Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ VINH

TỈNH NGHỆ AN

Bản án số: 79/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 19/11/2024

“V/v tranh chấp ly hôn”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH - NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hồ Nữ Hạnh Dung

Các hội thẩm nhân dân: bà Nguyễn Thị Phương Thảo và bà Phạm Thị Thu Hà

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mai An - Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 337/2024/TLST-HNGĐ ngày 07/10/2024 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 93/2024/QĐXXST ngày 05 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Bá L - sinh năm 1993

    Nơi ĐKHKTT: khối P, phường V, TP ., Nghệ An - Có mặt

  2. Bị đơn: Chị Doãn Thị Vân A - sinh năm 1989

    Nơi ĐKHKTT: khối F, phường C, TP ., Nghệ An

    Hiện đang chấp hành án tại Trại giam S, Bộ C – vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 25/9/2024, bản tự khai ngày 11/10/2024 và tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, nguyên đơn là anh Nguyễn Bá L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: anh và chị Doãn Thị Vân A là vợ chồng, có tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau theo Giấy chứng nhận kết hôn số 87 do UBND phường C, TP., tỉnh Nghệ An cấp ngày 06/08/2015. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc khoảng được một thời gian ngắn thì bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do hai bên bất đồng quan điểm sống, tính cách không hòa hợp. Sau đó cả hai vợ chồng đều phải đi chấp hành án nên tình cảm cũng phai nhạt dần. Đến nay, thời gian vợ chồng không chung sống với nhau đã lâu, tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án xử cho anh được ly hôn với chị Vân A để ổn định cuộc sống.

Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống vợ chồng không có con chung.

Về quan hệ tài sản: anh L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, bị đơn là chị Doãn Thị Vân A vắng mặt vì đang phải chấp hành án phạt tù tại Trại giam S, Bộ C. Tại bản tự khai ngày 18/10/2024, chị Vân A thừa nhận thời gian, địa điểm đăng ký kết hôn đúng như anh L khai. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống được một thời gian ngắn thì phát sinh nhiều mâu thuẫn dẫn đến cãi vã, xô xát nhau. Nguyên nhân là do vợ chồng không phù hợp tính tình và quan điểm sống, anh L chơi bời, không chung thủy với chị. Sau khi kết hôn, năm 2015 và 2019 chị phải đi chấp hành án phạt tù. Năm 2021, anh L đi chấp hành án phạt tù. Năm 2022, chị cũng đi chấp hành án phạt tù nhưng cả hai vẫn viết thư động viên nhau. Đến tháng 7/2024 thì chị không nhận được tin tức từ anh L nữa. Đến nay, chị vẫn còn tình cảm với anh L nhưng anh L yêu cầu ly hôn thì chị cũng đồng ý với điều kiện anh L phải lên trại gặp chị. Về con chung: quá trình chung sống vợ chồng không có con chung. Về tài sản chung, chị Vân A không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong giải quyết vụ án: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 71 BLTTDS. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt vì đang phải chấp hành án phạt tù. Về việc giải quyết vụ án: áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử: xử cho anh Nguyễn Bá L được ly hôn với chị Doãn Thị Vân A; về con chung: vợ chồng không có con chung; về tài sản: đề nghị HĐXX không xem xét; về án phí: anh L phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án hôn nhân gia đình về tranh chấp ly hôn; bị đơn có đăng kí hộ khẩu thường trú tại thành phố V nên Tòa án nhân dân thành phố Vinh thụ lý giải quyết là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, chị Doãn Thị Vân A là bị đơn vắng mặt do đang đi chấp hành án nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị Vân A.

[2]. Về nội dung: Xét các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Bá L và chị Doãn Thị Vân A là vợ chồng, kết hôn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND phường C, TP ., tỉnh Nghệ An cấp ngày 06/08/2015. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa anh L và chị Vân A là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Theo lời trình bày của nguyên đơn, bị đơn và kết quả xác minh tại nơi cư trú cho thấy: quá trình chung sống giữa anh L và chị Vân A hạnh phúc được một thời gian ngắn, sau đó thì vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn. Năm 2015, 2019 chị Vân A phải chấp hành án phạt tù; năm 2021, anh L đi chấp hành án phạt tù; năm 2022, chị Vân A tiếp tục đi chấp hành phạt tù. Từ tháng 07/2024 thì hai bên không liên lạc với nhau nữa. Nguyên nhân mâu thuẫn là do quan điểm sống không còn phù hợp. Hội đồng xét xử thấy rằng: quá trình giải quyết vụ án, chị Vân A tuy vẫn còn tình cảm với anh L nhưng vẫn đồng ý ly hôn. Tại phiên tòa, anh L kiên quyết xin ly hôn, chứng tỏ tình cảm vợ chồng anh đã phạt nhạt, tình trạng hôn nhân đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc anh L yêu cầu giải quyết ly hôn là phù hợp với quy định tại Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình nên cần chấp nhận.

- Về quan hệ con chung: Qua lời khai của anh L, chị Vân A và kết quả xác minh tại chính quyền địa phương cho thấy: Quá trình chung sống anh L và chị Vân A không có con chung.

- Về quan hệ tài sản chung: Quá trình giải quyết vụ án, anh L, chị Vân A không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Về án phí: anh L phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227; Điều 266; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56, 58 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử : Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Bá L.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Nguyễn Bá L được ly hôn chị Doãn Thị Vân A.
  2. Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống anh L và chị Vân A không có con chung
  3. Về án phí: Anh Nguyễn Bá L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí anh L đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vinh theo biên lai số 0004744 ngày 07/10/2024.
  4. Nguyên đơn có mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Hồ Nữ Hạnh Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 79/2024/HNGĐ-ST ngày 19/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 79/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xử cho ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger