Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MỎ CÀY BẮC

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 79/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 05/8/2024

V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con".

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE

– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Minh Trung.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Ông Nguyễn Chí Hữu;
  • 2. Ông Đoàn Văn Em.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trường Thịnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc tham gia phiên tòa: Bà Bùi Đinh Thị Huyền Đăng – Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 181/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 6 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 164ª/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: chị Trần Nguyễn Khánh V, sinh năm: 2000;

Địa chỉ: C, ấp H, xã S, huyện C, tỉnh Bến Tre.

2. Bị đơn: anh Dương Hoàng P, sinh năm: 1995;

Địa chỉ: ấp C, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre.

(Chị V, anh P có yêu cầu giải quyết vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 03 tháng 6 năm 2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Trần Nguyễn Khánh V trình bày:

Chị với anh Dương Hoàng P tự tìm hiểu, tự nguyện kết hôn năm 2023, đăng ký kết hôn tại UBND xã T. Sau khi cưới, anh chị sống hạnh phúc được thời gian đầu, đến sau khi chị V sinh con, anh P bỏ chị V một mình không quan tâm, chăm sóc. Vợ chồng xảy ra tranh cãi do bất đồng quan điểm về gia đình, nghi kỵ nhau nhiều điều trong cuộc sống, mâu thuẫn gia đình ngày càng lớn đến mức anh chị không thể tự giải quyết được. Khi xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng chị không tìm cách tháo gỡ. Gia đình hai bên đã khuyên nhủ để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không có kết quả. Chị với anh P ly thân mỗi người ở một nơi từ hơn 05 tháng nay. Trong thời gian ly thân cả hai không còn quan tâm đến nhau, mạnh ai người nấy sống không ai biết đến ai. Nay, chị V xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh P.

Về con chung: anh chị có 01 con chung là Dương Phúc T, sinh ngày 28/01/2024. Hiện nay, cháu T đang sống với chị V. Chị V yêu cầu được tiếp tục nuôi con; yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 3.000.000 đồng, thời gian cấp dưỡng bắt đầu tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật đến khi cháu T đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung: tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị V không yêu cầu anh P cấp dưỡng cho chị sau khi ly hôn.

Tại bản tự khai và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Dương Hoàng P trình bày:

Những thông tin về hôn nhân của vợ chồng anh; nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn chị V trình bày trên đây là đúng. Khi xảy ra mâu thuẫn, anh chị đã tìm cách tháo gỡ nhưng không có kết quả. Vào đầu năm 2024, anh chị xảy ra mâu thuẫn và ly thân đến nay. Trong thời gian ly thân, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau, mạnh ai người nấy sống, không ai biết đến ai. Đến nay, anh P xác định không còn tình cảm với chị V nên đối với yêu cầu xin ly hôn của chị anh đồng ý.

Về con chung: anh chị có 01 người con chung là Dương Phúc T, sinh ngày 28/01/2024. Hiện nay, cháu T đang sống với chị V. Chị V yêu cầu được tiếp tục nuôi con và yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 3.000.000 đồng, anh P đồng ý.

Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh P không yêu cầu chị V cấp dưỡng cho anh sau khi ly hôn.

Do anh P bận việc nên yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt không có khiếu nại về sau.

Tại bản tự khai ngày 22/7/2024, chị V vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Tài sản chung và nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị V yêu cầu giải quyết vắng mặt do chị bận công việc không đến dự các phiên họp, phiên tòa được. Chị V không khiếu nại về sau.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc đề nghị:

Về thủ tục thụ lý cũng như quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng quy định và tại phiên toà Hội đồng xét xử, những người tiến hành tố tụng đã đảm bảo đúng trình tự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 55, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
  • Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Nguyễn Khánh V.
  • Về con chung: có 01 con chung là Dương Phúc T, sinh ngày 28/01/2024. Chị V được tiếp tục nuôi cháu T; anh P cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 3.000.000 đồng. Thời gian cấp dưỡng bắt đầu tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật đến khi cháu T đủ 18 tuổi.
  • Về tài sản chung và nợ chung: không có không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Ngày 03/6/2024, chị Trần Nguyễn Khánh V khởi kiện tại Toà án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Dương Hoàng P. Căn cứ theo yêu cầu khởi kiện, vụ án có quan hệ pháp luật tranh chấp về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 56, 81 Luật Hôn nhân và Gia đình. Vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn chị V, bị đơn anh P có yêu cầu giải quyết vắng mặt, phù hợp với quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự nên được chấp nhận.

[2] Đối với yêu cầu ly hôn của chị V:

Chị V, anh P tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, anh chị được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 08/4/2022. Chứng cứ này là có cơ sở nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Sau khi cưới, thời gian đầu anh chị sống hạnh phúc sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, không quan tâm đến nhau. Anh P không quan tâm, chăm sóc khi chị V sinh con. Khi xảy ra mâu thuẫn, anh chị đã tìm cách tháo gỡ. Gia đình hai bên đã khuyên nhủ, hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không có kết quả. Chị V, anh P ly thân sống mỗi người một nơi hơn 05 tháng nay. Đến nay, mâu thuẫn của vợ chồng chị chưa được tháo gỡ; tình trạng vợ chồng không có cải thiện; anh chị vẫn còn ly thân mỗi người một nơi. Chị V xác định không còn tình cảm nên xin ly hôn với anh P. Đối với yêu cầu của chị V, anh P cũng đồng ý với những lời trình bày của chị V trên đây và xác định không còn tình cảm với chị V và đồng ý ly hôn. Điều này có cơ sở khẳng định, tình trạng của vợ chồng chị V đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, cần chấp nhận yêu cầu của chị V là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[3] Về nuôi con chung: anh P, chị V có 01 con chung là Dương Phúc T, sinh ngày 28/01/2024. Hiện nay, cháu T đang sống với chị V. Khi ly hôn, chị V yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu T. Đối với yêu cầu này của chị V, anh P đồng ý nên ghi nhận. Tuy nhiên, vì lợi ích của con chung sau này, khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con.

[4] Về cấp dưỡng: chị V yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 3.000.000 đồng, thời gian cấp dưỡng bắt đầu tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật đến khi cháu T đủ 18 tuổi. Đối với yêu cầu này của chị V, anh P đồng ý nên ghi nhận. Tuy nhiên, vì lợi ích của con chung sau này, khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con.

[5] Về tài sản chung: chị V trình bày không có nên không yêu cầu giải quyết; anh P trình bày không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.

[6] Về nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị V, anh P không yêu cầu cấp dưỡng cho nhau sau khi ly hôn.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc là có căn cứ nên được chấp nhận.

[7] Về án phí: chị V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 300.000 đồng; anh P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 300.000 đồng là phù hợp với quy định tại Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 và Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự;
  • - Áp dụng Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Nguyễn Khánh V xin ly hôn đối với anh Dương Hoàng P;

  • * Về hôn nhân: cho ly hôn giữa chị Trần Nguyễn Khánh V với anh Dương Hoàng P.
  • * Về nuôi con chung: chị Trần Nguyễn Khánh V được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Dương Phúc T, sinh ngày 28/01/2024.
  • Anh Dương Hoàng P cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 3.000.000đ (Ba triệu đồng). Thời gian cấp dưỡng bắt đầu tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật đến khi cháu T đủ 18 tuổi.
  • Anh Dương Hoàng P được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai có quyền cản trở. Vì lợi ích của con chung sau này, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.
  • * Về chia tài sản chung: chị Trần Nguyễn Khánh V trình bày không có; anh Dương Hoàng P trình bày không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.
  • * Về nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • Chị Trần Nguyễn Khánh V với anh Dương Hoàng P không yêu cầu cấp dưỡng cho nhau sau khi ly hôn.

2. Về án phí:

  • - Chị Trần Nguyễn Khánh V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0004714 ngày 17/6/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre.
  • - Anh Dương Hoàng P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng).

Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND huyện Mỏ Cày Bắc;
  • - UBND xã Tân Thành Bình;
  • - Chi cục THADS huyện Mỏ Cày Bắc;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

đã ký

Lê Thị Minh Trung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 79/2024/HNGĐ-ST ngày 05/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 79/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Trần Khánh V ly hôn Dương Hoàng P
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger