Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 79/2024/HNGĐ-ST

Ngày 19 tháng 8 năm 2024

V/v: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thế Hiệp và bà Nguyễn Thị Dung.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa:
Bà Vũ Thị Kim Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 29/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2024 về tranh chấp Hôn nhân và gia đình.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2024/QĐXX-ST ngày 01 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Diệp Thị T, sinh năm 1991; nơi cư trú: Tổ B, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Có đơn xin vắng mặt.

  2. Bị đơn: Anh Cao Trung S, sinh năm 1980; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ B, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Bình; hiện đang lao động tại Hàn Quốc. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Nguyên đơn chị Diệp Thị T trình bày:

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh S kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình ngày 29/4/2011. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng chị chung sống hạnh phúc được 03 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh S có mối quan hệ ngoài vợ chồng với người phụ nữ khác. Mặc dù hai vợ chồng chị T và anh S cùng hai bên gia đình đã cùng nhau ngồi lại hòa giải cho hai vợ chồng nhưng mâu thuẫn giữa hai vợ chồng vẫn không thể hóa giải. Chị T và anh S ly thân từ năm 2015 đến nay. Năm 2018, anh S đi lao động tại Hàn Quốc, chị T và anh S đã hoàn toàn cắt đứt liên lạc với nhau. Năm 2022, anh S về nước, hai bên gia đình lại tiếp tục hòa giải cho hai vợ chồng đoàn tụ nhưng không có kết quả và anh S tiếp tục đi lao động nước ngoài, không còn giữ liên lạc với vợ con. Nay chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị T đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh S.

1.2. Về con chung: Chị T và anh S có 02 con chung là cháu Cao Trung N, sinh ngày 01/4/2012 và cháu Cao Minh T1, sinh ngày 31/8/2015. Ly hôn, chị T đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung. Chị T yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con chung là 2.000.000 đồng/tháng/con từ tháng 4/2024 cho đến khi hai con trưởng thành.

1.3. Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Bị đơn anh Cao Trung S không có văn bản trình bày ý kiến.

3. Cháu Cao Trung N và cháu Cáo Minh T2 là con chung của chị Diệp Thị T và anh Cao Trung S trình bày: Hiện tại hai cháu đang sống cùng với mẹ tại phường H, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Bố mẹ ly hôn, hai cháu đề nghị được sống cùng với mẹ.

4. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình phát biểu ý kiến:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn đều tuân thủ theo quy định của pháp luật. Về nội dung: Đề nghị xử cho chị Diệp Thị T được ly hôn anh Cao Trung S. Về con chung: Giao cháu Cao Trung N, sinh ngày 01/4/2012 và cháu Cao Minh T1, sinh ngày 31/8/2015 cho chị Diệp Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh S phải cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000 đồng/tháng/cháu kể từ tháng 8/2024 cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi. Về tài sản chung: không đặt ra giải quyết. Chị T phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm, anh S phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, cũng như thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Diệp Thị T đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh Cao trung S1 đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do nên Tòa án xét xử vắng mặt chị T, anh S1 là đúng quy định pháp luật.

[2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn là anh Cao Trung S hiện đang ở Hàn Quốc nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình theo khoản 3 Điều 35 và Điều 37 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Diệp Thị T và anh Cao Trung S tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân xã T (nay là xã D), huyện T, tỉnh Thái Bình nên xác định là hôn nhân hợp pháp. Chị T trình bày chị và anh S đã phát sinh mâu thuẫn từ sau khi hai anh chị kết hôn được 3 năm vì anh S có mối quan hệ ngoài vợ chồng với người phụ nữ khác. Mặc dù hai vợ chồng chị T, anh S cùng hai bên gia đình đã nhiều lần cùng nhau ngồi lại để hòa giải giữa hai vợ chồng nhưng không có kết quả. Chị T và anh S ly thân từ năm 2015 đến nay. Năm 2018, anh S đi lao động tại Hàn Quốc, vợ chồng chị T và anh S đã hoàn toàn cắt liên lạc với nhau. Năm 2022, anh S về nước nhưng sau đó tiếp tục đi sang nước ngoài và không có liên lạc gì với vợ con. Thông qua bà Trần Thị N1 (mẹ đẻ anh S) và chị Cao Thị H (chị gái anh S), anh S đã biết việc chị T nộp đơn xin ly hôn anh tại Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình nhưng anh không có ý kiến trình bày gửi đến Tòa án. Việc này thể hiện anh S không quan tâm đến quan hệ hôn nhân giữa anh và chị T; hôn nhân giữa chị T và anh S đã rơi vào bế tắc, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị T ly hôn anh S là có căn cứ, đúng quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[3.2] Về con chung: Chị T và anh S có 02 con chung là Cao Trung N, sinh ngày 01/4/2012 và Cao Minh T1, sinh ngày 31/8/2015. Cả hai con chung hiện đang sống cùng chị T. Ly hôn, chị T yêu cầu Tòa án giao cho chị nuôi cả hai con và yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con chung là 2.000.000 đồng/tháng/con cho đến khi các cháu trưởng thành. Xét thấy hiện anh S đang sống và làm việc tại Hàn Quốc, hai con chung đều đang chung sống ổn định cùng chị T. Vì vậy, để đảm bảo ổn định cuộc sống và đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho con chung, cần giao cả hai con chung cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, chấp nhận yêu cầu của chị T về việc yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con chung với mức 2.000.000 đồng/tháng/con cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi.

[4] Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không đặt ra giải quyết.

[5] Về án phí: Chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm, anh S phải chịu án phí cấp dưỡng theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 56; Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 37, khoản 4 Điều 147, điểm a khoản 2 Điều 227, Điều 238, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Diệp Thị T được ly hôn anh Cao Trung S.

  2. Về con chung: Xử cho chị Diệp Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai con chung là Cao Trung N, sinh ngày 01/4/2012 và Cao Minh T1, sinh ngày 31/8/2015. Anh Cao Trung S phải cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000 đồng/tháng/con kể từ tháng 8/2024 đến khi con chung đủ 18 tuổi. Anh S có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Chị T, anh S có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung và yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung khi cần thiết.

  3. Về tài sản: Không đặt ra giải quyết.

  4. Về án phí: Chị Diệp Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chuyển số tiền chị T đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0000116 ngày 08/3/2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình sang thi hành án phí. Anh Cao Trung S phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.

  5. Về quyền kháng cáo: Chị Diệp Thị T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ. Anh Cao Trung S có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - Đương sự;
  • - UBND xã Dương Hồng Thủy;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Đỗ Thị Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 79/2024/HNGĐ-ST ngày 19/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 79/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Diệp Thị T - Cao Trung S tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger