|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc *** |
Bản án số: 79/2024/DS-ST
Ngày: 17 - 09 - 2024
“V/v tranh chấp hợp đồng dân sự góp
hụi và vay tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Trần Văn Tới
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Đoàn Thị Huệ
2. Ông Nguyễn Tấn Để
Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Trúc Thư, Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Ý, Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2024 và ngày 17 tháng 09 năm 2024, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 111/2024/TLST-DS ngày 25 tháng 03 năm 2024 về việc tranh chấp “Hợp đồng dân sự góp hụi và vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 125/2024/QĐXXST- DS ngày 12 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị T, sinh năm 1989, (có mặt),
Địa chỉ: ấp X, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang
- Bị đơn: Võ Văn T1, sinh năm 1986 (vắng mặt), chị Lâm Thị T2, sinh năm 1990 (vắng mặt). Địa chỉ: ấp H, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa án nguyên đơn chị Trần Thị T trình bày và yêu cầu như sau: Ngày 16/01/2022 chị T2 và anh T1 có mở dây hụi 500.000 đồng, mỗi tháng khui hụi 02 lần, gồm 45 phần. Chị tham gia 06 phần, lĩnh 02 phần và đã góp được 38 lần bằng 19.000.000 đồng thì chị T2 công bố là bể hụi, úp hụi. Chị giảm bớt 1.000.000 đ/phần, còn lại 18.000.000đ/phần x 04 phần bằng 72.000.000 đồng.
Ngày 03/05/2022 âm lịch chị T2 và anh T1 có mở dây hụi 2.000.000 đồng, mỗi tháng khui hụi 01 lần, gồm 36 phần. Chị tham gia 03 phần và đã góp được 13 lần x 03 phần bằng 78.000.000 đồng, chị giảm bớt 3.000.000 đồng, còn lại 75.000.000 đồng.
Ngày 04/8/2022 âm lịch chị T2 và anh T1 có mở dây hụi 2.000.000 đồng, mỗi tháng khui hụi 01 lần, gồm 34 phần. Chị tham gia 01 phần và đã góp được 11 lần bằng 22.000.000 đồng thì chị T2 công bố là bể hụi, úp hụi, chị giảm 1.000.000 đồng, còn lại 21.000.000 đồng.
Ngày 13/09/2022 âm lịch anh T1, chị T2 có mượn (vay) của chị 20.000.000 đồng để sửa chữa lại nhà ở đến nay chưa trả.
Tổng cộng anh T1, chị T2 nợ chị 188.000.000 đồng, trong đó nợ hụi là 168.000.000 đồng, nợ vay là 20.000.000 đồng. Sau khi úp hụi thì giữa chị và chị T2, anh T1 và chị Nguyễn Thị H thỏa thuận và thống nhất là cấn trừ nợ của chị H 55.000.000 đồng, chị H trả cho chị hàng tháng, mỗi tháng 3.000.000 đồng, đến nay chị H đã trả được hơn 20.000.000 đồng; chị T2, anh T1 còn nợ 133.000.000 đồng đến nay không trả. Chị yêu cầu chị T2, anh T1 còn nợ 133.000.000 đồng, không yêu cầu về lãi suất.
Tại phiên tòa, chị T yêu cầu chị T2, anh T1 trả cho chị 133.000.000 đồng.
* Trong suốt quá trình giải quyết vụ án bị đơn chị Lâm Thị T2 và anh Võ Văn T1 vắng mặt nên không có lời trình bày.
- Kiểm sát viên phát biểu: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và nguyên đơn thực hiện đúng và đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn thực hiện chưa đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn. Buộc chị T2 và anh T1 cùng trả nợ cho nguyên đơn 133.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bị đơn chị Lâm Thị T2 và anh Võ Văn T1 thực hiện chưa đúng theo quy định của pháp luật Tố tụng dân sự (vắng mặt), nên được xác định vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Ngày 12/07/2024 Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định tại Điều 220 của Bộ luật Tố tụng dân sự và tống đạt hợp lệ cho chị T2, anh T1 nhưng chị T2, anh T1 vắng mặt lần thứ nhất không lý do, Hội đồng xét xử Quyết định hoãn phiên tòa. Sau khi hoãn phiên tòa, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định hoãn phiên tòa cho chị T2, anh T1 nhưng chị T2, anh T1 vẫn vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị T2, anh T1 theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự và đã Tạm ngừng phiên tòa ngày 21/08/2024 để thu thập tài liệu, chứng cứ bổ sung nên hôm nay mở lại phiên tòa.
[2] Về quan hệ tranh chấp: Trên cơ sở chứng cứ có trong hồ sơ cũng như lời trình bày và yêu cầu của các nguyên đơn. Hội đồng xét xử xác định mối quan hệ pháp luật là tranh chấp hợp đồng dân sự góp hụi và vay tài sản.
[3] Về nội dung tranh chấp: Theo nội dung đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện của các nguyên đơn, tài liệu, chứng cứ Tòa án thu thập được Hội đồng xét xử thấy rằng: Vào năm 2022 chị T2, anh T1 có mở nhiều dây hụi, có lập danh sách của những người tham gia góp hụi. Trong đó, chị T có tên trong danh sách người tham gia góp hụi. Danh sách hụi có ghi tên chủ hụi là T2 và tên T1. Việc chị T2, anh T1 không tham gia giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử cho là chị T2 và anh T1 từ bỏ việc tự bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của anh chị, đồng thời là mặc nhiên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do vậy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 471 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 27, khoản 2 Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 23, Điều 25 Nghị định số: 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về hụi, họ, biêu, phường, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc chị Lâm Thị T2, anh Võ Văn T1 trả cho chị chị Trần Thị T 133.000.000 đồng tiền hụi và tiền nợ vay gốc
[4] Về lãi suất: Chị Trần Thị T không yêu cầu anh T1, chị T2 trả lãi suất nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí: Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án. Buộc chị Lâm Thị T2 và anh Võ Văn T1 chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 6.650.000 đồng (133.000.000₫ x 5%) chị Trần Thị T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả lại 3.325.000 đồng tiền tạm ứng án phí sơ thẩm cho chị Trần Thị T, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0005206 ngày 21/03/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 227, Điều 235, Điều 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự.
Áp dụng Điều 463, Điều 466, Điều 471 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 27, khoản 2 Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 23, Điều 25 Nghị định số: 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về hụi, họ, biêu, phường.
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Buộc chị Lâm Thị T2, anh Võ Văn T1 trả cho chị Trần Thị T 133.000.000 đồng tiền hụi và tiền nợ vay gốc
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.
Về án phí: Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 26 nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án. Buộc chị Lâm Thị T2 và anh Võ Văn T1 chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 6.650.000 đồng. Chị Trần Thị T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả lại 3.325.000 đồng tiền tạm ứng án phí sơ thẩm cho chị Trần Thị T, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0005206 ngày 21/03/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh
Về quyền kháng cáo: Án xử công khai, chị Trần Thị T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; chị Lâm Thị T2, anh Võ Văn T1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa Trần Văn Tới |
Bản án số 79/2024/DS-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp hợp đồng dân sự góp hụi và vay tài sản
- Số bản án: 79/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dân sự góp hụi và vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
