni lông ma túy và bộ D sử dụng ma túy mang vào khu vực bếp phòng trọ của M1, M1 ngủ nên không biết; C đổ ma túy vào coóng, còn thừa một ít C để túi ma túy ở trên mặt bàn bếp, rồi C sử dụng vài hơi thì H2 đến đi vào khu vực phòng bếp thấy có bộ dụng cụ sử dụng ma túy, trong coóng có sẵn ma túy nên sử dụng vài hơi. Khoảng 00 giờ 05 phút ngày 29/12/2023 Công an thành phố C kiểm tra, thấy vậy C gọi Hoạt thì H2 ném bộ dụng cụ sử dụng ma túy ra ngoài cửa số. Lực lượng Công an thành phố C kiểm tra, phát hiện lập biên bản thu giữ: Tại mặt bàn phòng bếp 01 túi ni lông màu trắng, kích thước (1,5x2) cm, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng; tại mặt nền nhà phòng bếp 01 bật lửa gas, màu tím, không nhãn mác, 01 bật lửa gas, màu trắng, nhãn hiệu “Hoa Việt” phần phun gas được gắn thêm một cuộn giấy bạc dài 05 cm; tại vị trí mặt đất ngay phía ngoài cửa sổ phòng bếp 01 chai nước màu trắng, nhãn mác có số “247”, chiều cao 24 cm, đường kính mặt đáy 05 cm, phần nắp chai được đục hai lỗ; một lỗ được cắm coóng thủy tinh dài 12 cm, phần bầu coóng chứa chất tinh thể màu trắng; một lỗ được cắm ống hút màu trắng dài 14 cm, một đầu ống hút được gắn thêm một ống hút nhựa màu hồng dài 18 cm và thu giữ chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, biển số 34C1-548.59.

Kết luận giám định số: 60/KL-KTHS ngày 31/12/2023 của Phòng K, Công an tỉnh H, kết luận: Chất rắn (dạng tinh thể) màu trắng trong túi ni lông màu trắng, kích thước (1,5x2) cm, được niêm phong trong phong bì thu giữ tại phòng trọ của Trần Văn M1, gửi đến giám khối lượng là 0,034 gam là ma túy loại Methamphetamine. Chất tinh thể màu trắng trong coóng thủy tinh dài 12 cm, được niêm phong trong phong bì thu giữ tại phòng trọ của Trần Văn M1, gửi đến giám định khối lượng là 0,041 gam là ma túy loại Methamphetamine. H4 lại: 01 vỏ túi ni lông màu trắng, 01 cóong thủy tinh, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C đã nhập kho vật chứng: 01 vỏ túi ni lông màu trắng, kích thước (1,5x2) cm; 01 coóng thủy tinh dài 12 cm. 01 bật lửa gas, màu tím, không nhãn mác; 01 bật lửa gas, màu trắng, nhãn hiệu “Hoa Việt” phần phun gas được gắn thêm một cuộn giấy bạc dài 05 cm; 01 vỏ chai nước màu trắng, nhãn mác có số “247”, chiều cao 24 cm, đường kính mặt đáy 05 cm, phần nắp chai được đục hai lỗ; 01 ống hút nhựa màu trắng dài 14 cm; 01 ống hút nhựa màu hồng dài 18 cm.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, màu đỏ- đen, biển số 34C1-488.50 là tài sản hợp pháp của anh Trần Nam C1, anh C1 không biết C mượn xe để đi mua ma túy nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại xe cho anh C1 là phù hợp.

Tại bản Cáo trạng số 83/CT-VKS-CL ngày 26/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương đã truy tố bị cáo Đoàn Văn C về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự, truy tố bị cáo Trần Văn M1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà:

Bị cáo C trình bày: Sau khi M1 từ ngoài đi vào phòng thấy H2 đang sử dụng ma tuý, M1 vào sử dụng ma túy cùng với H2 xong rồi M1 lên giường đi ngủ, còn C và H2 tiếp tục sử dụng ma tuý cho đến khi hết ma túy trong cóong, H2 đi về nhà, C cất bộ sử dụng ma túy vào trong cốp xe và đi về. Bị cáo thừa nhận hành vi vi phạm và đồng ý với lời luận tội của Viện kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo M1 trình bày: Sau khi bị cáo vào phòng thấy C đang ngồi sử dụng điện thoại, H2 đang sử dụng ma tuý, bị cáo có nói với C, H2 là sử dụng nốt lần này không công ty biết, rồi bị cáo vào sử dụng ma tuý cùng với H2. Sau khi sử dụng ma tuý xong, bị cáo có nói lại với C, H2 là sử dụng nốt lần này không công ty biết rồi M1 lên giường đi ngủ. Bị cáo thừa nhận hành vi vi phạm và đồng ý với lời luận tội của Viện kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với các bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị HĐXX: Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h (tái phạm) khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo C; Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo M1; Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đối với tất cả các bị cáo.

  1. Tuyên bố bị cáo Đoàn Văn C, Trần Văn M1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  2. Xử phạt bị cáo Đoàn Văn C 08 năm 03 tháng đến 08 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 29/12/2023.
  3. Xử phạt bị cáo Trần Văn M1 07 năm 03 tháng đến 07 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 29/12/2023.
  4. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
  5. Về xử lý vật chứng:
    • - Tịch thu, tiêu huỷ 01 bật lửa gas màu tím, không nhãn mác, 01 bật lửa gas màu trắng, nhãn hiệu Hoa Việt, phần phun gas được gắn thêm một cuộn giấy bạc dài 5cm, 01 vỏ chai nước màu trắng, nhãn mác có số 247, chiều cao 24cm, phần nắp chai được đục hai lỗ, 01 ống hút nhựa màu trắng dài 14cm, 01 ống hút nhựa màu hồng dài 18cm.
    • - Tịch thu, tiêu huỷ 01 coong thuỷ tinh dài 12cm, 01 vỏ túi nilon màu trắng kích thước (1,5x2)cm và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định được đựng trong 01 phong bì số 60/KL-KTHS.
  6. Về án phí: Các bị cáo Đoàn Văn C, Nguyễn Văn M2, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố C, tỉnh Hải Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản vụ việc, lời khai của người làm chứng, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định, và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 19 giờ 45 phút ngày 27/12/2023 tại phòng trọ của Trần Văn M1 ở Công ty Cổ phần R thuộc khu dân cư C, phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương, Đoàn Văn C có hành vi cung cấp ma túy, chuẩn bị công cụ tổ chức cho Hoàng Văn H2, M1 và C sử dụng trái phép chất ma túy, loại Methamphetamine. Khi thấy H2 đang sử dụng ma tuý tại phòng trọ do Trần Văn M1 quản lý, M1 vẫn để cho H2 sử dụng trái phép chất ma tuý loại Methamphetamine và tham gia sử dụng ma túy cùng với H2. Trước và sau khi M1 sử dụng ma tuý cùng với H2 thì M1 có nói với C, H2 là sử dụng nốt lần này thôi, không công ty biết. C và H2 tiếp tục sử dụng ma tuý cho đến khi hết.

Ngoài ra khoảng 00 giờ 00 phút ngày 29/12/2023, tại phòng trọ của Trần Văn M1 ở Công ty Cổ phần R thuộc khu dân cư C, phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương (M1 ngủ nên không biết), Đoàn Văn C có hành vi cung cấp ma túy, chuẩn bị công cụ tổ chức cho Hoàng Văn H2 và C sử dụng trái phép chất ma túy, loại Methamphetamine thì bị lực lượng Công an thành phố C kiểm tra phát hiện.

[3] Các bị cáo C, M1 là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo C nhận thức được việc cung cấp ma túy, dụng cụ để C, H2, M1 cùng sử dụng trái phép chất ma túy; bị cáo M1 khi thấy H2 đang sử dụng trái phép chất ma tuý tại chỗ ở do mình quản lý, mà vẫn để H2 sử dụng và cùng tham gia vào sử dụng trái phép chất ma tuý, mặc dù kể từ thời điểm M1 vào phòng đến khi M1 đi ngủ thì C không cùng sử dụng ma tuý cùng với H2, M1, nhưng M1 có nói là sử dụng nốt lần này thôi, không công ty biết, như vậy bị cáo đồng ý để cho C, M1 sử dụng ma tuý tại phòng trọ của mình, đều là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng các bị cáo C, M1 vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo C 02 lần tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý và đối với M1, H2. Hành vi của bị cáo C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung hình phạt “phạm tội 02 lần trở lên” và “đối với hai người trở lên”, theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo M1 để cho C, H2, M1 sử dụng trái phép chất ma tuý tại chỗ ở của mình đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung hình phạt “đối với hai người trở lên”, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo M1 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại Bản án số 70/2021/HSST ngày 24/8/2021 của Toà án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương xử phạt bị cáo C 20 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/11/2022, nhưng chưa được xoá án tích, mà lại thực hiện hành vi phạm tội cố ý, nên bị cáo chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[6] Đây là vụ án đồng phạm, bị cáo C là người cung cấp ma tuý, dụng cụ sử dụng ma túy, rủ M1, H2 cùng sử dụng ma tuý, nên bị cáo C giữ vai trò chính. Bị cáo M1 cung cấp địa điểm để các bị cáo, H2 cùng sử dụng ma tuý, nên bị cáo M1 có vai trò sau bị cáo C. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.

[7] Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập thấp, nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[9] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 bật lửa gas màu tím, không nhãn mác, 01 bật lửa gas màu trắng, nhãn hiệu Hoa Việt, phần phun gas được gắn thêm một cuộn giấy bạc dài 5cm, 01 vỏ chai nước màu trắng, nhãn mác có số 247, chiều cao 24cm, phần nắp chai được đục hai lỗ, 01 ống hút nhựa màu trắng dài 14cm, 01 ống hút nhựa màu hồng dài 18cm, 01 coong thuỷ tinh dài 12cm, 01 vỏ túi nilon màu trắng kích thước (1,5x2)cm và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định, là công cụ phương tiện phạm tội, không có giá trị, nên cần tịch thu tiêu huỷ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[10] Các vấn đề khác:

  • [10.1] Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, màu đỏ- đen, biển số 34C1-488.50 là tài sản hợp pháp của anh Trần Nam C1, anh C1 không biết C mượn xe để đi mua ma túy nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại xe cho anh C1 là phù hợp.
  • [10.2] Đối với người đàn ông bán ma túy cho C không xác định được nhân thân, lý lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C không có căn cứ xử lý.
  • [10.3] Địa điểm các đối tượng sử dụng trái phép chất ma tuý là phòng trọ của Công ty Cổ phần R thuộc khu dân cư C, phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương đã giao cho M1 để ở sinh hoạt. Công ty không biết việc M1 cùng các đối tượng tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại đây nên không đặt ra xử lý.
  • [10.4] Hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Đoàn Văn C, Trần Văn M1, Hoàng Văn H2 đã bị Công an thành phố C ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” là phù hợp.

[11] Về án phí: Các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

[12] Về quyền kháng cáo: Áp dụng quy định các Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h (tái phạm) khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo C.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo M1.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đối với tất cả các bị cáo.

  1. Tuyên bố bị cáo Đoàn Văn C, Trần Văn M1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  2. Xử phạt bị cáo Đoàn Văn C 08 (Tám) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 29/12/2023.
  3. Xử phạt bị cáo Trần Văn M1 07 (Bẩy) năm 01 (Một) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 29/12/2023.
  4. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
  5. Về xử lý vật chứng:
    • - Tịch thu, tiêu huỷ 01 bật lửa gas màu tím, không nhãn mác, 01 bật lửa gas màu trắng, nhãn hiệu Hoa Việt, phần phun gas được gắn thêm một cuộn giấy bạc dài 5cm, 01 vỏ chai nước màu trắng, nhãn mác có số 247, chiều cao 24cm, phần nắp chai được đục hai lỗ, 01 ống hút nhựa màu trắng dài 14cm, 01 ống hút nhựa màu hồng dài 18cm.
    • - Tịch thu, tiêu huỷ 01 coong thuỷ tinh dài 12cm, 01 vỏ túi nilon màu trắng kích thước (1,5x2)cm và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định được đựng trong 01 phong bì số 60/KL-KTHS.

    (Toàn bộ vật chứng trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/5/2024 giữa cơ quan điều tra Công an thành phố C và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Chí Linh).

  6. Về án phí: Các bị cáo Đoàn Văn C, Nguyễn Văn M2, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  7. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Chí Linh (01);
  • - VKSND tỉnh Hải Dương (01);
  • - Chi cục THADS TP. Chí Linh (01);
  • - Công an thành phố Chí Linh (01);
  • - Cơ quan hồ sơ nghiệp vụ của Công an nhân dân (Công an thành phố Chí Linh) (01);
  • - CQCSĐT-Công an thành phố Chí Linh (01);
  • - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương (01);
  • - Các bị cáo (02);
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương (01);
  • - Lưu hồ sơ (01)
  • - Lưu Toà án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Vũ Thị Luyến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 79/2024/HS-ST ngày 28/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 79/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: C,M
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger