Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LÀO CAI

TỈNH LÀO CAI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 79/2024/HS-ST

Ngày 18/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI - TỈNH LÀO CAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Hà Thị Anh;

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Kim Minh;

Bà Mai Thị Hiền;

Thư ký phiên toà: Ông Phùng Mạnh Cường - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Kim Thoa - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 66/2024/TLST- HS ngày 13 tháng 6 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2024/QĐXXST- HS ngày 02 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Văn H; Tên gọi khác: Không, sinh ngày 06/12/1988 tại huyện B, tỉnh Lào Cai. Nơi cư trú: Tổ dân phố P, thị trấn P, huyện B, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Lao động Tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn D (đã chết) và bà Đặng Thị N sinh năm 1966; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Về nhân thân: Ngày 11/11/2014 bị cáo bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”, đã được xóa tiền sự; Bị cáo chưa có vợ, con.
  2. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 22/01/2024. Hiện bị cáo bị tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh L. Có mặt tại phiên tòa.

  3. Đỗ Cao T; Tên gọi khác: Không, sinh ngày 14/8/1998 tại huyện B, tỉnh Lào Cai. Nơi cư trú: Thôn Q, xã T, huyện B, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Lao động Tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đỗ Mạnh T1 sinh năm 1954 và bà Đỗ Thị H1 sinh năm 1972; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo chưa có vợ, con.
  4. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 22/01/2024. Hiện bị cáo bị tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh L. Có mặt tại phiên tòa.

  5. Lã Mạnh H2; Tên gọi khác: Không, sinh ngày 08/02/1991 tại huyện B, tỉnh Lào Cai. Nơi cư trú: Tổ dân phố P, thị trấn P, huyện B, tỉnh Lào Cai; Nơi ở: Số A đường T, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Lao động Tự do; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lã Thanh H3 sinh năm 1960 và bà Đào Thị Nguyên s năm 1963; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Về nhân thân: Tại bản án số 70/2014/HSST ngày 25/12/2014 của Toà án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai xử phạt 02 năm 03 tháng tù giam tội “Trộm cắp tài sản”, đến nay đã được xóa án tích; Bị cáo có vợ là Đào Thu H4 sinh năm 1992; Bị cáo có 01 con sinh năm 2020.
  6. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 22/01/2024. Hiện bị cáo bị tạm giam tại Nhà tạm giữ công an huyện B, tỉnh Lào Cai. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Các bị cáo Nguyễn Văn H, Đỗ Cao T, Lã Mạnh H2 là bạn bè với nhau. Ngày 03/01/2024, bị cáo Nguyễn Văn H gọi điện cho một người tên Nguyễn An G (là người bán hàng thuê cho cửa hàng G1 tại H, V, Trung Quốc) nhờ mua hộ 08 giàn pháo loại 36 ống với giá 640 NDT tương đương 2.240.000 đồng. Sau đó Nguyễn An G đưa số pháo trên cất giữ tại cửa hàng G1 tại H, V, Trung Quốc. Ngày 04/01/2024, Nguyễn Văn H làm thủ tục xuất cảnh sang Trung Quốc đi đến cửa hàng G1 gặp Nguyễn An G để lấy pháo. Tại Trung Quốc, Nguyễn Văn H đã đốt 04 (bốn) giàn pháo loại 36 ống, số pháo còn lại là 04 (bốn) giàn pháo loại 36 ống Nguyễn Văn H vận chuyển về Việt Nam tại thị trấn P, huyện B, tỉnh Lào Cai.

Khoảng ngày 16 hoặc 17/01/2024, bị cáo Nguyễn Văn HĐỗ Cao T xuất cảnh sang Trung Quốc, đến một cửa hàng gần khu vực chợ V ở H, V, Trung Quốc mua được 02 giàn pháo loại 36 ống và 01 giàn pháo loại 49 ống, với giá 200 NDT, mục đích mang về Việt Nam để bán cho Lã Mạnh H2. Đỗ Cao T mua 03 giàn pháo loại 36 ống, mục đích mang về Việt Nam về để sử dụng. Do không mang được pháo về Việt Nam nên Nguyễn Văn HĐỗ Cao T mang số pháo trên đến cửa hàng G1 tại H, V, Trung Quốc để cất giữ.

Ngày 18/01/2024, Nguyễn Văn H đã bán 03 giàn pháo loại 36 ống với giá 3.300.000 đồng cho Lã Mạnh H2 (số pháo này Nguyễn Văn H đã đem về Việt Nam từ ngày 04/01/2024), Nguyễn Văn H được hưởng lợi số tiền 2.460.000 đồng. Sau khi mua được pháo, Lã Mạnh H2 bán số pháo trên cho người đàn ông tên N1 (nhà ở xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai) với giá 3.900.000 đồng, Lã Mạnh H2 được hưởng lợi số tiền 600.000 đồng.

Sau đó người đàn ông tên N1 tiếp tục đặt mua pháo với số lượng 03 giàn pháo loại 49 ống, 01 giàn pháo dây nên ngày 19/01/2024, Lã Mạnh H2 gọi điện, nhắn tin qua mạng xã hội Zalo cho Nguyễn Văn H đặt mua với số lượng pháo mà N1 yêu cầu. Sau đó, Nguyễn Văn HLã Mạnh H2 trực tiếp gặp nhau thống nhất Nguyễn Văn H sẽ mua 04 (bốn) giàn pháo loại 49 ống từ Trung Quốc mang về Việt Nam để giao cho Lã Mạnh H2 và sẽ thoả thuận giá sau.

Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 21/01/2024, Nguyễn Văn HĐỗ Cao T làm thủ tục xuất cảnh sang Trung Quốc và đến một cửa hàng gần khu vực chợ V ở H, V, Trung Quốc để mua pháo. Bị cáo Nguyễn Văn H mua 03 giàn pháo loại 49 ống với tổng số tiền là 240 nhân dân tệ, Đỗ Cao T mua 01 giàn pháo loại 36 ống. Nguyễn Văn HĐỗ Cao T mang số pháo trên đến cửa hàng G1 ở H, V, Trung Quốc. Bị cáo Nguyễn Văn H gặp Nguyễn An G hỏi vay 02 (hai) giàn pháo dây để mang về Việt Nam. Sau đó bị cáo Nguyễn Văn H đóng 06 giàn pháo 36 ống và 02 giàn pháo dây vào 01 thùng cát tông, còn bị cáo Đỗ Cao T đóng 04 giàn pháo loại 49 ống vào 01 thùng bìa cát tông. Nguyễn Văn H vận chuyển thùng cát tông chứa 06 (sáu) giàn pháo loại 36 ống và 02 (hai) giàn pháo dây còn bị cáo Đỗ Cao T vận chuyển thùng cát tông chứa 04 (bốn) giàn pháo loại 49 ống, còn H vận chuyển thùng cát tông chứa 06 (sáu) giàn pháo loại 36 ống và 02 (hai) giàn pháo dây. Đến khoảng 19h30 cùng ngày các bị cáo nhập cảnh từ Trung Quốc về Việt Nam tại Cửa khẩu quốc tế Lào Cai thì lực lượng Hải quan tiến hành kiểm tra Nguyễn Văn HĐỗ Cao T bỏ chạy sau đó Nguyễn Văn HĐỗ Cao T đã bị các cơ quan chức năng bắt giữ.

Tại kết luận giám định số 07/KL-GĐCN, ngày 24/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận:

Mẫu M1: 8,5 (tám phẩy năm) kilogam các khối hình hộp chữ nhật gửi giám định là pháo hoa nổ.

Mẫu M2: 10 (mười) kilogam các khối hình hộp chữ nhật gửi giám định là pháo hoa nổ.

Mẫu M3: 3,4 (ba phẩy bốn) kilogam các khối hình trụ tròn là pháo nổ.

Cáo trạng số 66/CT-VKSTPLC ngày 12/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo Nguyễn Văn HĐỗ Cao T về tội "Buôn bán hàng cấm” theo điểm k khoản 2 Điều 190 Bộ luật Hình sự, truy tố bị cáo Lã Mạnh H2 về tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 1 điều 190 BLHS.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn H, Đỗ Cao T, Lã Mạnh H2 phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

Áp dụng điểm k khoản 2 Điều 190; điều 17; Điều 58; Điều 38; Điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 05 năm 6 tháng tù đến 06 năm tù.

Áp dụng điểm k khoản 2 Điều 190; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đỗ Cao T từ 05 năm tù đến 05 năm 03 tháng tù.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; Điều 38; Điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lã Mạnh H2 từ 01 năm 03 tháng tù đến 01 năm 06 tháng tù.

Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 điều 47 Bộ luật Hình sự, Điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự đề nghị xử lý vật chứng theo quy định.

Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung vụ án. Bị cáo Đỗ Cao T khai nhận mục đích bị cáo mua pháo để sử dụng, nếu có ai hỏi thì bán kiếm lời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận tội, lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với tang vật thu giữ, kết luận giám định. Ngày 21/01/2024 các bị cáo Nguyễn Văn H, Đỗ Cao T cùng nhau thực hiện hành vi mua, đóng gói và vận chuyển hàng cấm là 21.9 kg pháo hoa nổ và pháo nổ mục đích để bán kiếm lời thì bị phát hiện, bắt giữ. Các bị cáo vận chuyển số pháo trên từ Trung Quốc về Việt Nam nên các bị cáo phải chịu tình tiết định khung là “buôn bán qua biên giới” theo điểm k khoản 2 điều 190 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Lã Mạnh H2 là người liên hệ đặt mua pháo của bị cáo Nguyễn Văn H để bán kiếm lời, vì vậy bị cáo bị truy tố theo khoản 1 điều 190 Bộ luật Hình sự.

Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật viện dẫn nêu trên là có căn cứ.

[3] Về hình phạt: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý, sản xuất kinh doanh một số loại hàng cấm, gây mất trật tự trị an trên địa bàn thành phố L. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội để cải tạo, giáo dục bị cáo, qua đó răn đe, phòng ngừa những hành vi tương tự.

Đây là vụ án đồng phạm nhưng mang tính chất giản đơn, không có sự bàn bạc, cấu kết chặt chẽ giữa các bị cáo. Bị cáo Nguyễn Văn H là người khởi xướng, trực tiếp trao đổi thoả thuận việc mua bán pháo hoa nổ với Lã Mạnh H2. Bị cáo Đỗ Cao T là người đồng ý đi cùng bị cáo H để mua hàng cấm, khi biết H mua pháo về nhằm mục đích bán kiếm lời thì cũng nhất trí, ngoài ra bị cáo T mua pháo về ngoài mục đích sử dụng, khi nào có người hỏi mua thì bán kiếm lời. Vì vậy, bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu trách nhiệm chính trong vụ án, bị cáo Đỗ Cao T phải chịu trách nhiệm đồng phạm với bị cáo Nguyễn Văn H với vai trò là người thực hành. Các bị cáo Nguyễn Văn HĐỗ Cao T đều phải chịu trách nhiệm hình sự với khối lượng 21,9 kg (hai mươi mốt phẩy chín kilogam) pháo hoa nổ và pháo nổ.

Bị cáo Lã Mạnh H2 là người đặt mua pháo hoa nổ của Nguyễn Văn H ngày 19/01/2024, mục đích để bán kiếm lời. Vì vậy bị cáo H2 phải chịu trách nhiệm với khối lượng pháo đã đặt mua là 8.5kg pháo hoa nổ.

[4] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo sau khi phạm tội đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo Đỗ Cao T có bố đẻ là ông Đỗ Mạnh T1 là người có công đang được hưởng chế độ thương, bệnh binh. Vì vậy cần áp dụng điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo, áp dụng thêm khoản 2 điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo T là phù hợp với quy định của pháp luật.

Các bị cáo có tình tiết tăng nặng: Không. Tuy nhiên bị cáo Nguyễn Văn H, Lã Mạnh H2 có nhân thân xấu. Bị cáo H có 01 lần bị xử phạm về hành vi “Trộm cắp tài sản”, đã được xóa tiền sự. Bị cáo Lã Mạnh H2 01 lần bị Tòa án xét xử về tội “Trộm cắp tài sản”, đã được xóa án tích.

[6]Về vật chứng vụ án: Cơ quan điều tra đã thu giữ tổng cộng 21.9 kg pháo hoa và pháo hoa nổ sau khi trích mẫu giám định còn lại tổng cộng là: 19,8 kg pháo hoa nổ và pháo nổ, xét thấy đây là hàng cấm lưu hành cần tịch thu tiêu huỷ theo điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự là phù hợp.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, loại Reno7 Z 5G thu giữ của Nguyễn Văn H; 01 điện thoại di động nhãn hiệu GALAXY thu giữ của Đỗ Cao T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO thu giữ của Lã Mạnh H2, xét thấy các bị cáo sử dụng điện thoại để liên lạc trao đổi mua bán hàng cấm nên cần tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước là phù hợp.

[7] Về các vấn đề khác liên quan trong vụ án:

Đối với Nguyễn An G (sinh năm 1992, nơi cư trú: Xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định). Quá trình điều tra xác định Nguyễn An G là người mua hộ Nguyễn Văn H pháo hoa nổ và cũng cho Nguyễn Văn H vay 02 (hai) giàn pháo dây để mang về Việt Nam. Hành vi của Nguyễn Văn HNguyễn An G thực hiện tại H, V, Trung Quốc, không xảy ra trên lãnh thổ của Việt Nam nên không áp dụng được các quy định của Bộ luật Hình sự của nước C nên không xử lý là phù hợp.

Đối với người đàn ông tên N1 đã đặt mua pháo hoa nổ của Lã Mạnh H2. Ngoài lời khai của bị cáo không tài liệu nào để làm rõ, do vậy không đề cập xử lý trong vụ án là phù hợp.

Đối với số pháo theo lời khai của Nguyễn Văn HLã Mạnh H2 đã thực hiện mua bán với nhau ngày 18/01/2024. Ngoài lời khai của các bị cáo không có tài liệu nào khác để chứng minh nên không xác định được khối lượng và loại pháo, nên không có căn cứ để xử lý là phù hợp.

[8] Về đề nghị của Kiểm sát viên, bị cáo:

Đối với đề nghị của Kiểm sát viên về điều luật áp dụng và hình phạt, về vật chứng là phù hợp.

Tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến đề nghị gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[9] Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn H, Đỗ Cao T, Lã Mạnh H2 phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
  2. Căn cứ vào điểm k khoản 2 Điều 190; Điều 17; Điều 38; Điều 58; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 22/01/2024.

    Căn cứ vào điểm k khoản 2 điều 190; Điều 17; điều 38; Điều 58; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đỗ Cao T 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 22/01/2024.

    Căn cứ điểm c khoản 1 điều 190; điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lã Mạnh H2 01 (Một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 22/01/2024.

  3. Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
  4. Giao cho Ban chỉ huy Quân sự thành phố L số vật chứng gồm: 01 (một) thùng các tông được niêm phong đúng quy định, bên trong chứa 04 (Bốn) khối hộp, dạng hình hộp chữ nhật, kích thước (20 x 20 x 17,5)cm có khối lượng 7,7 kilogam, bên ngoài bọc giấy in hoa văn và các chữ nước ngoài, bên ngoài có dán tờ giấy in dòng chữ “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ trong vụ việc có dấu hiệu tàng trữ hàng cấm tại Cửa khẩu quốc tế L, tổ B, phường L, thành phố L ngày 21/01/2024 (Mẫu M1)”; 01 (một) thùng các tông được niêm phong đúng quy định, bên trong chứa 06 (Sáu) khối hộp, dạng hình hộp chữ nhật, kích thước (16,5 x 16,5 x 17,5)cm có khối lượng 9,0 kilogam, bên ngoài bọc giấy in hoa văn và các chữ nước ngoài và 02 (Hai) cuộn, hình trụ tròn, đường kính 24cm, cao 6,5cm, có khối lượng 3,1 kilogam, bên ngoài bọc giấy in hoa văn và chữ nước ngoài, bên ngoài có dán tờ giấy in dòng chữ “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ trong vụ việc có dấu hiệu tàng trữ hàng cấm tại Cửa khẩu quốc tế L, tổ B, phường L, thành phố L ngày 21/01/2024 (mẫu M2 và mẫu M3)”; để xử lý vật chứng theo quy định.

    Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước:

    • - 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO, loại Reno7 Z 5G màu xanh, số Imei 1: 869447051171414; số Imei 2: 869447051171406; Kiểu máy: CPH2343, có gắn số thuê bao: 03579196655, đã qua sử dụng (Không kiểm tra tình trạng máy) (Thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn H).
    • - 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu GALAXY, loại J6, màu vàng, số Imei 1: 358465090430698; Số Imei 2: 358465090430696, kiểu máy: SM-J600G/DS, có gắn số thuê bao: 0368945233, đã qua sử dụng (Không kiểm tra tình trạng máy); thân vỏ bị trầy xước, kính màn hình bị vỡ (thu giữ của bị cáo Đỗ Cao T);
    • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, loại F11, màu xanh, số Imei 1: 869035040705218; số Imei 2: 869035040705200, có gắn số thuê bao: 0387233255, đã qua sử dụng(Không kiểm tra tình trạng máy); thân vỏ bị trầy xước, kính màn hình bị vỡ (Thu giữ của bị cáo Lã Mạnh H2);

    (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/7/2024 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lào Cai và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L)

  5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lào Cai;
  • - VKSND tỉnh Lào Cai;
  • - VKSND TP Lào Cai;
  • - Cơ quan CSĐT Công an TP Lào Cai;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Lào Cai;
  • - Nhà tạm giữ Công an huyện Bảo Yên;
  • - Sở tư pháp;
  • - Các bị cáo;
  • - Chi cục THADS TP Lào Cai ;
  • - Lưu HS; TA

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Hà Thị Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 79/2024/HS-ST ngày 18/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI - TỈNH LÀO CAI về hình sự (buôn bán hàng cấm)

  • Số bản án: 79/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Buôn bán hàng cấm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI - TỈNH LÀO CAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn H, Đỗ Cao T vận chuyển 21.9kg pháo nổ và pháo hoa nổ mục đích bán kiếm lời. Lã Mạnh H mua 8.5kg pháo nổ để bán kiếm lời
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger