Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN THỐT NỐT

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 79/2024/HS-ST.

Ngày: 18-9-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT - THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mộng Tuyền.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Tăng Tài Thủ

2. Bà Trần Thuý Kiên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Gia Hân – Thư ký Tòa án nhân dân quận

Thốt Nốt – Thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt – Thành phố Cần

Thơ tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thùy Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự đã thụ lý số 69/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 86/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Thị N - sinh năm 1970, tại: T - Cần Thơ; nơi đăng ký thường trú: khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ học vấn: lớp 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T (đã chết) và bà Bùi Thị N1, sinh năm 1932; Chồng: Cao Minh T1, sinh năm 1964; Con: có 02 người (lớn – sinh năm 1995, nhỏ - sinh năm 2007); tiền án, tiền sự: chưa; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 05/6/2024 cho đến ngày 23/8/2024 tại phường T, quận T, thành phố Cần Thơ; Bị cáo tại ngoại. (có mặt tại phiên tòa)

- Người bị hại: Bà Nguyễn Thị Tuyết T2 – sinh năm 1967. Địa chỉ: khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. Có mặt.

- Người làm chứng:

1/ Bà Trần Thị Mỹ H – sinh năm 1975. Địa chỉ: khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt

2/ Bà Bùi Thị Kim T3 – sinh năm 1994. Địa chỉ: khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ ngày 06/02/2024, Nguyễn Thị Tuyết T2 đến chợ T5 mua đồ. Khi đến trước cổng đình T thuộc khu vực T, phường T, quận T mua trái cây bà T2 nhìn thấy Nguyễn Thị N đang bán trái cây, nhớ lại chuyện mâu thuẫn trước đây với N, T2 nói “Trờicon nhỏ này nó giật chồng tôi nó bán ở chợ L saonay nó bán chợ này nữa”; N nghe T2 nói tức giận liền lấy nửa viên gạch ống đang chặn tấm bạc để quýt bán cầm trên tay phải đánh nhiều cái vào nón bảo hiểm của T2 đang đội trên đầu làm vỡ nón bảo hiểm và nửa viên gạch ống bị bể làm hai, bà T2 bỏ chạy vào Công an phường, N tiếp tục cầm phân nửa của nửa viên gạch ống còn lại ném trúng vào vùng lưng của bà T2. Sau đó, bà T2 trình báo Công an phường T và đi điều trị thương tích tại Bệnh viện Đ.

Sau khi nhận được tin báo, Công an phường đến hiện trường và tạm giữ nhiều mảnh vụn của viên gạch ống và 01 nón bảo hiểm màu trắng bị vỡ. (Bút lục 58, 59).

Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 117/KLTTCT-TTPYCT ngày 14/3/2024 của Trung tâm pháp Sở Y kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Thị Tuyết T2 tại thời điểm giám định là 01% (Một phần trăm), cơ chế hình thành vết thương do vật tày gây nên. (Bút lục 26, 27).

Quá trình điều tra, Nguyễn Thị NNguyễn Thị Tuyết T2 đều không có ý kiến hay khiếu nại gì đối với Kếtluận giám định thương tích nêu trên.

Về tang vật: Cơ quan điều tra tạm giữ theo quy định.

Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Thị Tuyết T2 yêu cầu bồi thường chi phí điều trị 4.000.000 đồng, mất thu nhập 6.000.000 đồng và tổn thất tinh thần 5.000.000 đồng; Nguyễn Thị N đồng ý bồi thường chi phí điều trị 4.000.000 đồng và 2.000.000 đồng tiền tổn thất tinh thần. Nguyễn Thị N đã tự nguyện nộp 3.000.000 đồng tại Cơ quan điều tra.

Tại Cáo trạng số 84/CT-VKS ngày 28/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt - thành phố Cần Thơ truy tố Nguyễn Thị N về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hìnhnăm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hìnhsự).

Tại phiên tòa.

Bị cáo N đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Ngoài ra, bị cáo không có ý kiến gì khác.

Bị hại T2 vẫn giữ nguyên ý kiến và yêu cầu bị cáo N có trách nhiệm bồi thường cho bà chi phí điều trị 4.000.000 đồng, tiền mất thu nhập 6.000.000 đồng và tiền tổn thất tinh thần 5.000.000 đồng, tổng cộng số tiền là 15.000.000 đồng. Ngoài ra, bà không ý kiến gì khác.

Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên nội dung cáo trạng truy tố, không bổ sung gì thêm, đồng thời phát biểu quan điểm luận tội phân tích hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Trên cơ sở đó đề nghị: Tuyên bị cáo Nguyễn Thị N phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

- Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 54; Điều 65 của Bộ luật Hìnhsự. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N mức án từ 04 đến 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Hình phạt bổ sung: miễn cho bị cáo do không có thu nhập ổn định.

- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hìnhcác Điều 584, 585, 586 và 590 của Bộ luật dânsự 2015.

Buộc bị cáo Nguyễn Thị N phải có trách nhiệm bồi thường cho bị hại Nguyễn Thị Tuyết T2 chi phí điều trị là 4.000.000 đồng và tiền tổn thất tinh thần là 2.000.000 đồng, tổng cộng số tiền là 6.000.000 đồng. Xác nhận trong điều tra bị cáo N đã tự nguyện nộp số tiền bồi thường 3.000.000 đồng nên bị cáo còn phải bồi thường tiếp cho bị hại T2 số tiền 3.000.000 đồng.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng ĐiềuBộ luật Hìnhsự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy nhiều mảnh vỡ của viên gạch ống và nửa viên gạch ống; 01 (một) nón bảo hiểm màu trắng bị vỡ do không còn giá trị sử dụng.

Nguyễn Thị Tuyết T2 được nhận số tiền 3.000.000 đồng mà bị cáo N đã nộp tại Chi cụchành án dân sự quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.

- Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định.

Bị cáo N không tham gia tranh luận, đồng thời bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã ăn năn hối cải về hành vi đã phạm, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Bị hại bà T2 không tham gia tranh luận.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, Quyếtđịnh tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an quận T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác đều không có người nào có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về tố tụng: Xét tại phiên tòa có những người làm chứng vắng mặt. Tuy nhiên, trong điều tra Cơ quan điều tra cũng đã thu thập được lời khai của những người làm chứng vắng mặt nên trường hợp xét thấy cần thiết Hội đồng xét xử sẽ công bố lại lời khai tại Tòa. Do đó, việc vắng mặt của những người làm chứng không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, vì vậy Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiếp tục xét xử vụ án theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự là phù hợp.

[3] Về nội dung: Xét, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và vụ án còn được chứng minh qua các tài liệu, chứng cứ khác đã được thẩm tra tại phiên tòa như các biên bản về hoạt động điều tra, biên bản ghi lời khai người bị hại, người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, kết luận giám định, v.v...Như vậy có cơ sở để xác định, vào khoảng 15 giờ ngày 06/02/2024 bị cáo Nguyễn Thị N đã có hành vi dùng nửa viên gạch ống là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho bị hại Nguyễn Thị Tuyết T2 với tỷ lệ tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 01%. Hành vi sai trái mà bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

[4] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Sức khỏe, tính mạng con người được pháp luật tôn trọng và bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm đều phải bị xử lý theo quy định của pháp luật. Xét, bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận biết rõ viên gạch ống là loại hung khí nguy hiểm, rất dễ gây ra thương tích cho người khác. Tuy nhiên, chỉ vì xuất phát từ mâu thuẫn nhỏ và phía bị hại có lời lẽ không đúng đối với bị cáo nên bị cáo đã không kiềm chế được bản thân, đã có hành vi cầm viên gạch ống đánh gây thương tích cho bị hại. Hành vi mà bị cáo thực hiện đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác, đồng thời còn gây mất trật tự, trị an tại địa phương. Do đó, cần có mức hình phạt tương xứng để giáo dục bị cáo cũng như răn đe phòng ngừa chung.

Trong sự việc này xét cũng có một phần lỗi từ phía bị hại đã chủ động có những lời lẽ không tốt xúc phạm đối với bị cáo làm cho bị cáo bức xúc dẫn đến hành động gây thương tích cho bị hại. Do đó, cũng cần nghiêm khắc rút kinh nghiệm đối với bị hại về văn hóa giao tiếp, ứng xử trong đời sống hàng ngày.

[5] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa tiền án và tiền sự.

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Khi lượng hình Hội đồng xét xử có cân nhắc đến thái độ khai báo của bị cáo trong điều tra và tại phiên toà có thành khẩn và tỏ ra ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi sự việc xảy ra bị cáo cũng đã nhận thức được hành vi sai trái của mình nên đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại số tiền 3.000.000 đồng đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ phần nào hình phạt cho bị cáo.

Từ những phân tích và nhận định nêu trên thấy rằng, hành vi phạm tội của bị cáo do bộc phát nhất thời, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hìnhhiện tại bị cáo cũng có nơi cư trú rõ ràng, hoàn cảnh gia đình bị cáo có khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương. Do vậy, nhận thấy không cần thiết bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù mà vận dụng Điều 65 Bộ luật Hìnhsự cho bị cáo được hưởng án treo với thời gian thử thách nhất định cũng đảm bảo tác dụng giáo dục đối với bị cáo.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ Luật hìnhsự; các Điều 584, 585, 586 và 590 Bộ luật Dân sự 2015, yêu cầu của bị hại, ý kiến của bị cáo và các chứng cứ thu thập trong quá trình điều tra Hội đồng xét xử nhận thấy cần buộc bị cáo bồi thường cho bị hại các khoản như sau:

  • - Chi phí điều trị thương tích: 4.000.000 đồng;
  • - Tổn thất tinh thần của bị hại: 2.000.000 đồng.

Tổng cộng các khoản là 6.000.000 đồng. Xác nhận quá trình điều tra bị cáo đã nộp được số tiền 3.000.000 đồng để bồi thường cho bị hại. Bị cáo còn phải bồi thường tiếp cho bị hại số tiền 3.000.000 đồng là phù hợp.

Các yêu cầu về bồi thường tổn thất tinh thần với số tiền chênh lệch 3.000.000 đồng và tiền mất thu nhập 6.000.000 đồng là không phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

[9] Về xử lý vật chứng: như đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự Điểm g khoản 2 Điều 260 Bộ luật Tố tụng hình sự.

* Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị N phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

- Về trách nhiệm hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 18/9/2024).

Hình phạt bổ sung: miễn cho bị cáo.

Giao bị cáo Nguyễn Thị N cho Ủy ban nhân dân phường T, quận T, thành phố Cần Thơ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm theo quy định của Luật Thihành án hình sự hai lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Toà án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước đó và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.

- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự các Điều 584, 585, 586 và 590 của Bộ luật Dân sự 2015.

Chấp nhận một phần yêu cầu của bị hại, buộc bị cáo Nguyễn Thị N phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho bị hại Nguyễn Thị Tuyết T2 số tiền 6.000.000 đồng. Xác nhận bị cáo N đã tự nguyện nộp số tiền 3.000.000 đồng để bồi thường cho bị hại. Bị cáo N còn phải bồi thường tiếp cho bị hại T2 số tiền 3.000.000đ (Ba triệu đồng).

Về thời gian và phương thức thanh toán được giải quyết tại Chi cục Thi hành án dân sự quận T theo thẩm quyền.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Nguyễn Thị Tuyết T2 được nhận số tiền 3.000.000 đồng mà bị cáo N đã nộp tạiChi cục Thi hành án dân sự quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng ĐiềuBộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy nhiều mảnh vỡ của viên gạch ống và nửa viên gạch ống; 01 (một) nón bảo hiểm màu trắng bị vỡ do không còn giá trị sử dụng.

- Về án phí:Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Thị N phải nộp số tiền 200.000₫ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và nộp số tiền 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm tại Chi Cục Thi hành án Dân sự quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.

- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015: Báo cho bị cáo, bị hại biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

- Về quyền, nghĩa vụ và thời hạn thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thián dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuậnhành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thián dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại ĐiềuLuật Thián dân sự. Đã giải thích quy định về án treo cho bị cáo.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Cần Thơ;
  • - VKSNS TP. Cần Thơ
  • - VKSND quận Thốt Nốt
  • - Công an quận Thốt Nốt;
  • - Cơ quan THA quận Thốt Nốt;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Huỳnh Thị Mộng Tuyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 79/2024/HS-ST ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT - THÀNH PHỐ CẦN THƠ về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 79/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT - THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Thị N phạm tội “Cố ý gây thương tích”. - Về trách nhiệm hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 18/9/2024). Hình phạt bổ sung: miễn cho bị cáo. Giao bị cáo Nguyễn Thị N cho Ủy ban nhân dân phường T, quận T, thành phố Cần Thơ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm theo quy định của Luật Thihành án hình sự hai lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Toà án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước đó và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger